|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 303/2024/HSST
Ngày 30/10/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Mai Thị H
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn C
Ông Đỗ Đắc T
Thư ký phiên toà: Ông Trần H1 - Cán bộ Toà án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy D - Kiểm sát viên.
Ngày 30/10/2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 261/TLST-HS ngày 15/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 286/QĐXXST-HS ngày 17/10/2024 đối với các bị cáo:
-
Sô Ro H2, sinh năm 1994; HKTT: Ấp G, xã P, huyện C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Chăm; Tôn giáo: Hồi giáo; Giới tính: Nam; Con ông: Math Du S (đã chết) và bà: R (đã chết); Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con út; Bị cáo có vợ là Ha My P (sinh năm 1997). Có 03 con: con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2023. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam ngày 08/08/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội. SG: 419 E2/17.
-
Nguyễn Việt H3, sinh năm 1994; HKTT: Số nhà 88 đường K, TDP Số 6, phường N, quận L, TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông: Nguyễn Văn H4 - đã chết và bà Phạm Thị Bích H5 - Sinh năm 1958; Gia đình có 02 anh em, Bị cáo là con lớn; Bị cáo có vợ là Nguyễn Vân A (sinh năm 1994), có 02 con: con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 25/09/2020, Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm xử 22 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy, ra trại ngày 07/02/2022 (đã được xóa án tích).
Bị cáo bị tạm giam ngày 02/05/2024 tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội. SG: 2358E2/6.
-
Nguyễn Văn V, sinh năm 1993; HKTT: Khu 2, Thị trấn G1, huyện G2, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông: Nguyễn Minh S - 1968 và bà Hoàng Thị V1 - Sinh năm 1972; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị H6 (sinh năm 1994), có 01 con sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam ngày 02/05/2024, tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội. SG: 2356E2/19.
-
Trần Hữu L, sinh năm 1996; HKTT: Thôn T, xã T1, huyện T2, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông: Trần Văn B - 1957 và bà Đặng Thị T3 - Sinh năm 1963; Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Bị cáo chưa có vợ con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam ngày 02/05/2024, tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố Hà Nội. SG: 2357E2/22.
Các bị cáo đều có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 30 phút ngày 02/5/2024, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại phòng 404, số nhà XX, ngõ 20 đường Đ, phường Đ2, quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội có các đối tượng nam giới tụ tập, biểu hiện nghi vấn hoạt động tội phạm. Tổ công tác đội CSĐTTP về ma túy, công an quận Nam Từ Liêm tiến hành kiểm tra, phát hiện trong phòng của Nguyễn Văn V, Nguyễn Việt H3, và Trần Hữu L có 30 hộp bìa các tông bên trong đều có các túi nilon chứa thảo mộc khô, 12 hộp nhựa bên trong đều có các túi nilon chứa thảo mộc khô màu nâu- xanh, 05 gói nilong màu vàng bên trong đều chứa thảo mộc khô, 01 túi giấy màu vàng và 01 túi nilong màu bạc đều chứa thảo mộc khô màu nâu- xanh. Tại chỗ các đối tượng V, H3 và L khai nhận toàn bộ thảo mộc khô màu nâu- xanh nói trên là ma túy loại cần sa, đang cất giữ, đóng gói để bán cho khách mua.
Tổ công tác tiến hành lập biên bản, tạm giữ, niêm phong tang vật đồng thời đưa người cùng tang vật về trụ sở để xác minh làm rõ.
Vật chứng thu giữ:
- + Thu giữ Nguyễn Văn V:
- 30 hộp bìa các tông bên trong đều có các túi nilon chứa thảo mộc khô, 12 hộp nhựa bên trong đều có các túi nilon chứa thảo mộc khô màu nâu- xanh, 05 gói nilong màu vàng bên trong đều chứa thảo mộc khô, 01 túi giấy màu vàng và 01 túi nilong màu bạc đều chứa thảo mộc khô màu nâu- xanh.
- 01 cân điện tử, 01 máy hút chân không (đề chữ ALPHA), 01 máy in nhiệt màu trắng (đề chữ SHOPTIDA), 01 máy hàn nhiệt màu xanh, 01 máy khò màu đen (đề chữ Hot Air Gun), 01 màn hình máy tính (đề chữ msi), 01 cây máy tính (đề chữ kenoo)
- 01 điện thoại Iphone 12 mini màu đen, gắn sim điện thoại.
- + Thu giữ của Trần Hữu L
- 01 điện thoại Iphone XS màu vàng, gắn sim điện thoại.
- + Thu giữ của Nguyễn Việt H3
- 01 điện thoại Iphone XS, bị vỡ mặt sau, gắn sim điện thoại.
Quá trình điều tra xác định:
Các bị cáo L, V và H3 là bạn bè xã hội, quen biết nhau đã lâu. Vào khoảng tháng 8/2023 V, H3 và L thuê phòng 404, số nhà xx, ngõ 20 đường Đ phường Đ2, quận Nam Từ Liêm để kinh doanh các mặt hàng thuốc lá điện tử và thực phẩm chức năng. Thời gian sau đó do việc làm ăn không thuận lợi, cả ba thống nhất mua ma túy cần sa về bán kiếm lời. Ngày 25/02/2024 V sử dụng tài khoản Telegram “Cùn Store” nhắn tin đến tài khoản “@Namnui” (số điện thoại 0707.777.xxx) của bị cáo Sô Ro H2 hỏi mua ma túy cần sa. Cả hai thống nhất việc mua, bán 02 kg cần sa với giá tiền là 24.000.000 đồng. V sử dụng tài khoản ngân hàng L1, số tài khoản 052112110001 chuyển 12.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng V1, số tài khoản 0471000331392 mang tên Ha My P (SN: 08/01/1997, HKTT: Ấp G, xã P, TX C, tỉnh An Giang- vợ Sô Ro H2). Do tài khoản không còn tiền nên V hẹn ngày hôm sau sẽ chuyển nốt số tiền còn lại. Sáng ngày 26/02/2024 V bảo H3 chuyển tiền cho Sô Ro H2 để mua ma túy nên H3 sử dụng tài khoản ngân hàng S, số tài khoản 000009528817 chuyển tiếp 12.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng trên. Sô Ro H2 nói với vợ là có bạn muốn rút đổi tiền mặt nên HA MY P đã đưa cho Sô Ro H2 số tiền này. Sau đó Sô Ro H2 liên hệ qua telegram với một người Campuchia (không rõ nhân thân lai lịch) hỏi mua 25.000.000 đồng ma túy cần sa. Người bán hướng dẫn Sô Ro H2 đến nhận ma túy được để ở ven đường quốc lộ thuộc huyện A, tỉnh An Giang (Sô Ro H2 không nhớ chính xác vị trí). Sô Ro H2 đến nhận được 03 túi nilon chứa cần sa rồi đặt tiền lại cho người bán. Ngày 26/02/2024, do sợ gửi hết hàng không an toàn nên Sô Ro H2 gửi hàng làm hai lần, So Ro H2 đóng một túi cần sa vào hộp bìa cacton rồi viết phiếu gửi theo thông tin mà V cung cấp là: Người nhận: Nguyễn Thị Ngọc M – địa chỉ 14/20 M1, D, Cầu Giấy, Hà Nội. Số điện thoại nhận hàng là 0345141317. Đến ngày 01/3/2024 Sô Ro H2 tiếp tục cho một túi cần sa đóng vào trong hộp giấy và gửi cho V theo địa chỉ nêu trên. Cả hai lần Sô Ro H2 đều điền tên người gửi là “bé bự shop”, số điện thoại gửi hàng là 0376.430.xxx. Khi các gói hàng đến nơi, V thuê xe ôm đến nhận và mang về đầu ngõ 20 đường Đ để L xuống lấy mang lên phòng. Ma túy được V, H3 và L chia nhỏ vào các hộp giấy, túi nilon rồi đăng thông tin lên mạng xã hội Telegram để giao bán. Ngày 02/5/2024, tổ công tác Đội CSĐTTP về ma túy, công an quận Nam Từ Liêm tiến hành kiểm tra phòng 404, số nhà 41, ngõ 20 đường Đ, phường Đ2, quận Nam Từ Liêm đã phát hiện và thu giữ như đã nêu trên.
Tại Kết luận giám định số 3268/KL-KTHS ngày 11/05/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, xác định:
- Thảo mộc khô màu xanh nâu bên trong 05 túi ni lông (để trong 04 túi nilong màu vàng và 01 túi nilong màu bạc, để trong 05 hộp giấy bìa các tông) đều là Cần sa, tổng khối lượng: 15,230 gam.
- Thảo mộc khô màu xanh- nâu bên trong 06 hộp nhựa và 40 túi nilong (để trong 01 hộp nhựa) đều là Cần sa, tổng khối lượng: 1061,600 gam.
- Thảo mộc khô màu xanh- nâu bên trong 23 túi nilong (để trong 23 hộp giấy bìa các tông) đều là Cần sa, tổng khối lượng: 83,810 gam.
- Thảo mộc khô màu xanh- nâu bên trong 01 túi nilong màu bạc, 01 túi giấy màu vàng và 01 túi nlong màu trắng đều là Cần sa, tổng khối lượng: 502,880 gam.
- Thảo mộc khô màu xanh- nâu bên trong 05 túi nilong (để trong 05 túi nilong màu vàng) đều là Cần sa, tổng khối lượng: 14,230 gam.
- Thảo mộc khô màu xanh- nâu bên trong 05 hộp nhựa đều là Cần sa, tổng khối lượng: 928,250 gam.
- Thảo mộc khô màu xanh - nâu bên trong 01 túi nilong và 01 túi nilong màu vàng (để trong 02 hộp giấy giấy bìa các tông) đều là Cần sa, tổng khối lượng: 21,520 gam.
- 01 cân điện tử có dính Cần sa.
Tổng khối lượng ma túy Cần sa là 2.627,493 gam.
Điều tra mở rộng vụ án, Cơ quan CSĐT đã làm rõ và triệu tập đối tượng Sô Ro H2 là người đã bán số ma túy trên cho V, H, L. Ngày 07/08/2024, cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Sô Ro H2 tại Ấp G, xã P, TX C, tỉnh An Giang, Cơ quan điều tra đã thu giữ:
- 02 túi nilon chứa thảo mộc khô nghi là ma túy cần sa.
- 01 điện thoại hiệu iphone 13 Promax gắn sim điện thoại, 01 điện thoại hiệu Samsung Galaxy A51 gắn sim điện thoại, 01 phiếu giao hàng.
Tại Kết luận giám định số 5893/KL-KTHS ngày 17/08/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, xác định: “Thảo mộc khô bên trong 02 túi nilong đều là Cần sa, tổng khối lượng: 297,650 gam.
Về nguồn gốc số ma túy: Sô Ro H2 khai liên hệ mua của một người Campuchia qua Telegram, sau khi mua được ma túy thì người bán đã xóa toàn bộ tin nhắn nên không biết biết nhân thân cụ thể, do vậy Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ.
Đối với Ha My P: Quá trình điều tra xác định, Ha My P không biết việc Sô Ro H2 bán trái phép chất ma túy, Sô Ro H2 cũng không nói cho Ha My P biết việc mua bán ma túy. Do vậy Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự đối với Ha My P trong vụ án này.
Đối với số tài khoản ngân hàng S 0000009528817, là số tài khoản H3 sử dụng để chuyển tiền mua ma túy cho Sô Ro H, qua xác minh chủ tài khoản là anh Chu Hải N (SN 1998, HKTT: Phường T, thành phố G1, tỉnh Hà Giang). Quá trình điều tra xác định, anh H có tạo một tài khoản ngân hàng online tại ngân hàng S cho người khác, thống nhất tiền công là 500.000 đồng. Sau đó người này đưa cho anh một sim điện thoại (anh không nhớ sim gì) để nhận mã OTP và anh sử dụng CCCD của mình tạo lập số tài khoản ngân hàng S 0000009528817 online và giao cho người này mật khẩu. Anh chỉ liên hệ với người này qua mang telegram nên anh không biết nhân thân lai lịch cụ thể, sau đó anh không liên lạc với người đó nữa nên không biết ai đang quản lý sử dụng. Vì vậy cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý đối với Chu Hải N về việc đồng phạm hành vi mua bán trái phép chất ma túy với H3.
Đối với số điện thoại số điện thoại 0707.777.xxx, số điện thoại mà Sô Ro H2 đã sử dụng để lập tài khoản Telegram “@NamNui” đã liên lạc với Nguyễn Văn V, qua xác minh chủ số điện thoại là Lại Hữu Phi H7 (SN 1998, HKTT: phường Nguyễn Trãi, thành phố Hà Giang). Quá trình điều tra xác định, anh H3 không đăng ký số điện thoại trên, không biết ai đang sử dụng số này và không quen biết với ai là Sô Ro H2 nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý.
Đối với tài khoản ngân hàng L1, số tài khoản 052112110001, số tài khoản V đã sử dụng để chuyển khoản tiền mua bán ma túy, qua xác minh chủ tài khoản là Phạm Duy A1 (SN 1998, HKTT: TTNT X, X, tỉnh Hà Giang). Quá trình điều tra xác định, khoảng năm 2023, Duy A1 thông qua mạng xã hội Telgram có một người trên mạng nhờ anh đăng ký một tài khoản online của ngân hàng L1 với giá 500.000 đồng nên đồng ý. Sau đó anh sử dụng CCCD của mình đăng ký số tài khoản ngân hàng L1 trên và đưa lại mật khẩu cho người này. Do đã lâu nên An không biết nhân lai lịch của người này, không sử dụng số tài khoản trên nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với Duy A1 về hành vi đồng phạm mua bán ma túy với V.
Tại cơ quan điều tra, Sô Ro H2, Nguyễn Văn V, Nguyễn Việt H3, Trần Hữu L khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu, lời khai của bị cáo phù hợp với nhau phù hợp với người làm chứng, biên bản phạm tội quả tang và vật chứng đã thu giữ.
Tại bản cáo trạng số 256/CT-VKS ngày 10/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã truy tố Sô Ro H2, Nguyễn Việt H3, Nguyễn Văn V, Trần Hữu L về tội: Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đại điện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo theo nội dung bản cáo trạng, sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Sô Ro H2 từ 36 đến 39 tháng;
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Việt H3 từ 29 đến 32 tháng;
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V từ 27 đến 30 tháng;
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Trần Hữu L từ 27 đến 30 tháng.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 89, 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 thùng giấy bìa các tông được niêm phong còn nguyên vẹn tại các mép dán có chữ ký niêm phong của Trần Hữu L và giám định viên;
- 01 thùng giấy bìa các tông được niêm phong còn nguyên vẹn tại các mép dán có chữ ký niêm phong của Nguyễn Văn V, Nguyễn Việt H3, Trần Hữu L và giám định viên (ký hiệu M1);
- 01 thùng giấy bìa các tông được niêm phong còn nguyên vẹn tại các mép dán có chữ ký niêm phong của Nguyễn Văn V, Nguyễn Việt H3, Trần Hữu L và giám định viên (ký hiệu M2);
- 01 thùng giấy bìa các tông được niêm phong còn nguyên vẹn tại các mép dán có chữ ký niêm phong của Nguyễn Văn V, Nguyễn Việt H3, Trần Hữu L và giám định viên (ký hiệu M3);
- 01 phong bì niêm phong dán kín có chữ ký niêm phong của Sô Ro H2 và giám định viên;
- 01 Phiếu giao hàng.
Tịch thu xung công quỹ Nhà nước:
- 01 máy hút chân không (đề chữ ALPHA), 01 máy in nhiệt màu trắng (đề chữ SHOPTIDA), 01 máy hàn nhiệt màu xanh, 01 máy khò màu đen (đề chữ Hot Air Gun).
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 mini gắn sim số.
- (Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, tình trạng của máy)
- 01 điện thoại hiệu Nokia màu đen gắn sim.
- (Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, tình trạng của máy)
- 01 điện thoại hiệu Iphone xs màu trắng gắn sim.
- (Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, tình trạng của máy)
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS màu vàng gắn sim
- (Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, tình trạng của máy)
- 01 điện thoại hiệu iphone 13 Promax gắn sim.
- (Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, tình trạng của máy)
Trả lại bị cáo So Ro H2:
- 01 điện thoại hiệu Samsung Galaxy A51 gắn sim.
- (Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, tình trạng của máy)
Trả lại bị cáo Nguyễn Văn V:
- 01 màn hình máy tính (đề chữ msi), 01 cây máy tính (đề chữ kenoo)
Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 11 ngày 14/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Nam Từ Liêm và Chi cục thi hành án quận Nam Từ Liêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận Nam Từ Liêm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã khai nhận: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 02/5/2024, tại phòng 404, số nhà XX, ngõ 20 đường Đ, phường Đ2, quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội, Nguyễn Văn V, Nguyễn Việt H3, Trần Hữu L có hành vi mua trái phép 2.627,493 gam ma túy Cần sa của Sô Ro H2 với mục đích để bán thì bị tổ công tác Đội CSĐTTP về ma túy, công an quận Nam Từ Liêm tiến hành phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng.
Mở rộng quá trình điều tra, Sô Ro H2 còn tàng trữ 297, 650 gam Cần Sa tại nhà ở Ấp G, xã P, TX C, tỉnh An Giang với mục đích để bán. Như vậy tổng khối lượng ma túy cần sa Sô Ro H2 phải chịu trách nhiệm là: 2.925,143 gam.
[3] Hành vi của các bị cáo Sô Ro H2, Nguyễn Việt H3, Nguyễn Văn V, Trần Hữu L đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố các bị cáo là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền kiểm soát các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an, di hại cho thế hệ tương lai, là một trong những nguyên nhân gây bệnh AIDS và là mầm mống của các loại tội phạm khác. Nhà nước ta đã nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy, nhưng vì muốn bán kiếm lời nên bị cáo cố tình thực hiện hành vi đến cùng. Các bị cáo nhận thức rõ việc mua bán và vận chuyển chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng các bị cáo vẫn thực hiện với tính chất nguy hiểm cao. Vì vậy, cần xét xử nghiêm minh cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm đảm bảo tính giáo dục đối với bị cáo và làm bài học ngăn ngừa chung.
Vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn. Xét vai trò của từng bị cáo nhận thấy:
Bị cáo Sô Ro H2 do hám lời đã nảy sinh bán ma túy với mục đích để kiếm lời.
Các bị cáo Nguyễn Việt H3, Nguyễn Văn V và Trần Hữu L là bạn bè xã hội, quen biết nhau đã lâu, do cùng nhau kinh doanh không thuận lợi nên cả ba đã rủ nhau mua ma túy cần sa về bán kiếm lời. Bị cáo H3 ngày 25/09/2020 đã bị Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm xử phạt 22 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích), nhưng bị cáo không xem đó là bài học mà tiếp tục phạm tội.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét: Tại phiên tòa, các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, các bị cáo So Rô H2, Nguyễn Văn V, Trần Hữu L nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự nên áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Trong quá trình điều tra các bị cáo H3, V, L đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án, đã được cơ quan điều tra ghi nhận trong Bản kết luận điều tra, nên áp dụng điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo H3, V, L.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có điều kiện thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 89, 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 thùng giấy bìa các tông được niêm phong còn nguyên vẹn tại các mép dán có chữ ký niêm phong của Trần Hữu L và giám định viên;
- 01 thùng giấy bìa các tông được niêm phong còn nguyên vẹn tại các mép dán có chữ ký niêm phong của Nguyễn Văn V, Nguyễn Việt H3, Trần Hữu L và giám định viên (ký hiệu M1);
- 01 thùng giấy bìa các tông được niêm phong còn nguyên vẹn tại các mép dán có chữ ký niêm phong của Nguyễn Văn V, Nguyễn Việt H3, Trần Hữu L và giám định viên (ký hiệu M2);
- 01 thùng giấy bìa các tông được niêm phong còn nguyên vẹn tại các mép dán có chữ ký niêm phong của Nguyễn Văn V, Nguyễn Việt H3, Trần Hữu L và giám định viên (ký hiệu M3);
- 01 phong bì niêm phong dán kín có chữ ký niêm phong của Sô Ro H2 và giám định viên;
- 01 Phiếu giao hàng.
Tịch thu xung công quỹ Nhà nước:
- 01 máy hút chân không (đề chữ ALPHA), 01 máy in nhiệt màu trắng (đề chữ SHOPTIDA), 01 máy hàn nhiệt màu xanh, 01 máy khò màu đen (đề chữ Hot Air Gun).
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 mini gắn sim số.
- (Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, tình trạng của máy)
- 01 điện thoại hiệu Nokia màu đen gắn sim.
- (Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, tình trạng của máy)
- 01 điện thoại hiệu Iphone xs màu trắng gắn sim.
- (Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, tình trạng của máy)
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS màu vàng gắn sim
- (Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, tình trạng của máy)
- 01 điện thoại hiệu iphone 13 Promax gắn sim.
- (Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, tình trạng của máy)
Trả lại bị cáo So Ro H2:
- 01 điện thoại hiệu Samsung Galaxy A51 gắn sim.
- (Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, tình trạng của máy)
Trả lại bị cáo Nguyễn Văn V:
- 01 màn hình máy tính (đề chữ msi), 01 cây máy tính (đề chữ kenoo)
Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 11 ngày 14/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Nam Từ Liêm và Chi cục thi hành án quận Nam Từ Liêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận Nam Từ Liêm, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã khai nhận: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 02/5/2024, tại phòng 404, số nhà XX, ngõ 20 đường Đ, phường Đ2, quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội, Nguyễn Văn V, Nguyễn Việt H3, Trần Hữu L có hành vi mua trái phép 2.627,493 gam ma túy Cần sa của Sô Ro H2 với mục đích để bán thì bị tổ công tác Đội CSĐTTP về ma túy, công an quận Nam Từ Liêm tiến hành phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng.
Mở rộng quá trình điều tra, Sô Ro H2 còn tàng trữ 297, 650 gam Cần Sa tại nhà ở Ấp G, xã P, TX C, tỉnh An Giang với mục đích để bán. Như vậy tổng khối lượng ma túy cần sa Sô Ro H2 phải chịu trách nhiệm là: 2.925,143 gam.
[3] Hành vi của các bị cáo Sô Ro H2, Nguyễn Việt H3, Nguyễn Văn V, Trần Hữu L đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Như vậy, Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm truy tố các bị cáo là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền kiểm soát các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an, di hại cho thế hệ tương lai, là một trong những nguyên nhân gây bệnh AIDS và là mầm mống của các loại tội phạm khác. Nhà nước ta đã nghiêm cấm mọi hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy, nhưng vì muốn bán kiếm lời nên bị cáo cố tình thực hiện hành vi đến cùng. Các bị cáo nhận thức rõ việc mua bán và vận chuyển chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng các bị cáo vẫn thực hiện với tính chất nguy hiểm cao. Vì vậy, cần xét xử nghiêm minh cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm đảm bảo tính giáo dục đối với bị cáo và làm bài học ngăn ngừa chung.
Vụ án mang tính chất đồng phạm giản đơn. Xét vai trò của từng bị cáo nhận thấy:
Bị cáo Sô Ro H2 do hám lời đã nảy sinh bán ma túy với mục đích để kiếm lời.
Các bị cáo Nguyễn Việt H3, Nguyễn Văn V và Trần Hữu L là bạn bè xã hội, quen biết nhau đã lâu, do cùng nhau kinh doanh không thuận lợi nên cả ba đã rủ nhau mua ma túy cần sa về bán kiếm lời. Bị cáo H3 ngày 25/09/2020 đã bị Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm xử phạt 22 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy (đã được xóa án tích), nhưng bị cáo không xem đó là bài học mà tiếp tục phạm tội.
Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét: Tại phiên tòa, các bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, các bị cáo So Rô H2, Nguyễn Văn V, Trần Hữu L nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự nên áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Trong quá trình điều tra các bị cáo H3, V, L đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong quá trình giải quyết vụ án, đã được cơ quan điều tra ghi nhận trong Bản kết luận điều tra, nên áp dụng điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo H3, V, L.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có điều kiện thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
[6] Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 89, 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 thùng giấy bìa các tông được niêm phong còn nguyên vẹn tại các mép dán có chữ ký niêm phong của Trần Hữu L và giám định viên;
- 01 thùng giấy bìa các tông được niêm phong còn nguyên vẹn tại các mép dán có chữ ký niêm phong của Nguyễn Văn V, Nguyễn Việt H3, Trần Hữu L và giám định viên (ký hiệu M1);
- 01 thùng giấy bìa các tông được niêm phong còn nguyên vẹn tại các mép dán có chữ ký niêm phong của Nguyễn Văn V, Nguyễn Việt H3, Trần Hữu L và giám định viên (ký hiệu M2);
- 01 thùng giấy bìa các tông được niêm phong còn nguyên vẹn tại các mép dán có chữ ký niêm phong của Nguyễn Văn V, Nguyễn Việt H3, Trần Hữu L và giám định viên (ký hiệu M3);
- 01 phong bì niêm phong dán kín có chữ ký niêm phong của Sô Ro H2 và giám định viên;
- 01 Phiếu giao hàng.
Tịch thu xung công quỹ Nhà nước:
- 01 máy hút chân không (đề chữ ALPHA), 01 máy in nhiệt màu trắng (đề chữ SHOPTIDA), 01 máy hàn nhiệt màu xanh, 01 máy khò màu đen (đề chữ Hot Air Gun).
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 mini gắn sim số.
- (Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, tình trạng của máy)
- 01 điện thoại hiệu Nokia màu đen gắn sim.
- (Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, tình trạng của máy)
- 01 điện thoại hiệu Iphone xs màu trắng gắn sim.
- (Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, tình trạng của máy)
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS màu vàng gắn sim
- (Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, tình trạng của máy)
- 01 điện thoại hiệu iphone 13 Promax gắn sim.
- (Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, tình trạng của máy)
Trả lại bị cáo So Ro H2:
- 01 điện thoại hiệu Samsung Galaxy A51 gắn sim.
- (Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, tình trạng của máy)
Trả lại bị cáo Nguyễn Văn V:
- 01 màn hình máy tính (đề chữ msi), 01 cây máy tính (đề chữ kenoo)
Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 11 ngày 14/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Nam Từ Liêm và Chi cục thi hành án quận Nam Từ Liêm.
Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333, điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Các Bị cáo Sô Ro H2, Nguyễn Việt H3, Nguyễn Văn V, Trần Hữu L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Sô Ro H2 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 08/08/2024.
Áp dụng Khoản 1 Điều 251; Điểm s, t khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt H3 29 (Hai mươi chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/05/2024.
Áp dụng Khoản 1 Điều 251; Điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 27 (Hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/05/2024.
Áp dụng Khoản 1 Điều 251; Điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Trần Hữu L (Hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/05/2024.
Về dân sự: Không.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 89, 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 thùng giấy bìa các tông được niêm phong còn nguyên vẹn tại các mép dán có chữ ký niêm phong của Trần Hữu L và giám định viên;
- 01 thùng giấy bìa các tông được niêm phong còn nguyên vẹn tại các mép dán có chữ ký niêm phong của Nguyễn Văn V, Nguyễn Việt H3, Trần Hữu L và giám định viên (ký hiệu M1);
- 01 thùng giấy bìa các tông được niêm phong còn nguyên vẹn tại các mép dán có chữ ký niêm phong của Nguyễn Văn V, Nguyễn Việt H3, Trần Hữu L và giám định viên (ký hiệu M2);
- 01 thùng giấy bìa các tông được niêm phong còn nguyên vẹn tại các mép dán có chữ ký niêm phong của Nguyễn Văn V, Nguyễn Việt H3, Trần Hữu L và giám định viên (ký hiệu M3);
- 01 phong bì niêm phong dán kín có chữ ký niêm phong của Sô Ro H2 và giám định viên;
- 01 Phiếu giao hàng.
Tịch thu xung công quỹ Nhà nước:
- 01 máy hút chân không (đề chữ ALPHA), 01 máy in nhiệt màu trắng (đề chữ SHOPTIDA), 01 máy hàn nhiệt màu xanh, 01 máy khò màu đen (đề chữ Hot Air Gun).
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12 mini gắn sim số.
- (Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, tình trạng của máy)
- 01 điện thoại hiệu Nokia màu đen gắn sim.
- (Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, tình trạng của máy)
- 01 điện thoại hiệu Iphone xs màu trắng gắn sim.
- (Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, tình trạng của máy)
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS màu vàng gắn sim
- (Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, tình trạng của máy)
- 01 điện thoại hiệu iphone 13 Promax gắn sim.
- (Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, tình trạng của máy)
Trả lại bị cáo So Ro H2:
- 01 điện thoại hiệu Samsung Galaxy A51 gắn sim.
- (Điện thoại đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng, tình trạng của máy)
Trả lại bị cáo Nguyễn Văn V:
- 01 màn hình máy tính (đề chữ msi), 01 cây máy tính (đề chữ kenoo)
Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 11 ngày 14/10/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Nam Từ Liêm và Chi cục thi hành án quận Nam Từ Liêm.
Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333, điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Mai Thị Hương |
Bản án số 303/2024/HSST ngày 30/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự)
- Số bản án: 303/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
