|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 303/2023/KDTM-ST Ngày: 17/11/2023 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhoán.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Liên;
- Ông Nguyễn Văn Phú.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đài Trang – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tham gia phiên tòa: Nguyễn Thị Gấm, Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại phòng xử án trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 107/2022/TLST-KDTM ngày 03 tháng 11 năm 2022, về Tranh chấp hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 653/2023/QĐXX-ST ngày 10/10/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng N; trụ sở: 02 L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội.
- Bị đơn: Công ty TNHH T1. Trụ sở: 86 Cư xá N, đường N, Phường A, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ chi nhánh: 177/16 P, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Quang L, sinh năm 1991; Địa chỉ: 1 P, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Chu Thị Ngọc B, Địa chỉ: A đường L, Phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn - ông Nguyễn Thanh B1, sinh năm 1977; Địa chỉ: H L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Quang L - ông Nguyễn Thanh B1, sinh năm 1977; Địa chỉ: H L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, lời trình bày trong suốt quá trình tố tụng và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn - bà Chu Thị Ngọc B trình bày:
Ngân hàng N (đại diện là Ngân hàng N - Chi nhánh T2) và Công NHH Tư V và Đầu Tư Kim Tự T đã ký kết hợp đồng tín dụng số 6360-LAV-202100230 ngày 16/04/2021, với các nội dung sau: Số tiền vay là: 56.000.000.000 đồng; Lãi suất cho vay tại thời điểm ký hợp đồng: 8,5%/năm; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; Lãi suất áp dụng đối với lãi chậm trả là 5%/năm tính trên số dư lãi chậm trả ứng với thời gian chậm trả; Mục đích sử dụng tiền vay: Bổ sung vốn lưu động kinh doanh vật liệu xây dựng, kinh doanh hàng nông sản; Thời hạn cho vay: 12 tháng; Trả nợ gốc: Theo từng Giấy nhận nợ.
Đến hết ngày 15/11/2022, Công ty TNHH T1 còn nợ tại Ngân hàng số tiền là 56.000.000.000 đồng, theo các giấy nhận nợ sau: Giải ngân số 6360LDS202100692, ngày giải ngân 16/4/2021, ngày đến hạn 16/02/2022, số tiền vay 6.690.000.000đ; Giải ngân số 6360LDS202100817, ngày giải ngân 06/5/2021ngày đến hạn 07/3/2022số tiền vay 5.139.213.888₫Giải ngân số 6360LDS202100828ngày giải ngân 07/5/2021ngày đến hạn 07/3/2022số tiền vay 6.680.000.000₫Giải ngân số 6360LDS202100860ngày giải ngân 13/5/2021ngày đến hạn 14/3/2022số tiền vay 5.022937.380đGiải ngân số 6360LDS202100871ngày giải ngân 14/5/2021ngày đến hạn 14/3/2022số tiền vay 6.990.000.000₫Giải ngân số 6360LDS202100886ngày giải ngân 17/5/2021ngày đến hạn 17/3/2022số tiền vay 8.810.387.050₫Giải ngân số 6360LDS202100896ngày giải ngân 18/5/2021ngày đến hạn 18/3/2022số tiền vay 12.000.000.000₫Giải ngân số 6360LDS202100903ngày giải ngân 19/5/2021ngày đến hạn 21/3/2022số tiền vay 4.667.461.682đtổng số tiền vay là: 56.000.000.000 đồng.
Hợp đồng tín dụng nêu trên được bảo đảm bằng tài sản là Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 505, tờ bản đồ số 12 địa chỉ: phường L, Quận 1, Tp H theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 6360-LCL- 02000188 ngày 17/04/2020 để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi trong hạn, phạt quá hạn, các khoản phí và lệ phí khác liên quan. Hiện nay, các khoản nợ trên của Công ty TNHH T1 đã quá hạn. Ngân hàng đã gửi thông báo, làm việc nhiều lần với Công ty, yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng đến nay Công ty vẫn chưa thực hiện việc trả nợ. Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Buộc Công ty TNHH T1 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng toàn bộ số tiền tính đến ngày 17/11/2023 là 70.944.254.170 đồng, trong đó, nợ gốc là 56.000.000.000 đồng, lãi trong hạn là 10.929.742.467đồng, lãi quá hạn là 4.014.511.703đồng, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Đồng thời, Công ty TNHH T1 phải tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 18/11/2023 cho đến khi Công ty TNHH T1 trả hết nợ gốc cho ngân hàng theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 6360-LAV-202100230 ngày 16/04/2021 và các giấy nhận nợ.
- Trường hợp, Công ty TNHH T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 6360-LCL-202000188 ngày 17/04/2020 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
Nếu sau khi phát mãi mà giá trị phát mãi nhỏ hơn nghĩa vụ thanh toán nợ của Công ty TNHH T1 đối với Ngân hàng N thì Công ty TNHH T1 có trách nhiệm thanh toán phần tiền còn lại.
Trường hợp, nếu sau khi phát mãi mà giá trị phát mãi lớn hơn nghĩa vụ thanh toán nợ của Công ty TNHH T1 đối với Ngân hàng N thì Ngân hàng N phải hoàn trả phần giá trị còn lại cho bên bảo lãnh là ông Nguyễn Quang L
- Trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH T1 Nguyễn Thanh B1 trình bày: Công ty TNHH T1 nhận còn nợ gốc số tiền là 56.000.000.000đồng, còn nợ lãi do công ty đang gặp khó khăn nên xin ngân hàng giảm lãi cho công ty để có điều kiện trả nợ cho ngân hàng và xin thời gian 02 tháng để xử lý nợ, hạn chót là ngày 13/9/2023.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Quang L ông Nguyễn Thanh B1 trình bày: Ngân hàng xem xét, tạo điều kiện cho công ty T1 và ông L thời gian là 02 tháng kể từ ngày 13/7/2023 để tự xử lý tài sản để trả nợ cho ngân hàng.
Tại phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh B1 là người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH T1 là người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Quang L có mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu:
- Về tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm như: Nguyên tắc xét xử, thành phần Hội đồng xét xử, sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, sự có mặt của những người tham gia tố tụng tại phiên Tòa.
- Về nội dung: Căn cứ tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đại diện nguyên đơn đã đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân hàng N đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với Công ty TNHH T1 tại Toà án nhân dân quận Tân Bình là phù hợp quy định tại Điều 14 của hợp đồng tín dụng số 6360-LAV-202100230 ngày 16/04/202 và phù hợp với quy định khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên Toà án nhân dân quận Tân Bình thụ lý và giải quyết vụ án là đúng về thẩm quyền.
[2] Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Chu Thị Ngọc B có mặt; ông Nguyễn Thanh B1 là người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH T1 và là người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Quang L đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn:
[3.1] Xét yêu cầu nợ gốc: Ngân hàng yêu cầu Công ty TNHH T1 thanh toán số tiền nợ gốc là 56.000.000đồng.
Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các đương sự thể hiện giữa Ngân hàng và bị đơn Công ty TNHH T1 có ký hợp đồng tín dụng số 6360-LAV-202100230 ngày 16/04/2021 và các khế ước nhận nợ. Tại biên bản hòa giải ngày 13/7/2023, bị đơn cũng thừa nhận Công ty TNHH T1 còn nợ ngân hàng số tiền gốc là 56.000.000.000₫ chưa thanh toán. Do cả nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận nên nguyên đơn không phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền nợ gốc là 56.000.000.000₫ là phù hợp với quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 24 Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng (ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng N1).
[3.2] Xét yêu cầu tiền lãi:
Tại Điều 4 hợp đồng tín dụng số 6360-LAV-202100230 ngày 16/04/2021 đã thỏa thuận: Lãi suất cho vay tại thời điểm ký hợp đồng: 8,5%/năm; Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; Lãi suất áp dụng đối với lãi chậm trả là 5%/năm tính trên số dư lãi chậm trả ứng với thời gian chậm trả. Căn cứ vào Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất theo quy định của pháp luật”. Xét thấy, việc thỏa thuận lãi suất giữa nguyên đơn và bị đơn theo Hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện và không trái pháp luật. Bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tiền lãi tính đến ngày 17/11/2023 là 70.944.254.170 đồng, trong đó, nợ gốc là 56.000.000.000 đồng, lãi trong hạn là 10.929.742.467đồng, lãi quá hạn là 4.014.511.703đồng là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3.3] Về tài sản thế chấp:
Hợp đồng tín dụng nêu trên được bảo đảm bằng tài sản là quyền sử dụng đất số BB 474343, số vào sổ cấp giấy CN CH 0042 ngày 28/6/2010, thửa đất số 505, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại phường L, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Việc thế chấp đã được hai bên ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 6360-LCL-202000188 ngày 17/04/2020, đã được đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số vào sổ tiếp nhận hồ sơ số 7827 ngày 20/4/2020 tại Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố H – Chi nhánh Q. Vì vậy, đối với yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu Tòa án tuyên buộc phát mãi tài sản thế chấp là bất động sản nêu trên để thu hồi nợ trong trường hợp Công ty TNHH T1 thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ là có cơ sở, phù hợp với quy định tại các Điều 299, 318, 319 và 323 Bộ luật dân sự 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Từ phân tích [3.1], [3.2], [3.3], Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[4] Xét yêu cầu của nguyên đơn đối với chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:
Căn cứ theo khoản 1 Điều 157 và khoản 1 Điều 158 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Bị đơn Công ty TNHH T1 có trách nhiệm hoàn trả lại cho Ngân hàng N chi phí xem xét thẩm định tại chỗ số tiền 20.000.000đồng.
[5] Về án phí sơ thẩm:
Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, yêu cầu của Ngân hàng N được chấp nhận nên:
- Bị đơn Công ty TNHH T1 chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 178.944.254 đồng.
- Hoàn lại cho Ngân hàng N số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, khoản 1 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 40 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Điều 227, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 299, 318, 319 và 323 Bộ luật dân sự 2015; Điều 91, 95 Luật tổ các chức tín dụng; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.
Quyết định:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N:
- Buộc Công ty TNHH T1 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng toàn bộ số tiền tính đến ngày 17/11/2023 là 70.944.254.170 đồng, trong đó, nợ gốc là 56.000.000.000 đồng, lãi trong hạn là 10.929.742.467đồng, lãi quá hạn là 4.014.511.703đồng, ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Đồng thời, Công ty TNHH T1 phải tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 18/11/2023đến khi Công ty TNHH T1 trả hết nợ gốc cho ngân hàng theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 6360-LAV-202100230 ngày 16/04/2021 và các giấy nhận nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất sẽ được tiếp tục điều chỉnh tại giai đoạn thi hành án.
- Trường hợp, Công ty TNHH T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm theo hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 6360-LCL-202000188 ngày 17/04/2020 đã được đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số vào sổ tiếp nhận hồ sơ số 7827 ngày 20/4/2020 tại Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố H – Chi nhánh Q đối với tài sản là quyền sử dụng đất số BB 474343, số vào sổ cấp giấy CN CH 0042 ngày 28/6/2010, thửa đất số 505, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại phường L, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.
- Về án phí sơ thẩm và chi phí xem xét thẩm định tại chỗ:
- Bị đơn Công ty TNHH T1 chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là 178.944.254 đồng.
- Hoàn lại số tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng N là 85.285.935 đồng biên lai thu số 0032208 ngày 27/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Bình Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn Công ty TNHH T1 có trách nhiệm hoàn trả lại cho Ngân hàng N chi phí xem xét thẩm định tại chỗ số tiền 20.000.000đồng.
- Về quyền kháng cáo, kháng nghị:
- Thi hành tại Cơ quan thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
Nếu sau khi phát mãi mà giá trị phát mãi nhỏ hơn nghĩa vụ thanh toán nợ của Công ty TNHH T1 đối với Ngân hàng N thì Công ty TNHH T1 có trách nhiệm thanh toán phần tiền còn lại. Trường hợp này, kể từ ngày tiếp theo của ngày phát mãi tài sản bảo đảm, cho đến khi thực hiện xong các khoản phải trả, Công ty TNHH T1 phải chịu lãi suất trên số tiền chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thi hành án.
Trường hợp, nếu sau khi phát mãi mà giá trị phát mãi lớn hơn nghĩa vụ thanh toán nợ của Công ty TNHH T1 đối với Ngân hàng N thì Ngân hàng N phải hoàn trả phần giá trị còn lại cho bên bảo lãnh là ông Nguyễn Quang L
Ngân hàng N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Công ty TNHH T1 và ông Nguyễn Quang L có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên có quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Nhoán |
Bản án số 303/2023/KDTM-ST ngày 17/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 303/2023/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/11/2023
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu đơn khởi kiện của nguyên đơn
