|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
|
Bản án số: 303/2024/DS-PT Ngày: 15-4-2024. V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền
- Các Thẩm phán:
- Bà Đỗ Thị Hòa.
- Bà Nguyễn Thị Kim Cương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Thuỳ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Trần Thị Thúy Ái - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.
Ngày 15/4/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 82/2024/TLPT-DS ngày 16 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 221/2023/DS-ST ngày 20 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 716/2024/QĐ-PT ngày 19 tháng 02 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm số 3526/2024/DS-PT ngày 19 tháng 03 năm 2024 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần B.
Trụ sở: Tầng A và tầng 5 tòa nhà Corner Stone, số A P, Phường P, Quận H, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Đỗ Nguyễn Thành T, sinh năm 1996; Địa chỉ liên hệ: Tầng D, Tòa nhà B, B Đ, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy uỷ quyền số 431/2022/UB-BVB ngày 17/8/2022) (có mặt).
- Bị đơn:
- Ông Nguyễn Huỳnh T1, sinh năm 1974; Địa chỉ liên hệ: 4 P, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Huỳnh T1: Bà Nguyễn Thị Ngọc T2, sinh năm 1950; Địa chỉ liên hệ: 4 P, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh - đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền số công chứng 006854, quyển số 07/2023 TP/CC-SCC/HĐGD lập tại Văn phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
- Bà Trịnh Thái H, sinh năm 1974; Địa chỉ: 1 B, Phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Ông Nguyễn Huỳnh T1, sinh năm 1974; Địa chỉ liên hệ: 4 P, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Công D, sinh năm 1997 (Có đơn xin vắng mặt).
- Bà Lê Thị Tố N, sinh năm 1999 (Có đơn xin vắng mặt).
Cùng địa chỉ: 1 B, Phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án như sau:
Trong đơn khởi kiện và các bản khai, biên bản hòa giải, nguyên đơn – Ngân hàng TMCP B do ông Đỗ Nguyễn Thành T là người đại diện theo ủy quyền trình bày trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa:
Ngày 15/11/2017, Ngân hàng TMCP B – Chi nhánh S (gọi tắt Ngân hàng B) và ông Nguyễn Huỳnh T1, bà Trịnh Thái H ký kết Hợp đồng tín dụng theo thông tin chi tiết như sau: Số Hợp đồng tín dụng 0477/2017/HĐTD2/BVB35; số tiền cho vay: 2.000.000.000 đồng; mục đích vay: vay mua bất động sản; thời điểm cấp vốn là ngày 15/11/2017; thời hạn cho vay: 240 tháng; lãi suất vay: 7.77%/năm trong 12 tháng đầu kể từ ngày giải ngân, sau đó thay đổi theo biên độ được quy định trong hợp đồng lao động và khế ước nhận nợ; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; thời gian điều chỉnh lãi: 06 tháng/lần; hình thức giải ngân: chuyển khoản.
Tài sản bảo đảm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng nêu trên là nhà đất tại thửa đất số 358, tờ bản đồ số 1, địa chỉ số A B, Phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BB862313, số vào sổ cấp GCN: CH01795 do Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/7/2010, đăng ký thay đổi gần nhất ngày 14/11/2017 cập nhật biến động cho ông Nguyễn Huỳnh T1 và bà Trịnh Thái H (Được thế chấp tại Ngân hàng B theo Hợp đồng thế chấp số 1155079.A.17.HĐTC.SG ngày 15/11/2017 được Phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận số công chứng 27933, quyển số 11 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15 tháng 11 năm 2017 và được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng Đ, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 16 tháng 11 năm 2017). Ngày 17 tháng 11 năm 2017 nguyên đơn đã giải ngân cho bị đơn số tiền 2.000.000.000 đồng theo Khế ước nhận nợ ngày 17/11/2017.
Quá trình sử dụng vốn, bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ không thanh toán nợ cho nguyên đơn mặc dù nguyên đơn đã nhiều lần liên hệ làm việc với bị đơn để yêu cầu thanh toán nợ, nhưng bị đơn cố tình trốn tránh và không thực hiện nghĩa vụ. Vì vậy, Ngân hàng B đã chuyển toàn bộ số nợ gốc và lãi của bị đơn sang nợ quá hạn từ ngày 17/5/2021. Tính đến thời điểm hiện tại, bị đơn đã trả được số tiền như sau: Nợ gốc: 433.368.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 790.578.408 đồng; Nợ lãi quá hạn: 20.574.200 đồng; lãi chậm trả: 16.952.529; tổng cộng là 1.261.473.137 đồng.
Do đó Ngân hàng B đề nghị Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh buộc: Ông Nguyễn Huỳnh T1 và bà Trịnh Thái H phải trả ngay một lần cho Ngân hàng B số tiền còn thiếu tạm tính đến ngày 20/7/2023 gồm: Nợ gốc: 1.566.632.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 193.340.162 đồng; Nợ lãi quá hạn: 89.219.939 đồng; Nợ lãi chậm trả: 11.854.190 đồng. Tổng cộng: 1.861.046.291 đồng.
Lãi suất tiếp tục phát sinh do các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng từ ngày 21/7/2023 cho đến ngày bị đơn thanh toán xong toàn bộ số nợ cho nguyên đơn.
Trường hợp bị đơn không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì Ngân hàng B được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là Quyền sử dụng đất và nhà ở tại thửa đất số 358, tờ bản đồ số 1 tại 1 B, Phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BB 862313, số vào sổ cấp GCN: CH 01795 do A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/7/2010, đăng ký thay đổi gần nhất ngày 14/11/2017.
Bị đơn ông Nguyễn Huỳnh T1 trình bày trong quá trình tố tụng, có bà Nguyễn Thị Ngọc T2 là đại diện theo ủy quyền trình bày tại phiên tòa: Ông T1 và bà Trịnh Thái H là vợ chồng hợp pháp và xác nhận có vay số tiền 2.000.000.000 đồng của Ngân hàng TMCP B (Hợp đồng tín dụng số 0477/2017/HĐTD2/BVB35; số tiền cho vay: 2.000.000.000 đồng; mục đích vay: vay mua bất động sản; thời điểm cấp vốn là ngày 15/11/2017; thời hạn cho vay: 240 tháng; lãi suất vay: 7.77%/năm trong 12 tháng đầu kể từ ngày giải ngân, sau đó thay đổi theo biên độ được quy định trong hợp đồng lao động và khế ước nhận nợ; lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn; thời gian điều chỉnh lãi: 06 tháng/lần; hình thức giải ngân: chuyển khoản) để mua bất động sản là nhà đất tại thửa đất số 358, tờ bản đồ số 1, địa chỉ số A B, Phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BB862313, số vào sổ cấp GCN: CH01795 do Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/7/2010, đăng ký thay đổi gần nhất ngày 14/11/2017 cập nhật biến động cho vợ chồng ông T1 bà H. Trong thời gian dịch bệnh, ông T1 bị mất việc làm và con gái của ông T1 trở bệnh nặng nên vợ chồng ông T1 không trả nợ cho Ngân hàng theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng. Hiện ông T1 đã có việc làm ổn định nên đề nghị Ngân hàng cho ông T1 được thanh toán nợ trong thời hạn 06 tháng đến 01 năm. Ông T1 xác nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đúng và xác nhận số tiền còn nợ nguyên đơn tạm tính đến ngày 20/7/2023 là Nợ gốc: 1.566.632.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 193.340.162 đồng; Nợ lãi quá hạn: 89.219.939 đồng; Nợ lãi chậm trả: 11.854.190 đồng. Tổng cộng: 1.861.046.291 đồng.
Đồng thời ông T1 cho biết hiện bà Trịnh Thái H đang thực tế cư trú tại S theo địa chỉ: G Keng L # 02-01.
Bị đơn bà Trịnh Thái H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác nhưng không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Công D và bà Lê Thị Tố N có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt trong quá trình tố tụng và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Huỳnh T1 đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị cho thời hạn 06 tháng đến 01 năm để trả nợ. Bị đơn bà Trịnh Thái H được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 221/2023/DS-ST ngày 20 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểma khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 158, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 235, các Điều 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 14, 16 Điều 4, khoản 2 Điều 91, Điều 95, khoản 3 Điều 98 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 335, 336, 339, 342 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 8, điểm a khoản 1 Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần B:
Buộc ông Nguyễn Huỳnh T1 và bà Trịnh Thái H có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B số tiền 1.861.046.291 đồng gồm: Nợ gốc: 1.566.632.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 193.340.162 đồng, lãi quá hạn (tính từ ngày 17/5/2021): 89.219.939 đồng và nợ lãi chậm trả lãi: 11.854.190 đồng tính đến ngày 20/7/2023 của Hợp đồng tín dụng số 0477/2017/HĐTD2/BVB35 ngày 15 tháng 11 năm 2017, Khế ước nhận nợ ngày 17 tháng 11 năm 2017.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trong trường hợp ông Nguyễn Huỳnh T1 và bà Trịnh Thái H không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần B có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản bảo đảm là thửa đất số 358, tờ bản đồ số 1, địa chỉ số A B, Phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BB862313, số vào sổ cấp GCN: CH01795 do Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Võ Anh T3 ngày 20 tháng 7 năm 2010, đăng ký thay đổi gần nhất ngày 14/11/2017 cập nhật biến động cho ông Nguyễn Huỳnh T1 và bà Trịnh Thái H do Chi nhánh Văn phòng Đ, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 14 tháng 11 năm 2017) theo Hợp đồng thế chấp bất động sản được Phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận số công chứng 27933, quyển số 11 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15 tháng 11 năm 2017 và được đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng Đ, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 16 tháng 11 năm 2017 để thu hồi nợ.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông Nguyễn Huỳnh T1 và bà Trịnh Thái H phải hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B 10.000.000 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Huỳnh T1 và bà Trịnh Thái H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 67.831.387đồng.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B số tiền 30.396.906 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp theo biên lai số AA/2022/0000438 ngày 10 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngoài ra, bản án dân sự sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và quyền thi hành án của các đương sự.
Ngày 02/8/2023, Bị đơn – Ông Nguyễn Huỳnh T1 kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu sửa án sơ thẩm theo hướng tính lại lãi trong hạn và lãi quá hạn cho phù hợp thông tư 01/2020/TTNHNN ngày 13/3/2020 được sửa đổi bởi thông tư 14/2021/TT-NHNN do tình hình dịch bệnh.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn không rút yêu cầu khởi kiện, bị đơn không rút yêu cầu kháng cáo.
Đại diện của nguyên đơn trình bày: Đề nghị hội đồng xét xử giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
Ngân hàng đã có chính sách giảm lãi và tạo điều kiện cho bị đơn trả nợ, cụ thể: Từ 17/11/2020, ngân hàng đã điều chỉnh lãi suất cho khách hàng từ 11,50% xuống 10,20%. Đến ngày 17/5/2021, Ngân hàng tiếp tục điều chỉnh giảm lãi suất cho khách hàng xuống 10,10%, lần cuối ngân hàng giảm lãi suất cho khách hàng là ngày 17/11/2021 theo đó lãi suất là 10,05% cho đến hết ngày 16/5/2023. Như vậy từ ngày 17/11/2020 đến hết ngày 16/5/2023 phía ngân hàng đã liên tục giảm lãi cho khách hàng từ 11,50% xuống 10,05% với thời gian 2,5 năm nhưng bị đơn vẫn không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ. Ngoài ra, tuy khách hàng đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng từ 17/5/2021 nhưng ngày 06/4/2022 khách hàng có văn bản xin thanh toán toàn bộ nợ quá hạn và rút bớt một phần tài sản bảo đảm là một chiếc xe ô tô. Ngân hàng đã chấp nhận yêu cầu rút một phần tài sản bảo đảm của bị đơn. Việc bị đơn đồng ý thanh toán nợ quá hạn được xem như đã đồng ý với việc tính lãi của ngân hàng. Hiện ngân hàng còn giữ của bị đơn bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BB862313, số vào sổ cấp GCN: CH01795 do Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Võ Anh T3 ngày 20 tháng 7 năm 2010, đăng ký thay đổi gần nhất ngày 14/11/2017 cập nhật biến động cho ông Nguyễn Huỳnh T1 và bà Trịnh Thái H do Chi nhánh Văn phòng Đ, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 14 tháng 11 năm 2017, thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà đất ngày 06/6/2018. Ngân hàng đồng ý trả lại cho bị đơn khi bị đơn thực hiện xong nhĩa vụ trả nợ cho ngân hàng.
Đại diện bị đơn trình bày: Bị đơn yêu cầu hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm theo hướng bị đơn chỉ phải trả nợ gốc và lãi trong hạn cho ngân hàng. Bị đơn thuộc trường hợp khó khăn bị ảnh hưởng dịch covid nên yêu cầu ngân hàng miễn lãi quá hạn và lãi phạt cho bị đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trình bày quan điểm:
- - Về tố tụng: Từ ngày thụ lý đến khi xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự đã thực hiện đầy đủ và đúng trình tự thủ tục tố tụng được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Về nội dung: Kháng cáo của bị đơn là không có cơ sở chấp nhận. Tuy nhiên, việc bản án sơ thẩm không quyết định về việc chấm dứt thế chấp, trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BB862313, số vào sổ cấp GCN: CH01795 do Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Võ Anh T3 ngày 20 tháng 7 năm 2010, đăng ký thay đổi gần nhất ngày 14/11/2017 cập nhật biến động cho ông Nguyễn Huỳnh T1 và bà Trịnh Thái H do Chi nhánh Văn phòng Đ, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 14 tháng 11 năm 2017, thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà đất ngày 06/6/2018 trong trường hợp bị đơn thực hiện xong nghĩa vụ cho nguyên đơn là có thiếu sót. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 2 điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự tuyên xử: không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án Dân dự sơ thẩm số 221/2023/DS - ST ngày 20 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền còn nợ theo Hợp đồng tín dụng, xử lý tài sản thế chấp. Căn cứ Điều 317, Điều 463 Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự, quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản.
Ông Nguyễn Huỳnh T1 cho rằng hiện bà Trịnh Thái H thực tế cư trú tại S theo địa chỉ: G Keng L # 02-01 nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ chứng minh. Căn cứ công văn số 1509/QLXNC-P5 ngày 18/5/2023 của Cục Q - Bộ C3 cho biết: bà Trịnh Thái H (nữ), sinh ngày 23/01/1974, CMND số [...] cấp ngày 18/3/2010; địa chỉ tại 1 B, Phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; được cấp hộ chiếu số C4194928 ngày 23/11/2017, hiện chưa có thông tin xuất cảnh. Do đó, xác định địa chỉ 1 B, Phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh là nơi cư trú cuối cùng của bà Trịnh Thái H. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 35, khoản a điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
- [2] Về sự vắng mặt của đương sự:
Bị đơn bà Trịnh Thái H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Công D và bà Nguyễn Thị Tố N1 có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
- [3] Xét kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Huỳnh T1 về việc yêu cầu sửa án sơ thẩm theo hướng tính lại lãi trong hạn và lãi quá hạn cho phù hợp với Thông tư 01/2020/TTNHNN ngày 13/3/2020 được sửa đổi bởi Thông tư 14/2021/TT-NHNN ngày 07/9/2021 của Ngân hàng N2 quy định về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng do dịch C -19.
Căn cứ Điều 117 Bộ luật Dân sự năm 2015, Hợp đồng tín dụng số 0477/2017/HĐTD2/BVB35 ngày 15/11/2017, khế ước nhận nợ ngày 17/11/2017 giữa nguyên đơn, bị đơn. Hợp đồng ký kết giữa nguyên đơn và bị đơn là hợp đồng có hiệu lực pháp luật. Các bên tham gia hợp đồng có nghĩa vụ thực hiện các thỏa thuận tại hợp đồng.
Căn cứ hợp đồng tín dụng số 0477/2017/HĐTD2/BVB35 ngày 15/11/2017 giữa nguyên đơn và bị đơn, lời khai của các đương sự thì hiện bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền nợ gốc là 1.566.632.000 đồng. Căn cứ Điều 466 của Bộ luật Dân sự 2015 về nghĩa vụ trả nợ của bên vay, toà sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả nợ gốc là đúng pháp luật.
Căn cứ thoả thuận của các bên tại hợp đồng tín dụng số 0477/2017/HĐTD2/BVB35 ngày 15/11/2017, khế ước nhận nợ ngày 17/11/2017, khi bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc, trả lãi vốn vay và lãi chậm trả tiền lãi, nguyên đơn chuyển số nợ gốc đã đến hạn thanh toán sang nợ quá hạn, tiền lãi trong hạn chưa thanh toán sẽ phải tính tiền lãi chậm trả là 10%/năm. Căn cứ Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N2 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng thì lãi suất các bên thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ là phù hợp với quy định của pháp luật. Bị đơn cho rằng căn cứ Thông tư 01/2020/TTNHNN ngày 13/3/2020, Thông tư 14/2021/TT-NHNN ngày 07/9/2021 của Ngân hàng N2 quy định về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng do dịch Covid – 19, bị đơn thuộc trường hợp được cơ cấu lại thời gian trả nợ, giảm lãi. Tuy nhiên, bị đơn không giao nộp được tài liệu, chứng cứ về việc bị đơn không có khả năng trả nợ đúng hạn nợ gốc và/hoặc lãi theo hợp đồng, thỏa thuận cho vay doanh thu, thu nhập sụt giảm bởi ảnh hưởng của dịch Covid -19 do tình hình dịch bệnh, bị đơn đã đề nghị với nguyên đơn về việc cơ cấu lại thời gian trả nợ, miễn giảm lãi theo quy định tại điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 4, Điều 5 Thông tư 01/2020/TTNHNN ngày 13/3/2020 và khoản 4, 5 Điều 4, Điều 5 Thông tư 14/2021/TT-NHNN ngày 07/9/2021. Ngày 05/04/2022, bị đơn có làm đơn đề nghị thanh toán toàn bộ nợ quá hạn và rút một phần tài sản bảo đảm. Nguyên đơn đã đồng ý cho bị đơn thanh toán toàn bộ nợ quá hạn và rút một phần tài sản bảo đảm là xe ô tô nhãn hiệu Honda BS 51F-716.05, tổng số tiền tất toán món vay là 362.586.066 đồng, nộp hết phần nợ trễ hạn của khoản vay được thế chấp bởi bất động sản là 20.571.029 đồng. Sau khi thanh toán hết nợ quá hạn, nguyên đơn đã đồng ý cho bị đơn thanh toán nợ lại hàng tháng theo như các hợp đồng tín dụng đã ký kết. Như vậy, bị đơn không thuộc trường hợp được cơ cấu lại thời gian trả nợ, miễm giảm lãi theo quy định của Ngân hàng N2 về việc hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng do dịch C – 19. Bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả lãi trong hạn, lãi quá hạn theo hợp đồng tín dụng đã ký là có căn cứ. Không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị đơn.
- [4] Về việc xử lý tài sản thế chấp:
Nguyên đơn và bị đơn đã ký Hợp đồng thế chấp nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 1155079.A.HĐTC.SG ngày 15/11/2017 được Phòng C2, Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận số công chứng 27933, quyển số 11 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 15 tháng 11 năm 2017, đăng ký giao dịch bảo đảm tại Chi nhánh Văn phòng Đ, Thành phố Hồ Chí Minh ngày 16 tháng 11 năm 2017 để thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở tại thửa đất số 358, tờ bản đồ số 1 tại 1 B, Phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BB 862313, số vào sổ cấp GCN: CH 01795 do A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/7/2010, đăng ký thay đổi gần nhất ngày 14/11/2017 đảm bảo cho nghĩa vụ thanh toán của bị đơn. Căn cứ các Điều 298, Điều 299, Điều 302, Điều 303 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ quy định về giao dịch bảo đảm; Nghị định 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010 về đăng ký giao dịch bảo đảm, hợp đồng thế chấp giữa nguyên đơn, bị đơn có hiệu lực pháp luật. Các bên tham gia hợp đồng có nghĩa vụ thực hiện các thỏa thuận tại hợp đồng.
Bị đơn thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở tại thửa đất số 358, tờ bản đồ số 1 tại 1 B, Phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của bị đơn bao gồm cả nợ gốc, lãi phát sinh, phí và các chi phí phát sinh khác liên quan theo các hợp đồng tín dụng bị đơn đã ký với nguyên đơn. Do đó, nguyên đơn yêu cầu xử lý tài sản thế chấp trong trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ là có cơ sở chấp nhận. Trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ của mình thì căn cứ các Điều 299, 303, 307 và 320 của Bộ luật Dân sự năm 2015, căn cứ các hợp đồng thế chấp giữa nguyên đơn và bị đơn, nguyên đơn được quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất và nhà ở tại thửa đất số 358, tờ bản đồ số 1 tại 1 B, Phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BB 862313, số vào sổ cấp GCN: CH 01795 do A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/7/2010, đăng ký thay đổi gần nhất ngày 14/11/2017 để thu hồi nợ cho ngân hàng. Trường hợp tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán cho các khoản nợ vay (bao gồm tiền nợ vốn và các khoản tiền lãi), các bị đơn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi trả hết toàn bộ số nợ vay cho Ngân hàng là đúng với quy định tại Điều 374 Bộ luật dân sự năm 2005.
Tuy nhiên, việc bản án sơ thẩm không quyết định về việc chấm dứt thế chấp, trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BB862313, số vào sổ cấp GCN: CH01795 do Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Võ Anh T3 ngày 20 tháng 7 năm 2010, đăng ký thay đổi gần nhất ngày 14/11/2017 cập nhật biến động cho ông Nguyễn Huỳnh T1 và bà Trịnh Thái H do Chi nhánh Văn phòng Đ, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 14 tháng 11 năm 2017, thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà đất ngày 06/6/2018 trong trường hợp bị đơn trả nợ cho nguyên đơn là thiếu sót. Tại phiên tòa phúc thẩm bà T2 đại diện của ông Nguyễn Huỳnh T1 đề nghị khi bị đơn trả nợ cho nguyên đơn thì đề nghị Ngân hàng trả lại cho bị đơn các giấy tờ nhà bản chính. Ngân hàng cũng đồng ý trong trường hợp bị đơn trả nợ cho nguyên đơn thì việc thế chấp chấm dứt. Ngân hàng Thương mại cổ phần B có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Nguyễn Huỳnh T1 và bà Trịnh Thái H các giấy tờ gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BB862313, số vào sổ cấp GCN: CH01795 do Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Võ Anh T3 ngày 20 tháng 7 năm 2010, đăng ký thay đổi gần nhất ngày 14/11/2017 cập nhật biến động cho ông Nguyễn Huỳnh T1 và bà Trịnh Thái H do Chi nhánh Văn phòng Đ, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 14 tháng 11 năm 2017, thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà đất ngày 06/6/2018.
- [5] Từ những nhận định trên và xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Huỳnh T1. Sửa một phần bản án sơ thẩm.
- [6] Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Huỳnh T1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của Bị đơn ông Nguyễn Huỳnh T1. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 221/2023/DS-ST ngày 20 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng Thương mại Cổ phần B:
- Buộc ông Nguyễn Huỳnh T1 và bà Trịnh Thái H có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B số tiền 1.861.046.291 đồng gồm: Nợ gốc là 1.566.632.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 193.340.162 đồng, lãi quá hạn là 89.219.939 đồng và nợ lãi chậm trả lãi là 11.854.190 đồng tính đến ngày 20/7/2023 của Hợp đồng tín dụng số 0477/2017/HDDTD2/BVB35 ngày 15 tháng 11 năm 2017, Khế ước nhận nợ ngày 17 tháng 11 năm 2017.
Ông Nguyễn Huỳnh T1 và bà Trịnh Thái H phải tiếp tục trả lãi cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B tiền lãi theo lãi suất được quy định tại Hợp đồng tín dụng và các khế ước nhận nợ từ ngày 21/7/2023 cho đến khi trả hết nợ.
- Trường hợp bị đơn thực hiện xong nghĩa vụ thanh toán thì việc thế chấp chấm dứt. Ngân hàng Thương Mại cổ phần B có nghĩa vụ hoàn trả cho ông Nguyễn Huỳnh T1 và bà Trịnh Thái H các giấy tờ gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BB862313, số vào sổ cấp GCN: CH01795 do Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Võ Anh T3 ngày 20 tháng 7 năm 2010, đăng ký thay đổi gần nhất ngày 14/11/2017 cập nhật biến động cho ông Nguyễn Huỳnh T1 và bà Trịnh Thái H do Chi nhánh Văn phòng Đ, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 14 tháng 11 năm 2017; thông báo nộp lệ phí trước bạ nhà đất ngày 06/6/2018.
- Trong trường hợp ông Nguyễn Huỳnh T1 và bà Trịnh Thái H không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản nợ nêu trên thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần B có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản bảo đảm. Ông Nguyễn Huỳnh T1, bà Trịnh Thái H và những người đang cư trú tại nhà số A B, Phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh phải giao tài sản là quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở tại thửa đất số 358, tờ bản đồ số 1, địa chỉ số A B, Phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành BB862313, số vào sổ cấp GCN: CH01795 do Ủy ban nhân dân Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Võ Anh T3 ngày 20 tháng 7 năm 2010, đăng ký thay đổi gần nhất ngày 14/11/2017 cập nhật biến động cho ông Nguyễn Huỳnh T1 và bà Trịnh Thái H do Chi nhánh Văn phòng Đ, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 14 tháng 11 năm 2017 cho cơ quan thi hành án phát mãi. Nếu số tiền có được từ việc xử lý tài sản thế chấp sau khi thanh toán chi phí bảo quản, thu giữ, xử lý tài sản thế chấp lớn hơn giá trị nghĩa vụ thanh toán thì số tiền chênh lệch được trả cho ông Nguyễn Huỳnh T1 và bà Trịnh Thái H. Nếu số tiền này nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ thanh toán thì ông Nguyễn Huỳnh T1 và bà Trịnh Thái H phải tiếp tục thực hiện phần nghĩa vụ chưa được thanh toán.
- Buộc ông Nguyễn Huỳnh T1 và bà Trịnh Thái H có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B số tiền 1.861.046.291 đồng gồm: Nợ gốc là 1.566.632.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 193.340.162 đồng, lãi quá hạn là 89.219.939 đồng và nợ lãi chậm trả lãi là 11.854.190 đồng tính đến ngày 20/7/2023 của Hợp đồng tín dụng số 0477/2017/HDDTD2/BVB35 ngày 15 tháng 11 năm 2017, Khế ước nhận nợ ngày 17 tháng 11 năm 2017.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông Nguyễn Huỳnh T1 và bà Trịnh Thái H phải hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B 10.000.000 đồng.
- Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Nguyễn Huỳnh T1 và bà Trịnh Thái H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 67.831.387 đồng.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần B không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B số tiền 30.396.906 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự đã nộp theo biên lai số AA/2022/0000438 ngày 10 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Nguyễn Huỳnh T1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm nên được hoàn lại tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm 300.000 đồng theo biên lai thu số 0043895 ngày 02/8/2023 của Chi cục thi hành án Dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Quyền và nghĩa vụ của đương sự được thực hiện tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được áp dụng theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| CÁC THẨM PHÁN | ||
| Đỗ Thị Hòa | Nguyễn Thị Kim Cương | Nguyễn Thị Huyền |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Huyền |
13
Bản án số 303/2024/DS-PT ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản
- Số bản án: 303/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP B tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp với ông Nguyễn Huỳnh T1, bà Trịnh Thái H
