TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 303/2023/HSST Ngày: 29-11-2023 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tống Thị Kim Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Quỹ
Bà Trịnh Thị Lan
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Anh Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định tỉnh Nam Định
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Giang - Kiểm sát viên
Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 290/2023/TLST-HS ngày 13-11-2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 290/2023/QĐXXST-HS ngày 17-11-2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Hoàng K; sinh năm 1999; giới tính: Nam; nơi sinh: tỉnh Sóc Trăng; nơi đăng ký thường trú: Số E V, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 9/12; con ông Nguyễn Hoàng K1 và bà Nguyễn Thị D; vợ Phạm Ngọc H (đã ly hôn); có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04-9-2023, chuyển tạm giam ngày 13-9-2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N; có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Anh Nguyễn Xuân H1, sinh năm 1990; nơi đăng ký thường trú: N, phường H, quận H, thành phố Hà Nội; nơi cư trú: Xóm A, xã Đ, huyện N, tỉnh Nam Định (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hoàng K có mối quan hệ quen biết với anh Nguyễn Xuân H1. Do không có tiền tiêu xài cá nhân nên khoảng tháng 7 năm 2022 Nguyễn Hoàng K đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tiền của anh H1. Ngày 03-7-2022 K đã sử dụng tài khoản Zalo “Khương Hảo” nhắn tin cho tài khoản zalo “Cây xanh Nam Điền” của anh H1 nói dối K có 09 cây tùng la hán và 06 cây nguyệt quế muốn bán cho anh H1 với giá 90.000.000 đồng. Do đã một lần mua cây cảnh của K nên anh H1 tin tưởng. Khương yêu cầu anh H1 phải đặt cọc trước số tiền 45.000.000 đồng, anh H1 đồng ý. Để anh H1 tin tưởng chuyển tiền, K dùng hình ảnh cây đã bán cho nhiều người từ lâu gửi cho anh H1, thực tế K không có cây cảnh và cũng không liên hệ với ai để mua số lượng cây cảnh như đã thỏa thuận với anh H1. Ngày 04-7-2022, tại quán C (địa chỉ A đường T, thành phố N), anh H1 đã dùng số tài khoản 19029132644011 Ngân hàng Thương mại cổ phần K2 (T) mang tên Nguyễn Xuân H1 chuyển 20.000.000 đồng vào Ngân hàng Thương mại cổ phần N (V) số tài khoản 0881000476345 của K. Sau đó K nói dối cần thuê người làm cây và thuê xe chở cây ra cho anh H1 nên ngày 28-7-2022, anh H1 đã chuyển tổng số tiền 15.000.000 đồng cho K. Ngày 29-7-2022, K tiếp tục gửi hình ảnh và video chuyển cây lên xe đã quay từ trước đó và nói dối cây đang được vận chuyển ra Nam Định nên anh H1 đã chuyển nốt số tiền 10.000.000 đồng còn lại. Tổng số tiền 45.000.000 đồng K đã tiêu xài cá nhân hết. Sau đó, K chặn liên lạc với anh H1 vứt bỏ sim điện thoại và đi khỏi nơi cư trú.
Ngày 02-9-2023, anh H1 đã đến Công an thành phố N để trình báo đồng thời giao nộp cho Cơ quan điều tra nội dung tin nhắn thể hiện việc giao dịch mua bán cây với K và lịch sử giao dịch chuyển khoản số tiền 45.000.000 đồng từ tài khoản của anh H1 đến tài khoản của K.
Ngày 04-9-2023, Nguyễn Hoàng K đã đến trụ sở Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình và giao nộp 01 chiếc điện thoại Iphone XR màu xanh hiện đang sử dụng, còn chiếc điện thoại trước đây sử dụng để liên lạc với anh H1 do đã hỏng nên K vứt đi, vì vậy Cơ quan điều tra không thu hồi được.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã xác minh tại Ngân hàng Thương mại cổ phần N (V) chi nhánh N1 về thông tin chủ tài khoản ngân hàng Nguyễn Hoàng K số tài khoản 0881000476345, quá trình giao dịch phù hợp với lời khai của anh H1 và K.
Về vấn đề bồi thường dân sự: Anh Nguyễn Xuân H1 yêu cầu K phải hoàn trả lại toàn bộ số tiền 45.000.000 đồng K đã chiếm đoạt. Hiện K chưa trả cho anh H1 số tiền trên.
Bản cáo trạng số 309/CT-VKSND-TPNĐ ngày 13-11-2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Nguyễn Hoàng K về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa: Bị cáo Nguyễn Hoàng K khai nhận toàn bộ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản như bản cáo trạng đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố tại phiên tòa luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng K theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng K phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng K từ 24 tháng đến 30 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý vật chứng đã thu giữ. Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự buộc bị cáo Nguyễn Hoàng K phải trả lại số tiền 45.000.000 đồng đã chiếm đoạt của anh Nguyễn Xuân H1.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát đã nêu. Bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất, tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Về vấn đề bồi thường dân sự, bị cáo sẽ có trách nhiệm trả lại cho anh H1 số tiền 45.000.000 đồng đã chiếm đoạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Hoàng K, bị hại anh Nguyễn Xuân H1 không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ lời khai của bị cáo Nguyễn Hoàng K, lời khai của bị hại, đơn xin đầu thú cùng các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định: Mặc dù không có cây cảnh để bán nhưng từ ngày 03-7-2022 đến ngày 29-7-2022 Nguyễn Hoàng K có hành vi dùng thủ đoạn gian dối yêu cầu anh Nguyễn Xuân H1 chuyển số tiền 45.000.000 đồng qua Ngân hàng Thương mại cổ phần N (V) số tài khoản 0881000476345 của K để mua cây cảnh. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt của anh Nguyễn Xuân H1 số tiền 45.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý. Do đó bị cáo đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi năm 2017). Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định là có căn cứ.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo ra đầu thú, do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo Nguyễn Hoàng K không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Nguyễn Xuân H1 yêu cầu K phải hoàn trả lại toàn bộ số tiền 45.000.000 đồng K đã chiếm đoạt. Hiện K chưa trả cho anh H1 số tiền trên. Căn cứ vào Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) buộc bị cáo Nguyễn Hoàng K phải có trách nhiệm trả lại cho anh Nguyễn Xuân H1 số tiền 45.000.000 đồng đã chiếm đoạt
[6] Về biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR, màu xanh đã cũ là tài sản hợp pháp của bị cáo, xét không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hoàng K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 174, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng K phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng K 01 năm 11 tháng (Một năm mười một tháng) tù. Thời hạn tù của bị cáo được tính từ ngày 04-9-2023. - Biện pháp tư pháp: Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR màu xanh đã cũ nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án (chi tiết vật chứng ghi trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 23-11-2023).
- Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng K phải trả lại cho anh Nguyễn Xuân H1 số tiền 45.000.000 đồng.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày anh Nguyễn Xuân H1 có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bị cáo Nguyễn Hoàng K còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015. - Án phí: Bị cáo Nguyễn Hoàng K phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.250.000 (Hai triệu hai trăm năm mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Bị cáo Nguyễn Hoàng K được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại anh Nguyễn Xuân H1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- - Bị cáo;
- - Bị hại;
- - TAND tỉnh Nam Định;
- - VKSND TP. Nam Định;
- - Công an TP. Nam Định;
- - Chi cục THADS TP. Nam Định;
- - Lưu hồ sơ vụ án, VP.
Bản án số 303/2023/HSST ngày 29/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (fraudulent appropriation of property)
- Số bản án: 303/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Fraudulent appropriation of property)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH - TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hoàng K có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản
