Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LONG BIÊN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 303/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 02/8/2024

V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Cương

Bà Bùi Thị Hảo

- Thư ký phiên toà: Ông Lưu Tuấn Long - Thư ký Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Hương - Kiểm sát viên

Ngày 02 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, Thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 521/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 11 năm 2023 về: Tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 51/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1987; Địa chỉ: Thôn T, xã T, thị xã S, Thành phố Hà Nội (Có mặt).
  2. Bị đơn: Anh Chu Nhân C, sinh năm 1983; Địa chỉ: Số 26 ngõ 198 phố N, tổ 5 phường N, quận L, Thành phố Hà Nội (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai và các lời khai tiếp theo tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị M trình bày:

Về hôn nhân:

Chị và anh Chu Nhân C kết hôn tự nguyện, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường N, quận L, Thành phố Hà Nội ngày 29 tháng 11 năm 2014. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh C không quan tâm đến gia đình, cờ bạc dẫn đến nợ nần và phải đi chấp hành án. Từ tháng 5/2023 sau khi mãn hạn tù, mâu thuẫn giữa chị và anh C càng căng thẳng hơn. Từ tháng 7 năm 2023 chị đã ly thân và không sống cùng nhà với anh C nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn và xin được ly hôn anh C.

Tại bản tự khai của anh C đối với yêu cầu của nguyên đơn có trong hồ sơ vụ án thể hiện anh C khai về quan hệ hôn nhân phù hợp với lời khai của chị M.

Về con chung:

Chị M khai vợ chồng có 01 con chung là cháu Chu Mai A, sinh ngày 31/7/2015. Chị M đề nghị được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.

Anh C công nhận có 01 con chung như chị M khai và đề nghị được nuôi dưỡng con chung.

Về tài sản chung và nợ:

Chị M khai vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh C cũng khai vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh C vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đảm bảo thẩm quyền và hành vi tố tụng khác theo đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung:

  • Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.
  • Về con chung: Giao con chung cho chị M nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh C.
  • Về tài sản chung và nợ: Không có yêu cầu nên không xem xét.
  • Về án phí: Chị M phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:

Về tố tụng: Anh Chu Nhân Chính vắng mặt lần thứ hai tại phiên toà. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị M và anh Chu Nhân C trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là hôn nhân hợp pháp.

Theo chị M trình bày nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do không hợp tính cách, bất đồng quan điểm sống, anh C không chăm lo đến gia đình, không quan tâm chăm sóc con cái. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên hòa giải, hàn gắn nhưng không có kết quả. Từ tháng 7 năm 2023 đến nay vợ chồng đã sống ly thân, chị M không sống cùng nhà với anh C nữa, không ai quan tâm đến ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn rất trầm trọng nên không thể tiếp tục chung sống được nữa.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập anh C để tiến hành hòa giải nhưng anh C vắng mặt không có lý do. Việc anh C cố tình không đến Tòa án cũng thể hiện anh không tha thiết hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hội đồng xét xử thấy mâu thuẫn giữa chị M, anh C đã trầm trọng, khả năng hàn gắn tình cảm vợ chồng không còn nên đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét thấy với điều kiện và hoàn cảnh thực tế của anh, chị thì không thể có cuộc sống vợ chồng hạnh phúc. Vì vậy cho chị M, anh C ly hôn là phù hợp với Điều 56 của Luật hôn nhân gia đình.

Về con chung: Xác nhận chị M, anh C có 01 con chung là cháu Chu Mai A, sinh ngày 31/7/2015. Ly hôn chị M xin được nuôi dưỡng cháu A và không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con. Tại đơn đề nghị, cháu A có nguyện vọng được ở với mẹ. Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã yêu cầu anh C cung cấp chứng cứ chứng minh nơi ở và thu nhập nhưng anh C không giao nộp. Xét thấy chị M có thu nhập và nơi ở ổn định, nguyện vọng của chị phù hợp với nguyện vọng của cháu A. Vì vậy giao cháu A cho chị M nuôi dưỡng là hợp lý. Về việc cấp dưỡng nuôi con: Do chị M không yêu cầu nên tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh C.

Về tài sản chung: Chị M, anh C xác nhận không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về nợ: Chị M, anh C xác nhận không nợ ai, không cho ai vay và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị M phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên !

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 146, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị M đối với anh Chu Nhân C.

Chị Nguyễn Thị M được ly hôn với anh Chu Nhân C.

Về con chung: Xác nhận chị M, anh C có 01 con chung là cháu Chu Mai A, sinh ngày 31/7/2015. Giao cháu A cho chị M nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh C cho đến khi chị M có yêu cầu hoặc đến khi có quyết định khác của pháp luật.

Anh C có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được ngăn cản.

Về tài sản chung: Chị M, anh C xác nhận không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về nợ: Chị M, anh C xác nhận không nợ ai và không cho ai vay, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Giấy thu tiền số 755318 ngày 01/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự quận Long Biên.

Chị Nguyễn Thị M được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Anh Chu Nhân C được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội;
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự quận Long Biên;
  • - Đương sự;
  • - Cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn;
  • - Lưu VP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Anh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 303/2024/HNGĐ-ST ngày 02/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 303/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger