Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 303/2023/HS-ST

Ngày 27-10-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Nga

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Sĩ Tiến

Bà Ngô Thị Thúy Hảo

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Quỳnh – Thư ký của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Việt H - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 10 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 286/2023/HS-ST ngày 03 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 303/2023/QĐST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2023, đối với bị cáo:

Bùi Thị Kim A, sinh năm 1997 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 542/44/15 đường T, phường E, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Chỗ ở: 187/56 đường L, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nữ; Cha: Bùi Đức T, sinh năm 1971; Mẹ: Nguyễn Thị Hải V, sinh năm 1974;

Tiền án:

Ngày 30/5/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 07 năm tù, về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999 (Bản án hình sự sơ thẩm số 72/2018/HSST ngày 30/5/2018), ngày 27/9/2022 đã chấp hành xong hình phạt tù và án phí HSST. Lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm;

Tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giam từ ngày 22 tháng 6 năm 2023. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ 50 phút ngày 22/6/2023, tại khu vực trước nhà số C đường N, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Công an phường T, thành phố V bắt quả tang Bùi Thị Kim A đang tàng trữ trái phép chất ma túy (Methamphetamine) đồng thời thu giữ vật chứng liên quan đến vụ án.

Sau khi lập hồ sơ ban đầu, Công an phường T, thành phố V đã chuyển hồ sơ, đối tượng cùng vật chứng đã thu giữ đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V để điều tra theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra, Bùi Thị Kim A khai nhận: Bản thân mình là người sử dụng ma túy. Do nhu cầu mua ma túy để sử dụng nên khoảng 12 giờ 00 phút ngày 22/6/2023, Bùi Thị Kim A khi đang ở nhà nghỉ “Đ" ở số A đường C, Phường A, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu gọi điện thoại di động cho một người đàn ông tên B (không rõ nhân thân lai lịch) để mua 01 gói ma túy đá với giá 1.000.000 đồng. Khi nghe vậy, người tên là B đồng ý và mang số ma túy trên đến nhà nghỉ “Đức Lộc” giao cho Kim A và nhận số tiền như thỏa thuận. Sau khi mua được ma túy, tại nhà nghỉ "", Kim A đã sử dụng một phần trong số ma túy trên, số ma túy còn lại thì cất giữ. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Kim A điện thoại di động cho Nguyễn Hoài Lê A1 (sinh năm 1998; chỗ ở: B đường H, phường R, TP V) đến để nhờ chở Kim A xuống nhà bạn của mình ở khu vực đường N, phường T, TP V chơi. Lê A1 đồng ý và điều khiển xe mô tô biển số 49T4 – 2681 đến chở Kim A đến trước địa chỉ số C đường N, phường T, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu thì bị lực lượng tuần tra của Công an phường T kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang Kim A đang cất giấu 01 gói ma túy đá trong lòng bàn tay trái của mình.

Lời khai của Bùi Thị Kim A phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được, phù hợp với lời khai của người chứng kiến là anh Nguyễn Hoài Lê A1.

Tại Kết luận giám định số 314/KL-KTHS-MT ngày 30/6/2023 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh B kết luận:

  • - Mẫu A1 thu giữ của Bùi Thị Km A2 gửi đến giám định có khối lượng 2,1641 gam, là chất ma túy, loại Methamphetamine;
  • H1 lại đối tượng giám định: 1,7615 gam mẫu vật còn lại sau giám định.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

  • + Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ vật chứng và tài sản gồm:

Thu giữ của Bùi Thị Kim A:

  • - 01 gói nylon hàn kín bên trong có chứa chất kết tinh không màu – trong suốt, qua giám định có khối lượng 2,1641 gam, là chất ma túy, loại Methamphetamine. (Mẫu A1);
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus có số Imei: 356569082946702.

Thu giữ của Nguyễn Hoài Lê A1: 01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu xanh, biển kiểm soát 49T4-2681.

Về xử lý vật chứng:

Qua xác minh xe mô tô biển số 49T4-2681, chủ sở hữu của anh Vũ Hoàng Vinh H2, do không có nhu cầu sử dụng nữa nên anh H2 đã bán xe này cho ông Nguyễn Minh H3 (là anh rể của H2). Ngày 22/6/2023, Nguyễn Hoài Lê A1 (là con trai của anh H3) đã tự lấy xe chở Bùi Thị Kim A đi chơi. Cơ quan điều tra đã trả lại tài sản trên cho ông Nguyễn Minh H3.

Tất cả số vật chứng và tài sản còn lại như trên được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý, chờ xử lý.

Bản cáo trạng số 283/CT-VKSTPVT ngày 02/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố Bùi Thị Kim A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Bùi Thị Kim A mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo;

  • - Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy là tang vật trong vụ án; Tịch thu S1 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus có số Imei: 356569082946702.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát, công nhận Viện kiểm sát truy tố đúng tội danh và không có ý kiến gì tự bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần mức án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Đối chiếu lời khai nhận của bị cáo và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án là hoàn toàn phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Khoảng 20 giờ 50 phút ngày 22/6/2023, tại khu vực trước nhà số C đường N, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Công an phường T, thành phố V bắt quả tang Bùi Thị Kim A đang tàng trữ trái phép 2,1641 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng cho bản thân.

Như vậy, hành vi bị cáo thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo tội danh, điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy được pháp luật hình sự bảo vệ; là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tệ nạn xã hội và tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành có đầy đủ năng lực hành vi, là người sử dụng ma túy nên biết việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo nhằm giáo dục cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

  • - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tiền án: Ngày 30/5/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 07 năm tù, về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999, ngày 27/9/2022 đã chấp hành xong hình phạt của Bản án, nhưng chưa được xóa án tích thì lại tiếp tục phạm tội do lỗi cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
  • - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự xem xét giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • - Số ma túy là tang vật trong vụ án còn lại sau giám định (chứa trong 01 phong bì màu trắng, có hình dấu của Công an phường T, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) là chất nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus có số Imei: 356569082946702, bị cáo sử dụng là phương tiện phạm tội nên tịch thu sung công quỹ nhà nước.

[6] Đối với người đàn ông tên B là người bán ma túy cho Kim A (không rõ nhân thân, lai lịch), đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý theo quy định pháp luật.

[7] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bùi Thị Kim A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
  2. Căn cứ: Điểm c Khoản 1 Điều 249; điểm s Khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự:
    • - Xử phạt: Bùi Thị Kim A: 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22 tháng 6 năm 2023.
  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu tiêu hủy: Số ma túy còn lại sau giám định (chứa trong 01 phong bì màu trắng, có hình dấu của Công an phường T, TP V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu).
    • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus có số Imei: 356569082946702.

    Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 12/BB-CCTHADS ngày 11/10/2023

  4. Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án, để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (PV06; PC10);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND thành phố Vũng Tàu;
  • - Công an thành phố Vũng Tàu;
  • - Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu;
  • - Nhà tạm giữ Công an thành phố Vũng Tàu;
  • - Ủy ban nhân dân cấp xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Thu Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 303/2023/HS-ST ngày 27/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tàng trữ trái phép chất ma tuý (hình sự)

  • Số bản án: 303/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị Kim Anh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger