TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc |
Bản án số 303/2024/DSST Ngày 27.9. 2024 V/v Tranh chấp chia quyền sử dụng đất, chia thừa kế, công nhận quyền sử dụng đất đối với di sản thừa kế đã hết thời hiệu. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa : Ông Nguyễn Hồng Bách
- Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Nguyễn Hữu Đệ
2/ Bà Hoàng Thị An
- Thư kí phiên tòa : Bà Hoàng Thu Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Anh
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy N - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27.9.2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 97/2023/DSST ngày 7.4.2023 về tranh chấp chia quyền sử dụng đất, chia thừa kế, công nhận quyền sử dụng đất đối với di sản thừa kế đã hết thời hiệu, theo Quyết định đưa ra xét xử sơ thẩm số 53/2024 /QĐXXST ngày 07 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn:
Bà Hoàng Thị L, sinh năm: 1953
Địa chỉ: thôn P, xã M, huyện Đ, TP Hà Nội
Người đại diện theo uỷ quyền của bà Hoàng Thị L là ông Nguyễn Tiến P, theo giấy uỷ quyền ngày 17.4.2023.( có mặt tại phiên toà)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Hoàng Thị L bà Luật sư Phạm Thị T - Luật sư Công ty L3 - Đoàn luật sư T4
( có mặt tại phiên toà)
* Bị đơn:
- - Bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1965
- Địa chỉ: thôn P, xã M, huyện Đ, TP Hà Nội
- - Anh Nguyễn Trung H1, sinh năm: 1982
- Địa chỉ: thôn P, xã M, huyện Đ, TP Hà Nội.
- ( Bà H và anh H1 xin xét xử vắng mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm: 1980
- Địa chỉ: tổ B, T, L, Hà Nội. ( xin xét xử vắng mặt)
- - Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1985
- Địa chỉ: Thôn P, xã M, huyện Đ, TP Hà Nội.
- ( xin xét xử vắng mặt)
- - Cháu Nguyễn Hải N1, sinh năm 2001
- - Cháu Nguyễn Mạnh D, sinh năm 2008
- - Cháu Nguyễn Bích N2, sinh năm 2007
- - Cháu Nguyễn Ngọc Á, sinh năm 2015
- Cùng trú tại: Thôn P, xã M, huyện Đ, TP Hà Nội.
- Cháu D, cháu N2, cháu Á do anh Nguyễn Trung H1, chị Nguyễn Thị T1 đại diện theo pháp luật. ( xin xét xử vắng mặt)
- - Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1961;( vắng mặt)
- - Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1992;( vắng mặt)
- - Anh Nguyễn Văn K1, sinh năm 1990; ( vắng mặt)
- Cùng trú tại: Thôn P, xã M, huyện Đ, TP Hà Nội.
- - Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, TP Hà Nội
- Địa chỉ: xã M, huyện Đ, TP Hà Nội
- Do ông Nguyễn Ngọc L2 - Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M, đại diện theo pháp luật, uỷ quyền cho ông Phạm Văn H3 – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã M (ông H3 có đơn xin xét xử vắng mặt)
NHẬN THẤY
Theo đơn khởi kiện ngày 29.12.2022 và các lời khai của bà Hoàng Thị L - Nguyên đơn, nội dung vụ kiện và những yêu cầu của Nguyên đơn như sau:
* Về quan hệ hôn nhân và huyết thống:
Chồng bà Hoàng Thị L là ông Nguyễn Văn Đ (sinh năm: 1955, chết năm: 2021). Trước khi chết ông Đ không để lại di chúc. Bà và ông Đ có 02 người con đẻ là: chị Nguyễn Thị H2 và anh Nguyễn Trung H1.
Bố, mẹ đẻ của ông Đ là cụ Nguyễn Văn V (một số giấy tờ ghi tên Nguyễn Văn V1), sinh năm: 1918, chết năm: 2002 và cụ Nguyễn Thị L1, sinh năm: 1926, chết năm: 1992. Cụ V và cụ L1 chết không để lại di chúc.
Bố mẹ đẻ của ông Đức S được 03 người con là:
- - Ông Nguyễn Văn Đ( chồng bà Hoàng Thị L)
- - Ông Nguyễn Văn K2 (sinh năm 1960, chết năm 1997). Ông K2 có vợ là bà Nguyễn Thị L1 (sinh năm 1961, nơi ở: thôn P, xã M, huyện Đ, TP Hà Nội), có các con là Nguyễn Văn K1 (sinh năm: 1990; nơi ở: thôn P, xã M, huyện Đ, TP Hà Nội) và Nguyễn Văn K (sinh năm: 1992; nơi ở: thôn P, xã M, huyện Đ, TP Hà Nội).
- - Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1965; nơi ở: thôn P, xã M, huyện Đ, TP Hà Nội.
Ngoài các người con trên thì cụ V và cụ L1 không còn người con đẻ, con nuôi, con riêng nào khác.
Tại Bản án số 28/2014/DS-ST ngày 6.8.2014 của Toà án nhân dân huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội, giải quyết tranh chấp về chia thừa kế tài sản của cụ L1 và cụ V để lại là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 93, tờ bản đồ số 4 và thửa đất số 33 tờ bản đồ 11 thôn P, xã M, huyện Đ, Thành phố Hà Nội, đã tuyên giao cho ông Đ và bà H được sử dụng chung 179m² đất ở tại thửa đất số 93, tờ bản đồ số 4 nêu trên. Bản án trên đã có hiệu lực pháp luật.
Sau khi giải quyết xong đến nay phần diện tích 179 m² còn lại là di sản của Cụ Nguyễn Thị L1 để lại tại thửa đất số 93 tờ bản đồ số 4 ông Đ, bà H, bà Hoàng Thị L cùng quản lý, sử dụng; 90 m² đất tại thửa số 33 tờ bản đồ số 11 Thôn P, M, Đ, Hà Nội là di sản của Cụ Nguyễn Thị L1 để lại thì do bà Nguyễn Thị L1, ông Nguyễn Văn K1, ông Nguyễn Văn K đang quản lý, sử dụng.
Trên diện tích đã phân chia cho Bà H và ông Đ tại thửa đất số 93 tờ bản đồ số 4 Thôn P, M, Đ, Hà Nội, ông Đ và bà Hoàng Thị L đã xây nhà 3 tầng vào năm 2016, hiện nay bà Hoàng Thị L đang quản lý sử dụng cùng với con trai là anh Nguyễn Trung H1.
Ngày 13/6/2021, ông Đ chết không để lại di chúc. Hiện bà H, Bà Hoàng Thị L và anh H1 cùng quản lý, sử dụng phần đất trên. Diện tích đất trên chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Bà Hoàng Thị L đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết xác định và phân chia riêng phần quyền sử dụng đất của ông Đ và bà H trong số diện tích 179 m² đất được giao và chia thừa kế đối với phần quyền sử dụng đất đã tách ra thuộc quyền sử dụng của ông Đ cho các đồng thừa kế của ông Đ là Bà Hoàng Thị L và hai con là anh H1 và chị H2. Đồng thời, đối với nhà 3 tầng trên đất, phân chia cho B và ông Đ mỗi người được quyền sở hữu ½ giá trị nhà nêu trên. Các tài sản khác gắn liền với đất thì Bà Hoàng Thị L không đề nghị Tòa án phân chia giá trị, nếu chia vào phần đất thuộc quyền sử dụng của ai thì người đó được quyền sử dụng, sở hữu, định đoạt đối với tài sản đó.
Phần thừa kế của Bà được hưởng, đề nghị Tòa án chia cho Bà bằng hiện vật để Bà lấy chỗ sinh sống.
Ngày 3.4.2023 Bà Hoàng Thị L sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện như sau:
“Ngày 29/12/2022, tôi có đơn khởi kiện đối với người bị kiện là bà Nguyễn Thị H đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết xác định và phân chia riêng phần quyền sử dụng đất của ông Đ và bà H trong số diện tích đất được Tòa án tuyên giao là 179m² đất tại thửa đất số 93, tờ bản đồ số 4 thôn P, xã M, huyện Đ, Thành phố Hà Nội và chia thừa kế đối với phần quyền sử dụng đất thuộc quyền sử dụng của ông Đ cho các đồng thừa kế của ông Đ là tôi và hai con của tôi với ông Đ là anh H1 và chị H2. Đồng thời, đối với nhà 3 tầng trên đất, phân chia tôi và ông Đ mỗi người được quyền sở hữu ½ giá trị nhà nêu trên. Các tài sản khác gắn liền với đất thì tôi không đề nghị Tòa án phân chia giá trị, nếu chia vào phần đất thuộc quyền sử dụng của ai thì người đó được quyền sử dụng, sở hữu, định đoạt đối với tài sản đó. Phần thừa kế của tôi được hưởng, tôi kính đề nghị Tòa án chia cho tôi bằng hiện vật để tôi lấy chỗ sinh hoạt”
Ngoài việc tôi sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện đưa anh Nguyễn Trung H1 (sinh năm: 1982; Địa chỉ: thôn P, xã M, huyện Đ, TP .) từ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thành đồng bị đơn như trên thì Bà Hoàng Thị L còn sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của mình như sau: Bản án số 28/2014/DS-ST ngày 06/8/2014, có nội dung:
“...XÉT THẤY...
....Di sản của cụ V có giá trị 1.972.000.000đ. Trích công sức cho ông Nguyễn Văn Đ, bà Hoàng Thị L, bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị L1 bằng 01 kỷ phần, trong đó: Xác định di sản của cụ V tại thửa 93 có diện tích gấp đôi di sản của cụ V tại thửa 33 nên trích cho ông Đ, vợ ông Đ, bà H mỗi người 2/9; cụ V sống với ông Đ đến khi chết nên trích 2/9 công sức chăm sóc, phụng dưỡng, thờ cúng cụ V cho ông Đ; bà Nguyễn Thị L1 không có công sức tại thửa 93 chỉ có công sức tại thửa 33 nên chỉ được trích 1/7.
Di sản của cụ V được chia thành 4 kỷ phần, mỗi kỷ phần có giá trị 493.000.000đ. Trong 01 kỷ phần công sức, ông Đ, bà Hoàng L và bà H được hưởng chung 8/9 có giá trị là 438.222.000đ; bà L được hưởng 1/7 có giá trị 54.778.000₫
...chia cho ông Đ (trong đó có công sức của bà Hoàng Thị L) và bà H hưởng 179m² đất tại thửa 93 tờ bản đồ số 4 có giá trị 1.432.000.000đ....
QUYẾT ĐỊNH…………
Tổng kỷ phần thừa kế của ông Đ (có công sức của bà Hoàng Thị L) và bà Nguyễn Thị H được hưởng trị giá 1.432.000.000đ; ...
Giao cụ thể bằng hiện vật như sau:
- Giao cho ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị H quyền sử dụng 179m² đất tại thửa 93 tờ số 4 thôn P, xã M, huyện Đ, Thành phố Hà Nội trị giá 1.432.000.000đ..”.
Theo Bản án nêu, trong khối di sản của cụ V, tôi được trích công sức là 2/9 của 01 kỷ phần di sản thừa kế của cụ V (kỷ phần này tôi được chia chung với ông Đ, bà H).
Mặc dù Bà được xác định là người có quyền lợi trong Bản án nêu trên nhưng để việc giải quyết đơn khởi kiện hiện nay của Bà được nhanh chóng, Bà tự nguyện không đề nghị Tòa án xem xét đến công sức của Bà được 2/9 của 01 kỷ phần di sản thừa kế của cụ V trong bản án nêu trên. Bà coi đó là quyền sử dụng đất của ông Đ và đưa vào phân chia di sản thừa kế.
Khi giải quyết chia tài sản chung là quyền sử dụng đất của ông Đ và bà H với số diện tích đất 179m² đất nêu trên thì Bà kính đề nghị Tòa án xem xét xác định và phân chia quyền sử dụng đất của ông Đ nhiều hơn bà H.
Cụ thể:
- + Phần quyền sử dụng đất của ông Đ là 119m².
- + Phần quyền sử dụng đất của bà H là 60m².
Đồng thời, sau khi xác định và phân chia riêng phần quyền sử dụng đất của ông Đ và bà H trong số diện tích đất được Tòa án tuyên giao là 179m² đất nêu trên thì đưa diện tích đất ông Đ được hưởng ra chia thừa kế cho các đồng thừa kế của ông Đ là Bà và hai con là anh H1 và chị H2. Đối với nhà 3 tầng trên đất, Bà và ông Đ mỗi người được quyền sở hữu ½ giá trị nhà nêu trên. Các tài sản khác gắn liền với đất thì Bà không đề nghị Tòa án phân chia giá trị, nếu chia vào phần đất thuộc quyền sử dụng của ai thì người đó được quyền sử dụng, sở hữu, định đoạt đối với tài sản đó.
Phần thừa kế của bà xin được hưởng, Bà đề nghị Tòa án chia cho tôi bằng hiện vật để tôi lấy chỗ sinh sống.
Đối với quyền sử dụng đất nông nghiệp của ông Nguyễn Văn Đ do nhà nước giao năm 1999 và di sản quyền sử dụng đất nông nghiệp của cụ V chưa được giải quyết, Bà không yêu cầu giải quyết.
Bà đồng ý phần diện tích đất bị thiếu so với diện tích ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho cụ Nguyễn Văn V hiện đã nằm trong ngõ đi của thôn không yêu cầu hoàn trả nữa. Phần diện tích nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng được bản án có hiệu lực pháp luật xác định quyền sử dụng cho ông Đ và bà H cũng như di sản của cụ Nguyễn Thị L1 để lại tại thửa đất này tôi đồng ý trả lại cho nhà nước.
Phần diện tích 90 m² tại thửa đất số 33 tờ bản đồ số 11 Thôn P, M, Đ, Hà Nội, hiện do bà Nguyễn Thị L1, ông Nguyễn Văn K1, ông Nguyễn Văn K3 đang quản lý sử dụng cũng đã hết thời hiệu chia thừa kế bà Hoàng Thị L không có yêu cầu.
* Bị đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:
1. Về yêu cầu chia tách quyền sử dụng đất đã được chia sử dụng chung theo Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2014/DS-ST ngày 6.8.2014:
Thống nhất nội dung như bà Hoàng Thị L đã trình bầy. Trên phần diện tích đất trên bà H chưa xây dựng bất kì tài sản gì. Trên phần đất này có nhà 3 tầng, nhà cấp 4 và phần công trình khác là của bà Hoàng Thị L và ông Nguyễn Văn Đ xây dựng.
2. Về quyền sử dụng đất là di sản của cụ Nguyễn Thị L1 hết thời hiệu chia thừa kế:
Bà H có yêu cầu phản tố như sau:
Mẹ Bà cụ Nguyễn Thị L1 chết ngày 23/11/1992 có để lại di sản là phần 179m² đất còn lại tại thửa đất số 93 tờ bản đồ số 4 Thôn P, xã M, Đ, Hà Nội và 90 m² còn lại tại thửa đất số 33 tờ bản đồ số 11 Thôn P, M, Đ, Hà Nội nhưng đã hết thời hiệu chia thừa kế. Sau khi Toà án nhân dân huyện Đông Anh xét xử xong cho đến nay ông Nguyễn Văn Đ và bà Hoàng Thị L cùng Bà quản lý phần diện tích 179 m² này. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2014/DS-ST ngày 6.8.2014 của Toà án nhân dân huyện Đông Anh, TP Hà Nội đã có hiệu lực pháp luật, đã quyết định về vị trí kích thước của phần diện tích đất này.
Quá trình sử dụng, B đã xây nhà cùng lát sân xi măng, lợp mái tôn trên đất cùng với ông Đ và bà Hoàng Thị L, ông Đ cùng bà Hoàng Thị L xây nhà 3 tầng nằm sang một phần của diện tích này và tiếp tục sử dụng chuồng lợn bếp nằm trên đất của cụ L đã hết thời hiệu khởi kiện chia thừa kế nêu trên.
Nay Bà đề nghị Tòa án xem xét: cho đến ngày Bà có đơn phản tố, di sản của cụ L để lại đã hết thời hiệu chia thừa kế nên đề nghị công nhận phần 179m² đất (thuộc phần di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị L1) tại thửa đất số 93, tờ bản đồ số 4 tại thôn P, xã M, huyện Đ, Thành phố Hà Nội thuộc quyền sử dụng của tôi và tuyên cho tôi được quyền liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền để làm các thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với phần đất này do Bà xây dựng.
Phần diện tích 90 m² tại thửa đất số 33 tờ bản đồ số 11 Thôn P, M, Đ, Hà Nội, hiện do bà Nguyễn Thị L1, ông Nguyễn Văn K1, ông Nguyễn Văn K đang quản lý sử dụng cũng đã hết thời hiệu chia thừa kế bà H không có yêu cầu.
Đối với di sản quyền sử dụng đất nông nghiệp của cụ V chưa được giải quyết nay Bà không yêu cầu giải quyết.
Bà H cũng đồng ý phần diện tích đất bị thiếu so với diện tích ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho cụ Nguyễn Văn V hiện đã nằm trong ngõ đi của Thôn, thuộc phần diện tích Bà và ông Đ được chia chung, không yêu cầu hoàn trả nữa. Phần diện tích nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng được Bản án có hiệu lực pháp luật xác định quyền sử dụng cho ông Đ và bà H Bà đồng ý trả lại cho nhà nước. Diện tích đất là di sản của cụ L1 để lại đã hết thời hiệu chia thừa kế tại thửa đất này bị thừa ra so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp nếu được công nhận quyền sử dụng bà cũng đồng ý trả lại phần diện tích nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
+ Anh Nguyễn Trung H1 trình bầy:
- Về quan hệ huyết thống:
Bố anh là Nguyễn Văn Đ (sinh năm: 1955, chết năm: 2021). Bố anh chết không để lại di chúc.
Mẹ anh là Hoàng Thị L - nguyên đơn trong vụ án.
Bố, mẹ sinh được 02 người con đẻ là chị Nguyễn Thị H2 và anh Hồng
Ngoài các con nêu trên, bố mẹ anh không còn con đẻ, con nuôi nào khác.
Ông nội anh là cụ Nguyễn Văn V (V1) sinh năm: 1918, chết năm: 2002 và bà nội anh là cụ Nguyễn Thị L1, sinh năm: 1926, chết năm: 1992.
Ông bà nội anh sinh được các con là:
- Ông Nguyễn Văn Đ.
- Ông Nguyễn Văn K2 (sinh năm 1960, chết năm 1997). Ông K2 có vợ là bà Nguyễn Thị L1 (sinh năm 1961, nơi ở: thôn P, xã M, huyện Đ, TP Hà Nội), có các con là anh Nguyễn Văn K1 (sinh năm: 1990; nơi ở: thôn P, xã M, huyện Đ, TP Hà Nội) và anh Nguyễn Văn K (sinh năm: 1992; nơi ở: thôn P, xã M, huyện Đ, TP Hà Nội).
- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1965; nơi ở: thôn P, xã M, huyện Đ, TP Hà Nội.
Anh H1 có vợ là chị Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1985. Vợ chồng có 03 con chung gồm: cháu Nguyễn Bích N2, sinh năm: 2007; cháu Nguyễn Mạnh D, sinh năm 2008 và cháu Nguyễn Ngọc Á, sinh năm: 2015. Vợ chồng anh H1 cùng 03 con đang ở cùng bà Hoàng Thị L tại địa chỉ: Thôn P, xã M, huyện Đ, Thành phố Hà Nội.
- Về di sản
Ngày 06/8/2014, TAND huyện Đông Anh ban hành Bản án số 28/2014/DS-ST giải quyết tranh chấp về chia thừa kế tài sản của cụ L và cụ V để lại là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 93, tờ bản đồ số 4 và thửa đất số 33 tờ bản đồ 11 thôn P, xã M, huyện Đ, Thành phố Hà Nội. Bản án đã tuyên giao cho ông Đ và bà H sử dụng chung quyền sử dụng 179m² đất ở tại thửa đất số 93, tờ bản đồ số 4 nêu trên. Ngoài ra Bản án cũng xác định phần quyền sử dụng đất còn lại tại thửa đất số 93 là 179 m² hết thời hiệu khởi kiện chia di sản của cụ L thì do ông Đ và bà H quản lý, sử dụng.
Bản án số 28/2014/DS-ST ngày 06/8/2014 của TAND huyện Đông Anh đã có hiệu lực.
Sau khi Bản án có hiệu lực, ông Đ và bà H chưa phân định phần quyền sử dụng đất của mỗi người trong khối tài sản được Tòa án giải quyết và cùng sử dụng cho đến khi ông Đ chết, anh H1 và mẹ cùng tiếp tục dùng chung với bà H toàn bộ thửa đất.
Năm 2016, bố mẹ anh H1 dự định làm nhà nên đã trao đổi với bà H, khi đó 3 người đã thống nhất miệng rằng bố, mẹ anh H1 cứ xây nhà trên phần đất ông Đ và cô H được hưởng thừa kế của cụ V còn bà H sau này mà làm nhà thì sẽ làm nhà trên phần đất thuộc di sản đã hết thời hiệu khởi kiện của cụ L, còn cụ thể thế nào thì anh em khi làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì sẽ trao đổi sau.
Do vậy, trong năm 2016, ông Đ, bà L đã làm nhà trên diện tích đất mà Tòa án đã chia cho 3 người. Bố, mẹ anh xây nhà 3 tầng, diện tích xây dựng khoảng 90m². Phần đất còn lại thì bố, mẹ anh vẫn quản lý. Khi xây dựng nhà 03 tầng nêu trên thì anh H1 không có công sức cùng bố, mẹ vào việc xây nhà 03 tầng này.
Năm 2018, Bà H xây nhà tầng trên phần đất thuộc di sản đã hết thời hiệu của cụ L. Phần đất còn lại thuộc di sản đã hết thời hiệu của cụ L thì bà H và ông Đ và bà L (vợ ông Đ) vẫn cùng quản lý, sử dụng.
Năm 2021, ông Đ chết không để lại di chúc.
Sau khi ông Đ chết, anh H1, bà Hoàng Thị L, vợ anh H1 cùng tiếp tục dùng chung với bà H toàn bộ thửa đất.
Nay anh H1 có ý kiến giải quyết như sau:
- Đối với phần di sản quyền sử dụng đất của ông Đ nằm trong 179m² đất mà ông Đ và bà H được chia chung:
Thống nhất phần diện tích còn thiếu so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không yêu cầu trả lại (do đã làm ngõ đi); phần nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đồng ý trả lại cho nhà nước.
Tòa án xác định và phân chia diện tích đất còn lại cho ông Đ và bà H theo quy định của pháp luật.
Diện tích đất chia tách cho ông Đ là di sản thừa kế ông Đ để lại thì chia cho bà Hoàng Thị L, ông H1 và bà H2.
- Đối với nhà 3 tầng xây đề nghị Tòa án phân chia ông Đ, bà L mỗi người được hưởng ½ giá trị nhà. Những tài sản khác xây dựng trên đất của ông Đ và bà L không còn giá trị không đề nghị đưa vào phân chia.
Phần di sản anh H1 được hưởng từ ông Đ thì anh H1 nhường quyền thừa kế cho bà Hoàng Thị L.
- Đối với quyền sử dụng đất thuộc di sản thừa kế của cụ L đã hết thời hiệu khởi kiện mà khi còn sống ông Đ và bà H cùng quản lý, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo pháp luật, nếu anh được hưởng thừa kế từ di sản này thì anh xin nhường quyền thừa kế cho mẹ là Bà Hoàng Thị L. Bà L và bà H có quyền tự thoả thuận với nhau về cách phân chia quyền sử dụng toàn bộ thửa đất số 93 tờ bản đồ số 4 Thôn P, M, Đ, Hà Nội.
Anh H1 không đề nghị phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất nông nghiệp của bố là ông Nguyễn Văn Đ được chia cũng như được hưởng từ cụ V để lại.
Anh H1 đồng ý phần diện tích đất bị thiếu so với diện tích ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho cụ Nguyễn Đình V2 hiện đã nằm trong ngõ đi của T2 không yêu cầu hoàn trả nữa. Phần diện tích nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng được Bản án có hiệu lực pháp luật xác định quyền sử dụng cho ông Đ và bà H cũng như di sản của cụ L để lại tại thửa đất này anh đồng ý trả lại cho nhà nước.
+ Chị Nguyễn Thị H2 trình bầy
Nhất trí với toàn bộ ý kiến anh Nguyễn Trung H1 trình bầy.
Chị H2 cũng đồng ý phần diện tích đất bị thiếu so với diện tích ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho cụ Nguyễn Văn V hiện đã nằm trong ngõ đi của T2 không yêu cầu hoàn trả nữa. Phần diện tích nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng được Bản án có hiệu lực pháp luật xác định quyền sử dụng cho ông Đ và bà H cũng như di sản của cụ L để lại tại thửa đất này chị đồng ý trả lại cho nhà nước.
Chị H2 nhường toàn bộ quyền thừa kế di sản của ông Nguyễn Văn Đ tại thửa đất số 93 tờ bản đồ số 4 Thôn P, M, Đ, Hà Nội phát sinh từ việc phân chia quyền sử dụng đất chung và công nhận quyền sử dụng đất của cụ Nguyễn Thị L1 để lại hết thời hiệu chia thừa kế, cho bà Hoàng Thị L. Bà Hoàng Thị L có toàn quyền quyết định cách phân chia thửa đất nêu trên với bà Nguyễn Thị H.
Chị H2 không đề nghị phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất nông nghiệp của bố là ông Nguyễn Văn Đ được chia cũng như được hưởng từ cụ V để lại.
Chị H2 khẳng định không có tài sản, hay đóng góp công sức tôn tạo thửa đất, xây dựng tài sản trên thửa đất số 93 nêu trên.
Chị H2 cũng đồng ý phần diện tích đất bị thiếu so với diện tích ghi trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho cụ Nguyễn Văn V hiện đã nằm trong ngõ đi của T2 không yêu cầu hoàn trả nữa. Phần diện tích nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng được bản án có hiệu lực pháp luật xác định quyền sử dụng cho ông Đ và bà H cũng như di sản của cụ L để lại tại thửa đất này chị đồng ý trả lại cho nhà nước.
+ Chị Nguyễn Thị T1 trình bầy :
Chị và anh Nguyễn Trung H1 (sinh năm: 1982) đăng ký kết hôn năm 2006. Vợ chồng chị cùng 03 con đang ở cùng mẹ chồng là Hoàng Thị L tại địa chỉ: Thôn P, xã M, huyện Đ, Thành phố Hà Nội.
Từ khi kết hôn với anh H1 và về ở cùng nhà chồng thì đến nay chị không có công sức gì trong việc tạo lập đất và xây dựng công trình trên đất nêu trên.
Do vậy chị không có đề nghị gì.
Do công việc cá nhân chị đề nghị giải quyết vắng mặt trong toàn bộ quá trình tố tụng của vụ án (bao gồm cả các buổi hòa giải, đối chất, thẩm định, công khai chứng cứ, xét xử).
+ Chị Nguyễn Hải N1 trình bầy:
Mẹ chị là Nguyễn Thị H (sinh năm: 1965). Hiện hai mẹ con đang ở nhà mái bằng 01 tầng trên thửa đất số 93, tờ bản đồ số 4 thôn P, xã M, huyện Đ, Thành phố Hà Nội.
Ngôi nhà trên là do mẹ chị tự bỏ tiền xây dựng, chị không đóng góp công sức hay tiền của gì vào việc tạo lập nhà trên cũng như quyền sử dụng đất tại thửa đất số 93 nêu trên nên chị không có đề nghị tòa án giải quyết quyền lợi gì trong vụ án này.
Chị xin được giải quyết vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án (bao gồm cả các buổi hòa giải, đối chất, thẩm định, công khai chứng cứ, xét xử).
* Tại phiên toà:
Các bên trình bầy về di sản thừa kế; diện, hàng thừa kế, các tài sản có trên đất như đã trình bầy được nêu ở trên.
Đối với yêu cầu khởi kiện: bà Hoàng Thị L vẫn giữ nguyên không có yêu cầu sửa đổi, bổ sung.
Đối với yêu cầu phản tố: Bà Nguyễn Thị H có thay đổi bổ sung như sau: diện tích đất tại thửa đất số 93 tờ Bản đồ số 4 Thôn P, M, Đ, Hà Nội đã được xác định là di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị L1 để lại, sau khi trừ đi diện tích đất công còn lại là 175,37 m² đề nghị áp dụng thời hiệu chia thừa kế theo quy định của pháp luật để giải quyết. Công nhận diện tích đất trên thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị H theo Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015. Đồng thời gộp toàn bộ diện tích của thửa đất (không tính phần bị thiếu, trừ đi phần đất thuộc đất công) phân chia. Trong đó, Bà H xin giao khoảng 52 m² có kích thước sâu 11,9 m bề rộng 4,43 m và sở hữu các công trình có trong phạm vi diện tích này. Phần diện tích đất còn lại giao cho bà Hoàng Thị L sử dụng; các công trình trong phạm vi này bà L được quyền sở hữu.
Đề nghị Toà án cho bà Hoàng Thị L và bà H được liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh phát biểu quan điểm về giải quyết vụ kiện,
I. VỀ VIỆC TUÂN THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG
1. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán: đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật
2. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng
Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của BLTTDS. Cụ thể :
- - Nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phía nguyên đơn: Đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình như: nộp đơn khởi kiện, cung cấp tài liệu chứng cứ cho Tòa án theo qui định tại Điều 70, 71, 73, 227 BLTTDS.
- - Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phía bị đơn: Chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình định tại Điều 70, 72 BLTTDS (vắng mặt phiên hòa giải và phiên tòa).
- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bà L, anh K, anh K1: Chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình định tại Điều 70, 72 BLTTDS (vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án).
II. VỀ VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ
Xem xét yêu cầu của Nguyên đơn, Bị đơn có yêu cầu phản tố người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và những nội dung đã thoả thuận thấy có căn cứ và hợp pháp nên đề nghị chấp nhận đơn khởi kiện đã được sửa đổi, bổ sung của bà Hoàng Thị L và yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị H và ghi nhận sự thoả thuận này.
Đối với quyền sử dụng đất nông nghiệp cụ V, ông Đ được chia chung với hộ gia đình cụ Nguyễn Văn V, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 10/4/2000 tại xứ đồng Ngô Con R, C, Khu K, Ven đê, khu rau xanh, mạ mùa (tổng diện tích cả hộ gia đình được cấp là 1875m²) nhà nước đã thu hồi 348m² còn lại 1414m². Bà L, bà H, anh H1 chị H2 không yêu cầu chia quyền sử dụng đất nông nghiệp ông Đ được hưởng thừa kế của cụ V và quyền sử dụng đất nông nghiệp ông Đ được chia chung với hộ gia đình cụ V nên không xem xét giải quyết, nếu sau này các bên có yêu cầu chia sẽ khởi kiện bằng vụ án khác.
Về án phí:
Căn cứ điều 27 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội án phí trong vụ án này áp dụng án phí có giá ngạch. Căn cứ điểm d điều 12 Nghị quyết 326/2016 thì bà L là người cao tuổi nên được miễn nộp án phí dân sự sơ thẩm
Từ những phân tích, đánh giá trên, áp dụng:
- + Điều 26, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- + Điều 623, 651 của Bộ luật dân sự năm 2015;
- + Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Đề nghị :
Công nhận sự thỏa thuận của bà L, bà H, anh H1, chị H2. Bà H sử dụng 52m² đất và nhà 2 tầng trên thửa đất số 93, tờ bản đồ số 4 thôn P, xã M, huyện Đ, TP Hà Nội. Anh H1, chị H2 nhượng toàn bộ quyền thừa kế tài sản của ông Đ cho bà Hoàng Thị L toàn quyền quản lý và sử dụng phần đất 301,39 m² đất và nhà 3 tầng, nhà cấp 4, nhà kho, bể, sân, cổng trên thửa đất số 93, tờ bản đồ số 4 thôn P, xã M, huyện Đ, TP Hà Nội.
Không xem xét giải quyết 90m² đất ở thuộc thửa đất số 33, tờ bản đồ 11 M, Đ, Hà Nội là di sản của cụ Nguyễn Thị L1 đã hết thời hiệu thừa kế, và không xem xét giải quyết quyền sử dụng đất nông nghiệp cụ V, ông Đ được chia chung với hộ gia đình cụ Nguyễn Văn V
- Về án phí: Bà H phải chịu án phí có giá ngạch đối với phần tài sản được hưởng theo quy định. Bà Hoàng Thị L là người cao tuổi, có đơn xin được miễn tiền án phí nên được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án, kết quả thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ ý kiến của các đương sự có trong hồ sơ, kết quả tranh luận tại phiên tòa.
TÒA ÁN NHẬN ĐỊNH:
[1]. Về tố tụng:
Theo đơn khởi kiện, bị đơn là bà Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Trung H1, và tài sản tranh chấp phân chia và chia thừa kế nằm tại Thôn P, M, Đ, Hà Nội nên Toà án thụ lý là đúng thẩm quyền.
Tòa án nhân dân huyện Đông Anh thụ lý vụ kiện ngày 7.4.2023
Toà án đã xác định đầy đủ Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Bà H, anh H1, chị H2, chị T1, chị N1, UBND xã M đều có đơn xin giải quyết vắng mặt.
Bà Nguyễn Thị L1, ông Nguyễn Văn K1, ông Nguyễn Văn Kđã được triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Xét yêu cầu của Nguyên đơn
Theo Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2014/DS-ST ngày 06/8/2014 của TAND huyện Đông Anh đã có hiệu lực.
Về quan hệ huyết thống:
Bố, mẹ đẻ của ông Đ là cụ Nguyễn Văn V (một số giấy tờ ghi tên Nguyễn Văn V1), sinh năm: 1918, chết năm: 2002 và cụ Nguyễn Thị L1, sinh năm: 1926, chết năm: 1992.
Bố mẹ đẻ của ông Đức S được 03 người con là:
- - Ông Nguyễn Văn Đ (sinh năm 1955, chết năm 2021).
- Ông Đ có vợ bà Hoàng Thị L, sinh năm 1953
- Ông Đ và bà Hoàng Thị L có hai con chung:
- Anh Nguyễn Trung H1, sinh năm 1982
- Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1980
- - Ông Nguyễn Văn K2 (sinh năm 1960, chết năm 1997).
- Ông K2 có vợ là bà Nguyễn Thị L1 (sinh năm 1961)
- Ông K2 và bà Nguyễn Thị L1 có hai con chung:
- Ông Nguyễn Văn K1 (sinh năm: 1990)
- Ông Nguyễn Văn K (sinh năm: 1992)
- - Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1965; nơi ở: thôn P, xã M, huyện Đ, TP Hà Nội.
Ngoài các người con trên thì cụ V và cụ L1 không còn người con đẻ, con nuôi, con riêng nào khác.
Về quyền sử dụng đất:
Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2014/DS-ST ngày 06/8/2014 của TAND huyện Đông Anh:
Phân chia thửa đất số 93 tờ bản đồ số 4 có diện tích 358 m² địa chỉ thửa đất tại Thôn P, M, Đ, Hà Nội thành hai phần: 179 m² đất chia cho ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị H được quyền sử dụng; 179 m² đất còn lại là di sản của cụ Nguyễn Thị L1 đã hết thời hiệu chia thừa kế nên không xem xét giải quyết.
Phân chia thửa đất số 33 tờ bản đồ số 11 địa chỉ thửa đất tại Thôn P, M, Đ, Hà Nội thành hai phần: 90m² đất chia cho bà Nguyễn Thị L1, ông Nguyễn Văn K1, ông Nguyễn Văn K; 90m² đất còn lại là di sản của cụ Nguyễn Thị L1 đã hết thời hiệu chia thừa kế nên không xem xét giải quyết.
Sau khi bản án trên có hiệu lực pháp luật:
Ông Nguyễn Văn Đ, bà Hoàng Thị L, Bà Nguyễn Thị H, anh Nguyễn Trung H1 ở trên toàn bộ thửa đất số 93 tờ bản đồ số 4.
Năm 2016 ông Nguyễn Văn Đ và bà Hoàng Thị L đã xây dựng một nhà 3 tầng trên thửa đất này.
Năm 2018 Bà Nguyễn Thị H xây nhà và công trình phụ trên phần đất của cụ Nguyễn Thị L1 đã hết thời hiệu chia thừa kế.
Ông Nguyễn Văn Đ và bà Hoàng Thị L tiếp tục sử dụng các công trình của mình gồm chuồng lợn, kho, bếp đã được xây dựng trước năm 2014 nằm trên phần đất di sản hết thời hiệu chia thừa kế của cụ Nguyễn Thị L1.
Ông Nguyễn Văn Đ, bà Hoàng Thị L, bà Nguyễn Thị H cùng láng sân xi măng cát, lợp mái tôn.
Trên thửa đất số 93 tờ bản đồ số 4 chưa có bức tường ngăn phân chia đất chia cho ông Đ, bà H với phần đất của cụ Nguyễn Thị L1 đã hết thời hiệu chia thừa kế.
Ngoài ông Đ, bà H, bà Hoàng Thị L (vợ ông Đ), anh H1, cùng vợ con ở trên thửa đất không còn ai tham gia sử dụng đất kể từ ngày có Bản án số 28/2014/DS-ST ngày 6.8.2014 cho đến nay.
Thửa đất số 33 tờ bản đồ số 11 do bà Nguyễn Thị L1 (vợ ông K2), ông Nguyễn Văn K1 và ông Nguyễn Văn K quản lý sử dụng.
Đến ngày bà H có đơn phản tố đề nghị công nhận quyền sử dụng đất đã hết thời hiệu chia thừa kế, không có người thuộc hàng thừa kế của cụ Nguyễn Văn V và cụ Nguyễn Thị L1 khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế do cụ Nguyễn Thị L1 để lại theo Quyết định của Bản án đã có hiệu lực pháp luật.
* Xem xét đơn phản tố của Bà Nguyễn Thị H đề nghị công nhận phần đất là di sản của cụ Nguyễn Thị L1 đã hết thời hiệu chia thừa kế tại thửa đất số 93, tờ bản đồ số 4, thôn P, xã M, huyện Đ, Thành phố Hà Nội và giải quyết phân chia toàn bộ thửa đất.
Cụ Nguyễn Thị L1 chết ngày 29.10.1992, đến ngày 24.4.2023 bà Nguyễn Thị H có đơn phản tố.
Như vậy, tính đến ngày Toà án nhân dân huyện Đông Anh thụ lý vụ kiện là ngày 7.4.2023 đã trên 30 năm kể từ ngày mở thừa kế của cụ Nguyễn Thị L1, không có người thừa kế nào có yêu cầu chia thừa kế.
179 m² đất là di sản thừa kế của cụ Nguyễn Thị L1 tại thửa đất số 93 nêu trên do ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị H, bà Hoàng Thị L quản lý, sử dụng. Năm 2021 ông Đ chết, bà L và anh H1 cùng bà H tiếp tục quản lý và sử dụng.
Bà H có đơn bổ sung đề nghị công nhận phần diện tích này thuộc quyền sử dụng của bà và ông Đ nay là các đồng thừa kế của ông Đ.
Bà Hoàng Thị L, anh Nguyễn Trung H1, chị Nguyễn Thị H2 nhất trí với quan điểm của bà H.
Đề nghị của bà H về phần diện tích đất di sản của cụ L là 175,37 m² còn lại hết thời hiệu chia thừa kế có người thừa kế đang quản lý vào thời điểm giải quyết là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Quá trình giải quyết vụ kiện, anh Nguyễn Trung H1 và chị Nguyễn Thị H2 nhường quyền thừa kế di sản của ông Đ đối với quyền sử dụng đất tại thửa đất số 93 tờ bản đồ số 4 thôn P, M, Đ, Hà Nội cho bà Hoàng Thị L toàn quyền nhận và quyết định khi giải quyết phân chia.
Các bên đều thống nhất cách phân chia, theo đó gộp toàn bộ hai phần của thửa đất (diện tích đo theo hiện trạng, trừ đi phần giáp ngõ đi nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), phân chia cho bà Hoàng Thị L và bà Nguyễn Thị H sử dụng nên Toà án không chia tách cụ thể phần được chia sử dụng chung giữa ông Đ và bà H4 mà lấy toàn bộ thửa đất phân chia theo sự thoả thuận của các bên đương sự.
Bà Nguyễn Thị H sử dụng diện tích đất ở vị trí có nhà của bà H đã xây dựng kích thước chiều mặt tiền giáp ngõ đi (chiều rộng) là 4,43 m và chạy dọc theo nhà bà H đã xây (chiều dài) là 11,9 m (tổng diện tích 52,7 m²). Bà H sở hữu các công trình nằm trong phạm vi mình sử dụng. Bà Hoàng Thị L sử dụng phần diện tích còn lại và sở hữu các công trình nhà ở vật kiến trúc khác có trên đất.
Diện tích của thửa đất số 93 tờ bản đồ số 4 Thôn P, M, Đ, Hà Nội còn lại để đưa vào phần chia là:
- Bà Nguyễn Thị H sử dụng 52,7 m²
- Bà Hoàng Thị L sử dụng 302,5m²
Theo Quy định tại Quyết định số 20/2017/QĐ-UBND ngày 01/06/2017 của Ủy ban nhân dân Thành phố H ban hành quy định về hạn mức giao đất; hạn mức công nhận quyền sử dụng đất; kích thước, diện tích đất ở tối thiểu được phép tách thửa cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn Thành phố Hà Nội và các quy định liên quan (văn bản có hiệu lực tại thời điểm xét xử) thoả thuận về diện tích, kích thước của các bên phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Sơ đồ vị trí diện tích, kích thước kèm theo bản án.
Bà Hoàng Thị L, anh Nguyễn Trung H1, chị Nguyễn Thị H2 không yêu cầu đưa di sản là quyền sử dụng đất nông nghiệp của cụ V và ông Đ vào phân chia di sản thừa kế do ông Đ để lại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Phần diện tích đất là di sản do cụ Nguyễn Thị L1 để lại nằm tại thửa đất số số 33 tờ bản đồ số 11 Thôn P, M, Đ, Hà Nội nhưng đã hết thời hiệu chia thừa kế, hiện do bà Nguyễn Thị L1, ông Nguyễn Văn K, ông Nguyễn Văn Q lý do không có yêu cầu nên Toà án không xem xét giải quyết. Nếu Bà Nguyễn Thị L1, ông Nguyễn Văn K, ông Nguyễn Văn K1 có yêu cầu thì giải quyết bằng vụ kiện khác.
[3] Về án phí:
Bà Hoàng Thị L được miễn án phí dân sự sơ thẩm do là người cao tuổi.
Bà H phải chịu án phí ân sự sơ thẩm trên giá trị di sản được phân chia. Bà H có đơn xin giảm án phí do hoàn cảnh khó khăn, có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, Thành phố Hà Nội nên miễn giảm cho bà H 50% tiền án phí dân sự phải nộp.
[4]. Quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ:
Điều 35, Điều 5, Điều 235, Điều 244, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Điều 610, Điều 611, Điều 612, Điều 613, Điều 614, Điều 623, Điều 649, Điều 650, Điều 651, Điều 658, Điều 660 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Quyết định số 20/2017/QĐ-UBND ngày 01/06/2017 của Ủy ban nhân dân Thành phố H ban hành quy định về hạn mức giao đất; hạn mức công nhận quyền sử dụng đất; kích thước, diện tích đất ở tối thiểu được phép tách thửa cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án;
Luật Thi hành án dân sự.
Xử:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện và đơn sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện chia tách quyền sử dụng đất, chia thừa kế của bà Hoàng Thị L.
2/ Chấp nhận đơn phản tố và đơn bổ sung yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị H đề nghị công nhận di sản của cụ Nguyễn Thị L1 đã hết thời hiệu chia thừa kế thuộc quyền sử dụng của bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Văn Đ do bà Hoàng Thị L, anh Nguyễn Trung H1, chị Nguyễn Thị H2 kế thừa.
3/ Xác định diện hàng thừa kế của ông Nguyễn Văn Đ
Ông Nguyễn Văn Đ sinh năm 1955, chết ngày 13.6. 2021.
Có vợ là bà Hoàng Thị L, sinh năm 1953
Có hai con chung:
Anh Nguyễn Trung H1, sinh năm 1982
Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1980
Thời điểm mở thừa kế của ông Nguyễn Văn Đ là ngày 13.6.2021.
Thời điểm mở thừa kế, diện hàng thừa kế, di sản của cụ Nguyễn Thị L1 đã được xác định theo Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2014/DS-ST ngày 06/8/2014 của TAND huyện Đông Anh, TP Hà Nội đã có hiệu lực pháp luật.
4/ Ghi nhận sự tự nguyện của bà Hoàng Thị L không yêu cầu xem xét về phần quyền sử dụng đất của bà trong số diện tích đất sử dụng chung giữa ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị H. Xác định 179 m² đất được chia theo Bản án số 28/2014/DS-ST ngày 06/8/2014 của TAND huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội đã có hiệu lực pháp luật thuộc quyền sử dụng chung của ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị H.
5/ Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị H về việc xác định 179 m² còn lại thuộc thửa đất số 93 tờ bản đồ số 4 địa chỉ Thôn P, M, Đ, Hà Nội là di sản của cụ Nguyễn Thị L1 theo quyết định Bản án số 28/2014/DS-ST ngày 06/8/2014 của TAND huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội đã có hiệu lực pháp luật thuộc quyền sử dụng chung của bà Nguyễn Thị H, Bà Hoàng Thị L, anh Nguyễn Trung H1, chị Nguyễn Thị H2.
Công nhận quyền sử dụng 179 m² đất thuộc thửa đất số 93, tờ bản đồ số 4, địa chỉ tại Thôn P, M, Đ, Hà Nội là di sản của cụ Nguyễn Thị L1 theo quyết định bản án số 28/2014/DS-ST ngày 06/8/2014 của TAND huyện Đông Anh, Thành phố Hà Nội đã có hiệu lực pháp luật thuộc quyền sử dụng chung của bà Hoàng Thị L, anh Nguyễn Trung H1, chị Nguyễn Thị H2 và bà Nguyễn Thị H.
6/ Ghi nhận sự thoả thuận của bà Hoàng Thị L, anh Nguyễn Trung H1, chị Nguyễn Thị H2 và bà Nguyễn Thị H về tách trả phần diện tích đất nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ gia đình cụ Nguyễn Văn V (V) cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ, Thành phố Hà Nội. Phần diện tích nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hiện nằm trong ngõ đi của Thôn P không yêu cầu trả lại.
7/ Ghi nhận sự tự nguyện, thống nhất của bà Hoàng Thị L, ông Nguyễn Trung H1, bà Nguyễn Thị H2 và bà Nguyễn Thị H đưa 355,2 m² đất của thửa đất số 93, tờ bản đồ số 4, địa chỉ tại Thôn P, M, Đ, Hà Nội có giá trị 8,880,000,000 đồng (bằng chữ: tám tỉ tám trăm tám mươi triệu đồng) vào phân chia cho bà Nguyễn Thị H và Hoàng Thị L sử dụng.
8/ Ghi nhận sự thoả thuận của bà Hoàng Thị L và bà Nguyễn Thị H về phân chia quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, cụ thể:
Bà Nguyễn Thị H nhận giá trị tài sản là 1,317,500,000 đồng (bằng chữ: một tỉ ba trăm mười bảy triệu năm trăm nghìn đồng), tương đương 52,7 m² đất. Bà Hoàng Thị L nhận giá trị tài sản 7,562,500,000 đồng (bằng chữ: bảy tỉ năm trăm sáu mươi hai triệu năm trăm nghìn đồng), tương đương 302,5 m² đất.
Bà Nguyễn Thị H nhận sử dụng phần diện tích có vị trí hiện có tài sản nhà hai tầng, sân, bể nước. Bà Hoàng Thị L sử dụng phần diện tích còn lại giáp đường đi nhỏ và đường đi lớn của thôn P.
Thửa đất số 93, tờ bản đồ số 4, thôn P, M, Đ, Hà Nội được đo vẽ tại thời điểm giải quyết tranh chấp có diện tích 360,9m² được đánh các mốc theo thứ tự: 1,2,3,4,5,6,7,8,1 có diện tích 360,9m² trong đó: 1-2=16,96m; 2-3=8,02m; 3-4=11,64 m; 4-5= 0,97 m; 5-6=4,50m’6-7=4,80m;7-8=8,59m;8-1=20,65m
Tại điểm số 8 trên đoạn 8-1 cách 0,45m lấy điểm số 8';
Tại điểm số 8' trên đoạn 8-1 cách 11,87 m lấy điểm số 8”;
Tại điểm số 8” trên đoạn 8"-3 cách 4,43m lấy điểm số 8”';
Tại điểm số 5 trên đoạn 5-4, cách điểm 5 một khoảng 0,14m đặt một điểm số 5' (Nối điểm 5' với điểm 4 có độ dài 0,83m)
Nối điểm số 8' với điểm 5' có độ dài 17,88 m
Phần diện tích tạo bởi các điểm 8,8',5',5,8 có diện tích 5,7 m²
Trên đoạn thẳng mới tạo 8’– 5' cách điểm 8' một đoạn 4,43 m lấy một điểm đặt điểm số 8””” Nối điểm 8” với điểm 8””” tạo thành đoạn có độ dài 11,91m
Diện tích của phần mới được tạo 52,7 m²
Phần diện tích 52,7 m² được giới hạn bởi các điểm 8',8”,8”',8”” giao cho bà Nguyễn Thị H sử dụng.
Phần được giới hạn bởi các điểm 8”,1,2,3,4,5',8””,8”',8” có diện tích 302,5 m² (trong đó: 8"-1=8,33m; 1-2=16,96m; 2-3=8,02m; 3-4=11,64m;4-5'=0,83m; 5'- 8""= 13,45 m; 8""-8''= 11,91 m; 8''-8"=4,43 m) giao cho bà Hoàng Thị L sử dụng.
Sơ đồ phân chia, vị trí, kích thước có sơ đồ kèm theo Bản án.
Bà Nguyễn Thị H sở hữu nhà, công trình vật kiến trúc nằm trong phạm vi diện tích 52,7 m² gồm nhà 2 tầng, bể nước, sân bê tông.
Bà Hoàng Thị L sở hữu nhà 3 tầng, nhà mái cấp 4, nhà kho, cây xoài, sân lát gạch đỏ, sân bê tông, 02 bể nước, cổng nằm trong phạm vi diện tích đất được chia sử dụng.
Các đương sự không có yêu cầu về chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất nông nghiệp của ông Nguyễn Văn Đ được nhà nước giao, được hưởng thừa kế từ cụ Nguyễn Văn V (Vị) nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Ông Nguyễn Văn Đ đã nộp các khoản tiền theo quyết định của Bản án dân sự số 28/2014/DS-ST ngày 06/8/2014 của TAND huyện Đông Anh, TP Hà Nội gồm:
Án phí dân sự:
- * 20,963,000 đồng theo Biên lai thu tiền phí, lệ phí kí hiệu số AA-14P số 0000337 ngày 28.5.2015 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh.
- *7,778,000 đồng theo Biên lai thu tiền kí hiệu số AE/2010/ 0009677 ngày 28.5.2015 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh thanh toán cho anh Nguyễn Văn K, Nguyễn Văn K1 và bà Nguyễn Thị L1.
Bà Nguyễn Thị H, bà Hoàng Thị L được quyền làm thủ tục kê khai, đăng kí quyền sử dụng diện tích đất được chia tại Cơ quan quản lý đất đai, Văn phòng đăng kí đất đai và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác và nộp các khoản tiền, phí, lệ phí theo quy định của pháp luật đất đai, T3, Lệ phí đang có hiệu lực.
Bà Hoàng Thị L được miễn tiền án phí dân sự.
Bà Nguyễn Thị H phải chịu 25,762,500 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Được trừ số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí số AA/2021/ 0006863 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh : 4,000,000 đồng còn phải nộp 21,762,500 đồng.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thi hành theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt Bản án hoặc kể từ ngày Bản án niêm yết theo quy định của pháp luật.
Án xử công khai sơ thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Hồng Bách |
Bản án số 303/2024/DSST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp chia quyền sử dụng đất, chia thừa kế, công nhận quyền sử dụng đất đối với di sản thừa kế đã hết thời hiệu.
- Số bản án: 303/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia quyền sử dụng đất, chia thừa kế, công nhận quyền sử dụng đất đối với di sản thừa kế đã hết thời hiệu.
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: phân chia quyền sử dụng đất
