Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUY PHƯỚC

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 303/2024/HNGĐ-ST

Ngày 23-9-2024

V/v Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHƯỚC, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Tú

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Trần Thị Minh Thâm
  • 2. Bà Phạm Thị Tuyết Mai.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Linh, là thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hoài – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 189/2024/TLST- HNGĐ, ngày 04 tháng 7 năm 2024, về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 156/2024/QĐXX-HNGĐ, ngày 30 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà 950/2024/QÐST-HNGĐ, ngày 13 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh ngày 1969; địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định. Vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thế Q, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 14 tháng 5 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:

Bà và ông Nguyễn Thế Q có thời gian tự nguyện tìm hiểu nhau khoảng một năm thì kết hôn, được gia đình hai bên tổ chức lễ cưới vào năm 1988, nhưng đến ngày 17/5/1993 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Bình Định. Sau khi kết hôn vợ chồng bà sống tại nhà cha mẹ chồng ở thôn P, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; cả hai vợ chồng bà đều làm nông. Vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 03 năm thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông Q ngoại tình và trong quá trình chung sống không lo làm ăn, thường nhậu nhẹt rồi về nhà gây sự đánh đập bà nhiều lần nên cuộc sống vợ chồng sống không hạnh phúc nhưng vì thương các con và sợ ông Q đánh đập nên bà cam chịu. Đến năm 2021, không thể nào sống chung với ông Q được nên bà đã ra sống riêng và ly thân cho đến nay. Giữa bà và ông Q không còn tình cảm với nhau, mạnh ai nấy sống nên nay bà yêu cầu được ly hôn với ông Q.

Về con chung: Vợ chồng anh chị có 04 con chung tên Nguyễn Thị Thu T, sinh ngày 29/11/1988; Nguyễn Thế V, sinh ngày 06/8/1991; Nguyễn Thị Thu H1, sinh ngày 16/8/1996 và Nguyễn Thị Thu H2, sinh ngày 05/02/1998, hiện 04 con đã trưởng thành, sức khoẻ bình thường nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung.

Về tài sản chung, vợ chồng tự giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 05 tháng 8 năm 2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Thế Q trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị H kết hôn vào năm 1993, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Bình Định. Trong quá trình chung sống vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn; đến năm 2021, bà H đã ra sống riêng cùng con gái và vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Nay bà H yêu cầu ly hôn, ông không đồng ý vì vợ chồng ông đã lớn tuổi, có bốn người con chung đã trưởng thành và có sui gia.

Về con chung: Vợ chồng anh chị có 04 con chung tên Nguyễn Thị Thu T, sinh ngày 29/11/1988; Nguyễn Thế V, sinh ngày 06/8/1991; Nguyễn Thị Thu H1, sinh ngày 16/8/1996 và Nguyễn Thị Thu H2, sinh ngày 05/02/1998, hiện 04 con đã trưởng thành, sức khoẻ bình thường nên ông không yêu cầu gì về con chung.

Về tài sản chung, vợ chồng tự thoả thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát:

Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị: Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; chấp nhận yêu cầu khởi kiện cho bà Nguyễn Thị H được ly hôn ông Nguyễn Thế Q; Bà H, ông Q có 04 con chung tên Nguyễn Thị Thu T, sinh ngày 29/11/1988; Nguyễn Thế V, sinh ngày 06/8/1991; Nguyễn Thị Thu H1, sinh ngày 16/8/1996 và Nguyễn Thị Thu H2, sinh ngày 05/02/1998 đã trưởng thành, sức khoẻ bình thường, không có yêu cầu gì về con chung nên không xem xét. Về tài sản chung, không yêu cầu, nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Nguyên đơn bà Nguyễn Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết về việc ly hôn. Cho nên, Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định đã thụ lý và đưa ra xét xử vụ án dân sự về việc ly hôn theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Tại phiên tòa lần hai, nguyên đơn bà Nguyễn Thị H vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn ông Nguyễn Thế Q vắng mặt lần thứ hai không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa. Cho nên, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án theo khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Thế Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Bình Định vào ngày 17/5/1993, nên hôn nhân giữa bà H và ông Q là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống, giữa bà H và ông Q đã nảy sinh mâu thuẫn đến mức không thể sống chung và đã ly thân mỗi người sống mỗi nơi hơn 02 năm nay. Bà H yêu cầu ly hôn, ông Q không đồng ý ly hôn vì vợ chồng đã lớn tuổi, có bốn người con chung đã trưởng thành và đã có sui gia nhưng ông cũng không có động thái gì để làm thay đổi tình trạng mâu thuẫn vợ chồng; Tòa án đã nhiều lần triệu tập, thông báo nhưng ông Q không đến Tòa và có ý thức bỏ mặc, không có động thái để hàn gắn tình cảm vợ chồng nên mục đích hôn nhân không đạt được. Cho nên, theo khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Tòa chấp nhận cho bà H và ông Q được ly hôn.

[4] Bà H và ông Q có 04 con chung tên Nguyễn Thị Thu T, sinh ngày 29/11/1988; Nguyễn Thế V, sinh ngày 06/8/1991; Nguyễn Thị Thu H1, sinh ngày 16/8/1996 và Nguyễn Thị Thu H2, sinh ngày 05/02/1998 đã trưởng thành, sức khoẻ bình thường, không có yêu cầu gì về con chung nên không xem xét.

[5] Về tài sản chung, do các bên không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm, theo điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà H phải chịu án phí về ly hôn là 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[7] Ý kiến của Kiểm sát viên về giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định nêu trên của Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị H. Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Thế Q.
  2. Về nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn Thế Q có 04 con chung tên Nguyễn Thị Thu T, sinh ngày 29/11/1988; Nguyễn Thế V, sinh ngày 06/8/1991; Nguyễn Thị Thu H1, sinh ngày 16/8/1996 và Nguyễn Thị Thu H2, sinh ngày 05/02/1998 đã trưởng thành, sức khoẻ bình thường, không có yêu cầu gì về con chung nên không xem xét.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị H phải chịu án phí về ly hôn là 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001731, ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định.
  4. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phước;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Phước;
  • - UBND xã Phước Sơn, huyện Tuy Phước;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Cẩm Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 303/2024/HNGĐ-ST ngày 23/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định về ly hôn

  • Số bản án: 303/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Tuy Phước, tỉnh Bình Định
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger