TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 303/2024/HC-PT Ngày: 17-4-2024 V/v Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Phạm Trí Tuấn
Các Thẩm phán: Ông Hoàng Thanh Dũng
Ông Phan Văn Yên
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Minh Anh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đức - Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 và 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số: 819/2023/TLPT-HC ngày 08 tháng 11 năm 2023 về việc “Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 17/2023/HC-ST ngày 05 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 563/2024/QĐPT-HC ngày 21 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
* Người khởi kiện: Bà Phan Thị R, sinh năm 1983 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp L, xã Đ, Thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
Đại diện theo ủy quyền: Nguyễn Thị C, sinh năm 1959 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: B ấp M, xã M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
* Người bị kiện:
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố M, tỉnh Tiền Giang (có đơn xin xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: Số C đường H, Phường G, Thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp:
- Phạm Thị Trúc H – Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường.
- Trần Thanh D – Phó Giám đốc Ban quản lý dự án và Phát triển quỹ đất. (Bà H có mặt, ông D vắng mặt)
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân thành phố M, tỉnh Tiền Giang (có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Số C đường H, Phường G, Thành phố M, tỉnh Tiền Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp:
- Phạm Thị Trúc H – Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường.
- Trần Thanh D – Phó Giám đốc Ban quản lý dự án và Phát triển quỹ đất. (Bà H có mặt, ông D vắng mặt)
- Người kháng cáo: Người bị kiện là Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố M
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn trình bày của Người khởi kiện bà Phan Thị R:
Bà bị thu hồi 02 phần đất để thực hiện đầu tư xây dựng công trình nâng cấp mở rộng đường N (đường H) theo Quyết định thu hồi đất số 724/QĐ-UBND ngày 04/01/2021 của UBND thành phố M. Một phần thuộc thửa 205, tờ bản đồ số 42 có diện tích 5,8m² đất trồng cây lâu năm theo Giấy chứng nhận QSĐĐ số CS09687 do Sở T cấp ngày 15/8/2017 cho bà Phan Thị R đứng tên. Một phần đất có diện tích 21,3m² thuộc thửa 205, tờ bản đồ số 50 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tọa lạc tại ấp L, xã Đ, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Tuy nhiên, Hội đồng bồi thường chỉ bồi thường cho bà 5,8m² đất trồng cây lâu năm và 7,1m² đất ngoài giấy chứng nhận còn 14,2m² thì không bồi thường. Phần đất chưa được cấp giấy chứng nhận là bà R được tặng cho và sử dụng ổn định không có tranh chấp với hộ liền kề. Bà đã khiếu nại đến UBND thành phố M nhưng không được chấp nhận. Nay bà khởi kiện yêu cầu Tòa án Hủy Quyết định số 4526/QĐ-UBND ngày 30/6/2021 của UBND thành phố M, tỉnh Tiền Giang về việc giải quyết khiếu nại của bà Phan Thị R. Kiến nghị UBND thành phố M thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 77 Luật đất đai và khoản 2, khoản 3 Điều 12 Nghị định số 47/2014 của Chính phủ để bồi thường cho bà phần diện tích đất chưa bồi thường là: 14,2m² x 9.820.000đ theo đơn giá của Hội đồng bồi thường với đất trồng cây lâu năm.
* Người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân thành phố M có đơn xin vắng mặt toàn bộ quá trình tố tụng và có văn bản trình bày: Bà Phan Thị R được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CS09687 công nhận cho bà R sử dụng 130,2m² (trong đó, đất ở nông thông là 50m² và đất trồng cây lâu năm là 80,2 m²) thuộc thửa đất số 205, tờ bản đồ số 42, tọa lạc tại ấp L, xã Đ, thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Phần chi chú: thửa đất 74,9m² đất trồng cây lâu năm thuộc hành lang lộ giới. Ngày 04/02/2021, Ủy ban nhân dân thành phố M ký Quyết định số 724/QĐ-UBND về việc thu hồi đất để thực hiện Công trình Nâng cấp mở rộng đường N (Đường T) đoạn từ Quốc lộ E đến Nguyễn Văn G có nội dung: Thu hồi 5,8m² đất trồng cây lâu năm của bà Phan Thị R theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS09687 nêu trên và 21,3m² đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của bà R thuộc thửa đất số 205, tờ bản đồ số 50 tọa lạc tại ấp L, xã Đ, thành phố M. Ngày 08/02/2021 Ủy ban nhân dân thành phố M ban hành Quyết định số 834/QĐ-UBND về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ đối với bà R với tổng số tiền là 153.000.270 đồng. Đồng thời, ngày 26/4/2021, Ủy ban nhân dân thành phố M ban hành Quyết định số 2662/QĐ-UBND về việc phê duyệt bổ sung kinh phí, bồi thường hỗ trợ 7,1m² đất nằm ngoài Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà bà R được công nhận với tổng số tiền là 69.722.000 đồng. Riêng phần đất còn lại là 14,2m² chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không được bồi thường. Qua kiểm tra thực tế ngày 11/6/2021 toàn bộ phần đất mà bà R đòi bồi thường nằm ngoài ranh đất bà R được Nhà nước công nhận và nằm ngoài ranh bản đồ địa chính do huyện C chuyển về thành phố M nên không được bồi thường là đúng qui định tại khoản 4, Điều 12 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ về đất khi Nhà nước thu hồi đất đối với trường hợp diện tích đo đạc thực tế khác với diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định: “Đối với phần diện tích đất nhiều hơn diện tích đất ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất mà diện tích đất nhiều hơn là do hành vi lấn, chiếm mà có thì không được bồi thường về đất”. Như vậy, Ủy ban nhân dân thành phố M ban hành Quyết định số 4526/QĐ-UBND ngày 30/6/2021 bác đơn khiếu nại của bà Phan Thị R là đúng quy định.
Tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện thay đổi yêu cầu khởi kiện, chỉ yêu cầu Hội đồng xét xử tuyên hủy 01 phần Quyết định số 4526/QĐ-UBND ngày 30/6/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố M đối với phần bồi thường phần đất bị thu hồi 14,2m².
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện xác định các quyết định hành chính liên quan đến thu hồi, bồi thường, hỗ trợ đối với bà R được ban hành đúng quy định của pháp luật, không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
Tại bản án hành chính sơ thẩm số 17/2023/HC-PT ngày 05/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang quyết định:
Căn cứ Điều 30, Điều 32, Điều 116, Điều 157, Điều 158, Điều 164, Điểm b Khoản 2 Điều 193 Điều 194 Luật Tố tụng hành chính; khoản 3, khoản 4 Điều 12 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ qui định về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất, Điều 62, 66, 75 Luật đất đai, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị R, đại diện ủy quyền là bà Nguyễn Thị C.
Hủy 01 phần Quyết định số 4526/QĐ-UBND ngày 30/6/2021 của Chủ tịch UBND thành phố M về việc giải quyết khiếu nại của bà Phan Thị R, ngụ ấp L, xã Đ, thành phố M có nội dung: Bác đơn khiếu nại của bà Phan Thị R ngụ ấp L A xã Đ, thành phố M khiếu nại Quyết định số 724/QĐ-UBND ngày 04/02/2021 của UBND thành phố M, tỉnh Tiền Giang về việc thu hồi đất để thực hiện đầu tư xây dựng công trình nâng cấp mở rộng đường N (đường T) đoạn từ Quốc lộ E đến Nguyễn Văn G có nội dung yêu cầu bồi thường 21,3m² đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất bị thu hồi để thực hiện công trình.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị R đối với 01 phần Quyết định số 4526/QĐ-UBND ngày 30/6/2021 của Chủ tịch UBND thành phố M về việc giải quyết khiếu nại của bà Phan Thị R, ngụ ấp L, xã Đ, thành phố M có nội dung: Giữ nguyên Quyết định số 724/QĐ-UBND ngày 04/02/2021 của UBND thành phố M, tỉnh Tiền Giang về việc thu hồi đất để thực hiện đầu tư xây dựng công trình nâng cấp mở rộng đường N (đường T) đoạn từ Quốc lộ E đến Nguyễn Văn G.
- Buộc UBND thành phố M thực hiên nhiệm vụ, công vụ bồi thường đất cho bà Phan Thị R diện tích 14,2m² (trong 21,3m²) để nâng cấp mở rộng đường N (đường T) thuộc ấp L A xã Đ, thành phố M, tỉnh Tiền Giang theo Quyết định số 724/QĐ-UBND ngày 04/02/2021 của UBND thành phố Mỹ Tho theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 29/9/2023 Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang nhận đơn kháng cáo của Chủ tịch UBND thành phố M đề ngày 25/9/2023 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Đề nghị cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm bác toàn bộ yêu cầu của người khởi kiện
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện của đơn xin xét xử vắng mặt; Người bị kiện là Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố M, tỉnh Tiền Giang và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố M, tỉnh Tiền Giang có đơn xin xét xử vắng mặt.
Chủ tịch UBND thành phố M giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đồng thời có gửi văn bản trình bày số 819/UBND – PTNMT ngày 04 tháng 3 năm 2024 với nội dung: Trường hợp đất của bà Phan Thị R là do ông Phan Ngọc V chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn H1, ông H1 tiếp tục chuyển nhượng cho bà Phan Thị R diện tích 130,2 m² (Trong đó có đất ở nông thôn 50 m², đất trồng cây lâu năm 80,2 m²) thuộc thửa đất số 205 tờ bản đồ số 42 (Phần ghi chú: thửa đất 74,9 m² đất trồng cây lâu năm thuộc hành lang lộ giới). Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà R thể hiện đầy đủ kích thước các cạnh. Phiếu xác nhận kết quả đo đạc ngày 15/9/2020 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T cạnh hướng Nam và hướng Bắc theo hiện trạng phần đất bà R sử dụng nhiều hơn so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phần nhiều hơn này năm trong đất lộ 879. Phần chuyển nhượng không có phần diện tích tăng như nêu trên.
Về quản lý đơn vị hành chính: ngày 31/10/2009, ấp L và L, xã H, huyện C được xác nhập về xã Đ, thành phố M. UBND Thành phố M đối chiếu bản đồ địa chính do UBND huyện C chuyển thì phần diện tích mà bà R không được bồi thường nằm ngoài bản đồ địa chính thuộc đường H.
Căn cứ khoản 4 Điều 12 Nghị định số 47/2014/NĐ – CP ngày 15/5/2014 UBND thành phố Mỹ Tho không bồi thường đối với phần đất nằm ngoài Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc hành lang lộ giới.
Bà Nguyễn Thị Trúc H2 bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố M, tỉnh Tiền Giang và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố M, tỉnh Tiền Giang đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm sửa bản án hành chính sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị R1 về việc hủy một phần Quyết định số: 4526/QĐ-UBND ngày 30/6/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố M về việc giải quyết khiếu nại của bà Nguyễn Thị R1 ấp L, xã Đ, thành phố M có nội dung: Bác đơn khiếu nại của bà Nguyễn Thị R1 ngụ ấp L, xã Đ, thành phố M khiếu nại Quyết định số: 724/QĐ-UBND ngày 04/02/2021 của UBND thành phố M, tỉnh Tiền Giang về việc thu hồi đất để thực hiện đầu tư xây dựng công trình nâng cấp mở rộng đường N (Đường T) đoạn từ Quốc lộ E đến Nguyễn Văn G có nội dung yêu cầu bồi thường 21,3 m² đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất bị thu hồi để thực hiện công trình. Phần đất nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà R1 thuộc hành lang lộ giới là 14,2 m² không được bồi thường, phần diện tích 7,1 m² nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà R1 nhưng không thuộc hành lang lộ giới thì được nhà nước hỗ trợ. Phần 5,8 m² nằm trong giấy chứng nhậ quyền sử dụng đất của bà R1 được bồi thường.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:
Về tố tụng, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Luật tố tụng hành chính về phiên tòa phúc thẩm. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Luật tố tụng hành chính.
Về nội dung: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, cùng trình bày của người bảo vệ quyền là lợi ích hợp pháp cho người bị kiện tại phiên tòa xét thấy kháng cáo của Chủ tịch UBND Thành phố M là có cơ sở chấp nhận.Đề nghị chấp nhận kháng cáo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố M sửa bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, dựa trên kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1] Đơn kháng cáo của Chủ tịch UBND Thành phố M nằm trong hạn luật định, về hình thức được xem là hợp lệ nên được đưa ra xét xử theo trình tự phúc thẩm.
[1.1] Tại phiên toà phúc thẩm, người khởi kiện, người bị kiện và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 225 Luật Tố tụng hành chính 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử phúc thẩm vắng mặt các đương sự này.
[1.2] Về đối tượng khởi kiện, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết:
Bà Phan Thị R khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định giải quyết khiếu nại số 4526/QĐ-UBND ngày 30/6/2021 của Chủ tịch UBND thành phố M, tỉnh Tiền Giang đối với bà R liên quan đến việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất, là quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, thuộc đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính tại Tòa án và còn trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại khoản 2 Điều 3, khoản 1 Điều 30 và điểm a khoản 2, khoản 3 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính 2015. Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang thụ lý, giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính 2015.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện ủy quyền của bà R trình bày: bà R đồng ý Quyết định số 724/QĐ-UBND ngày 04/02/2021 của UBND thành phố M, tỉnh Tiền Giang về việc thu hồi đất để thực hiện đầu tư xây dựng công trình nâng cấp mở rộng đường N (đường T). Trong Quyết định trên có nội dung giữ nguyên Quyết định số: 724QĐ-UBND ngày 04/02/2021 của UBND thành phố M, tỉnh Tiền Giang. Bà R đồng ý nên rút lại một phần yêu cầu khởi kiện này. Việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của người đại diện ủy quyền là tự nguyện nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận và đình chỉ yêu cầu khởi kiện này của bà R. Phần Quyết định này của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật.
[2] Về nội dung: Xét tính hợp pháp của Quyết định giải quyết khiếu nại số 4526/QĐ-UBND ngày 30/6/2021 của Chủ tịch UBND thành phố M
[2.1] Về trình tự, thủ tục, thẩm quyền ban hành
Thực hiện Quyết định số 3694/QĐ-UBND ngày 31/10/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh T về việc đầu tư xây dựng công trình Nâng cấp, mở rộng đường N (ĐT.879) đoạn từ QL.50 đến đường N, Ủy ban nhân dân thành phố M đã ban hành Quyết định số 738/QĐ-UBND ngày 04/02/2021 phê duyệt phương án và kinh phí bồi thường, hỗ trợ để thực hiện công trình trên với 199 hộ gia đình, cá nhân bị ảnh hưởng, trong đó có 188 hộ bị ảnh hưởng vật kiến trúc, cây trồng không ảnh hưởng đất và 11 hộ bị thu hồi đất trong đó có hộ bà Phan Thị R (chồng là ông Nguyễn Văn H1).
Ngày 04/02/2021, UBND thành phố M, tỉnh Tiền Giang ban hành Quyết định số 724/QĐ-UBND thu hồi đất của bà Phan Thị R, trong đó, được bồi thường 5,8m² đất trồng cây lâu năm (thuộc thửa 205 tờ bản đồ số: 42 theo GCN QSD đất được cấp và 21,3 m² đất nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất)
Ngày 08/02/2021 UBND Thành phố M ban hành Quyết định số 834/QĐ -UBND về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ đối với bà R phần đất diện tích 5,8 m² với số tiền: 153.000.270 đồng; ngày 26/4/2021 UBND Thành phố M ban hành Quyết định số 2662/QĐ –UBND về việc phê duyệt bổ sung kinh phí, bồi thường hỗ trợ 7,1 m² đất nằm ngoài GCN.QSD đất của bà R với số tiền 69.722.000 đồng. Phần diện tích 14,2 m² không được bồi thường.
Bà Phan Thị R gửi đơn khiếu nại Quyết định số 724/QĐ-UBND ngày 04/02/2021 nêu trên.
Ngày 30/6/2021, Chủ tịch UBND thành phố M ban hành Quyết định số 4526/QĐ-UBND giải quyết khiếu nại của bà R là đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định tại Điều 18, 27, 28, 29, 31 Luật khiếu nại năm 2011.
[2.2] Về nội dung: Xét yêu cầu bồi thường đối với diện tích đất bị thu hồi theo Quyết định thu hồi đất số 724/QĐ-UBND ngày 04/02/2021 của UBND thành phố M.
[2.2.1] Về nguồn gốc pháp lý của diện tích đất nêu trên:
Ngày 25/8/2006 ông Phạm Ngọc V1 được UBND huyện C cấp Giấy chứng nhận QSD đất số: H10253, diện tích 167 m² (50 m² đất ở nông thôn và 117 m² đất trồng cây lâu năm).
Ngày 24/5/2007 ông Phạm Ngọc V1 lập hợp đồng chuyển nhượng 36,8 m² cho ông Nguyễn Văn H1 (chồng bà R) thửa 798. Phần còn lại ông V1 được UBND huyện C cấp GCN. QSD đất số H15042 ngày 18/6/2003 diện tích sử dụng 130,2 m² (50 m² đất ở nông thôn và 80,2 m² đất trồng cây lâu năm) thuộc thửa 798, tờ bản đồ số 839, sơ đồ thửa đất số 798 giáp đường tỉnh lộ 798 và QL 50.
Ngày 05/12/2014 ông Phạm Ngọc V1 lập hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ diện tích 130,2 m² cho ông Nguyễn Văn H1.
Ngày 27/3/2015 ông Nguyễn Văn H1 được UBND Thành phố M cấp GCN.QSD đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất số CH04678 diện tích 130,2 m² (50 m² thổ cư nông thôn và 80,2 m² đất trồng cây lâu năm), thuộc thửa 205, tờ bản đồ số 42. Phần ghi chú: “74,9 m² đất trồng cây lâu năm thuộc hành lang lộ giới”.
Ngày 02/7/2017 ông Nguyễn Văn H1 chuyển nhượng toàn bộ diện tích 130,2 m² cho vợ là bà Phan Thị R.
Ngày 15/8/2017 bà Phan Thị R được Sở TN&MT tỉnh T cấp GCN QSD đất số: CS9678 diện tích 130,2 m² (50 m² thổ cư nông thôn và 80,2 m² đất trồng cây lâu năm), thuộc thửa 205, tờ bản đồ số 42. Phần ghi chú: “74,9 m² đất trồng cây lâu năm thuộc hành lang lộ giới”.
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: “Sơ đồ thửa đất thể hiện hướng Đông thửa đất số 205 giáp đường N ( tỉnh lộ 879)”.
Biên bản họp Hội đồng bồi thường, hỗ trợ để giải quyết khó khăn vướng mắc công trình Nâng cấp mở rộng đường N của Hội đồng bồi thường và tái định cư có nội dung: Đối với trường hợp của ông Nguyễn Văn H1 và bà Phan Thị R, căn cứ vào bản đồ địa chính chính quy để xác định diện tích đất bồi thường”. (BL 97 – 100).
Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 9678 ngày 15/8/2017 đã cấp cho bà R, với diện tích 130,2 m² (có ghi chú: thửa đất 74,9 m² đất trồng cây lâu năm thuộc hành lang lộ giới) thể hiện rõ kích thước cạnh. Trong đó, phần đất có diện tích 14,2 m² nằm trong hành lang lộ giới đường 879 không nằm trong phần đất bà R đã nhận chuyển nhượng từ các chủ cũ và cũng không nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp cho bà R.
[2.2.2] Về điều kiện để được bồi thường đối với diện tích 28,6m² đất trên:
Khi thực hiện dự án Nâng cấp, mở rộng đường N (ĐT.879), tại Phiếu kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 15/9/2020 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh T thì phần đất của bà R sử dụng có diện tích là 211,7m² trong đó: Diện tích trong công trình đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 5,8 m² (được bồi thường); Diện tích trong công trình chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng nằm ngoài hành lang lộ giới là 7,1 m² được hỗ trợ, phần 14,2 m² nằm ngoài giấy chứng nhậ và nằm trong hành lang lộ giới nên không được bồi thường.
Khoản 4 Điều 12 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ về đất khi Nhà nước thu hồi đất đối với trường hợp diện tích đo đạc thực tế khác với diện tích ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định: “Đối với phần diện tích đất nhiều hơn diện tích đất ghi trên giấy tờ về quyền sử dụng đất mà diện tích đất nhiều hơn là do hành vi lấn, chiếm mà có thì không được bồi thường về đất”. Do đó, Ủy ban nhân dân thành phố M không bồi thường cho bà Phan Thị R khi thu hồi phần đất diện tích nằm ngoài gấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà R nhưng thuộc hành lang lộ giới, hỗ trợ diện tích nằm ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không thuộc hành lang lộ giới là có căn cứ.
Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào Công văn số 1802/SGTVT ngày 26/10/2018 của Sở Giao thông vận tải tỉnh T (BL110) có nội dung: “Đường N (đường T) đoạn từ Nguyễn Văn G đến Quốc lộ E gồm 02 đoạn: Đoạn 1: Từ Nguyễn Văn G đến chùa V2 chiều rộng mặt đường là 6,5m chiều rộng nền đường là 10m; Đoạn 2: Từ chùa V2 đến Quốc lộ E: Chiều rộng mặt đường là từ 4,5-6,5m chiều rộng nền đường là 09m.” để cho rằng lộ giới đường 879 chỉ 09-10m là không chính xác bởi Công văn số 1802/SGTVT nêu trên chỉ xác định bề rộng của mặt đường hiện hữu, không phải là văn bản quy định lộ giới đường 879.
Căn cứ Quyết định số 38/QĐ-UBND ngày 02/8/2005 của Ủy ban nhân dân tỉnh T ban hành quy định lộ giới bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ đối với hệ thống đường tỉnh trên địa bàn tỉnh Tiền Giang, trong đó, quy định lộ giới đường tỉnh 879 – đoạn qua thành phố M: từ ngã ba A (QL50) đến giáp ranh xã L có lộ giới là 22m (tim đường mỗi bên là 11m). Năm 2012, Ủy ban nhân dân tỉnh T tiếp tục ban hành Quyết định số 21/QĐ-UBND và năm 2017 Ủy ban nhân dân tỉnh T ban hành Quyết định số 36/QĐ-UBND quy định lộ giới bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ đối với hệ thống đường tỉnh trên địa bàn tỉnh Tiền Giang, quy định lộ giới đường 879 đoạn qua thành phố M vẫn không thay đổi
Công văn số 819/UBND-PTNMT ngày 04/3/2024 của Ủy ban nhân dân thành phố M, tỉnh Tiền Giang thể hiện: Trong 11 hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất có 07 hộ bị thu hồi phần diện tích ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp và không được bồi thường do nằm trong hành lang lộ giới đường bộ tương tự như trường hợp của vợ chồng ông H1, bà R. Các hộ này đã chấp hành quyết định thu hồi đất, nhận tiền bồi thường và bàn giao mặt bằng đúng ranh giải tỏa.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét và có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố M, sửa bản án hành chính sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện
[3] Về án phí:
- Án phí hành chính sơ thẩm: Người khởi kiện bà R phải án phí hành chính sơ thẩm chịu do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận.
- Án phí hành chính phúc thẩm: Người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố M không phải chịu do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 241 Luật tố tụng hành chính năm 2015;
Chấp nhận kháng cáo của người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố M; Sửa bản án hành chính sơ thẩm 17/2023/HC-ST ngày 05 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang.
Tuyên xử:
- Bác yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị R về việc yêu cầu:
Hủy một phần Quyết định số: 4525/QĐ-UBND ngày 30/6/2021 của Chủ tịch UBND thành phố M về việc giải quyết khiếu nại của ông Nguyễn Văn H1 ấp L, xã Đ, thành phố M có nội dung: Bác đơn khiếu nại của ông Nguyễn Văn H1 ngụ ấp L, xã Đ, thành phố M khiếu nại Quyết định số: 725/QĐ-UBND ngày 04/02/2021 của UBND thành phố M, tỉnh Tiền Giang về việc thu hồi đất để thực hiện đầu tư xây dựng công trình nâng cấp mở rộng đường N (đường T) đoạn từ Quốc lộ E đến Nguyễn Văn G có nội dung yêu cầu bồi thường 32m² đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất bị thu hồi để thực hiện công trình.
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Phan Thị R đối với một phần Quyết định số: 4526/QĐ-UBND ngày 30/6/2021 của Chủ tịch UBND thành phố M về việc giải quyết khiếu nại của bà Phan Thị R ấp L, xã Đ, thành phố M có nội dung: Giữ nguyên Quyết định số: 724/QĐ-UBND ngày 04/02/2021 của UBND thành phố M, tỉnh Tiền Giang về việc thu hồi đất để thực hiện đầu tư xây dựng công trình nâng cấp mở rộng đường N (đường T) đoạn từ Quốc lộ E đến Nguyễn Văn G.
- Về án phí:
3.1 Án phí hành chính sơ thẩm: bà Phan Thị R phải chịu 300.000 đồng tiền án phí hành chính sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số: 000318 ngày 05/10/2022 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Tiền Giang.
3.2 Án phí hành chính phúc thẩm: Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố M không phải chịu. H3 lại tiền tạm ứng án phí cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố M 300.000₫ (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo các biên lai thu số 0008918 ngày 03/10/2023 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Tiền Giang.
- Các quyết định khác của bản án hành chính sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Trí Tuấn (đã ký) |
Bản án số 303/2024/HC-PT ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Số bản án: 303/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Phan Thị R kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang “Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”. Tuyên xử Chấp nhận kháng cáo của người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Mỹ Tho; Sửa bản án hành chính sơ thẩm 17/2023/HC-ST ngày 05 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang
