TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 303/2023/DS-PT Ngày: 23-8-2023 V/v tranh chấp đòi quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Đinh Thị Ngọc Yến |
| Các Thẩm phán: | Ông Đặng Văn Những |
| Bà Lê Thị Bích Tuyền |
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chiêu Linh, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Cẩm Chi, Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 186/2023/TLPT-DS ngày 26 tháng 6 năm 2023 về việc “Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 44/2023/DS-ST ngày 10 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 216/2023/QĐ-PT ngày 11 tháng 7 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm 1971.
Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn A, xã E, huyện E, tỉnh Đăk Lăk và bà Lê Thị Ánh T1, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn F, xã E, huyện E, tỉnh Đăk Lăk.
(Theo Văn bản ủy quyền ngày 08/8/2023).
Bị đơn: Ông Trần Văn K, sinh năm 1949.
Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Long An.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn: Bà Trần Ngọc C, sinh năm 1979; ông Trần Hoài Đ, sinh năm 1987.
Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Long An.
(Theo Văn bản ủy quyền ngày 19/8/2023).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Huỳnh Hà Quốc B, Chi nhánh Công ty L, Đoàn Luật sư tỉnh Bình Dương.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Khu phố D, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.
Ông Trần Quốc T2, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Long An.
Ông Trần Hoài Đ, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Long An.
Bà Huỳnh Thị Kim H, sinh năm 1975.
Địa chỉ: Ấp P, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
- Người kháng cáo: Bị đơn ông Trần Văn K.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 04/01/2019, ngày 10/12/2021 và những lời trình bày trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm, nguyên đơn ông Trần Văn T trình bày:
Ông Trần Văn T và ông Trần Văn K là anh em cùng cha khác mẹ. Trước đây, ông Trần Văn K1 là cha ruột của ông T và ông K có cho ông Trần Văn K quản lý sử dụng một khu đất để ở và nuôi các con. Sau đó, khoảng năm 1992 do không có đất ở nên ông Trần Văn T thỏa thuận nhận chuyển nhượng lại từ ông Trần Văn K diện tích khoảng 625m² với giá 07 chỉ vàng 24K có sự chứng kiến của ông K1. Thời điểm đó, ông Trần Văn K chưa được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với toàn bộ diện tích mà ông K đang sử dụng.
Sau khi thỏa thuận xong thì ông T đắp gò và cất nhà ở. Đến thời điểm có chính sách kê khai thì ông T và ông K đều kê khai đối với phần đất mà mỗi bên sử dụng. Đến khoảng năm 1994 thì ông K1 yêu cầu ông K và ông T làm giấy tay mua bán để tránh tranh chấp về sau. Do đó, các bên có lập “Giấy sang nhượng đất” thể hiện phần đất chuyển nhượng cặp bờ đê có chiều ngang 30m, chiều dài 31m, giá chuyển nhượng 07 chỉ vàng 24K năm 1994, có chữ ký xác nhận của ông Trần Văn T, ông Trần Văn K và hai người làm chứng.
Tuy nhiên đến năm 1997 thì chỉ có ông K được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong đó có thửa đất số 988, tờ bản đồ số 5, diện tích 3.086m² loại đất lúa giáp ranh với phần đất 625m² do ông T sử dụng, còn ông T thì vẫn chưa được cấp giấy. Đến năm 2002, do các con của ông K ngăn cản việc sử dụng đất và ông T nghĩ rằng phần diện tích ông T sử dụng đã cấp cho ông K nằm trong thửa đất số 988 nên ông T yêu cầu ông K sang tên thì ông K không đồng ý mà yêu cầu phải đưa thêm 02 chỉ vàng. Do không thỏa thuận được nên ông T khởi kiện đến Tòa án. Thời điểm giải quyết ở Tòa án thì ông T được biết phần diện tích do ông sử dụng chưa được cấp giấy nên ông T rút đơn khởi kiện và đến Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C để làm thủ tục cấp giấy. Khi đó, ông K cũng biết việc diện tích 625m² do ông T sử dụng chưa được cấp giấy và khi ông T làm thủ tục cấp giấy thì ông K cũng biết. Sau khi hoàn tất các thủ tục thì ngày 19/12/2002, ông T được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tương ứng với số thửa 2060, tờ bản đồ 05, diện tích 625m², loại đất lúa, địa chỉ ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Long An. Thời gian từ khi được cấp giấy đến khoảng năm 2004 thì ông T vẫn sử dụng đất. Sau khi ly hôn với bà Huỳnh Thị Kim H thì ông T mua phần đất khác cũng gần đó để ở do các con của ông K nhiều lần quấy phá. Về phần căn nhà trên đất thì ông T không có sử dụng và để nguyên hiện trạng.
Đến năm 2018, do có nhu cầu cho con nên ông T tiến hành đo đạc thửa đất thì phía ông K ngăn cản, không cho ông T đến thửa đất. Sau đó, năm 2019 các con của ông K có cất nhà lấn qua phần thửa đất 2060 nên ông T khởi kiện đến Tòa án. Ông T xác định phần đất mà các bên thỏa thuận năm 1992 có chiều ngang 20m và chiều dài là 31m theo giấy tay mua bán. Do đó, sau khi đo đạc ông T chỉ yêu cầu ông K trả lại phần đất có chiều ngang 20m, chiều dài 1 cạnh 29.9m và 1 cạnh 28m, tổng diện tích 478m², phần đất có ký hiệu là D theo Mảnh trích đo số 83/2021 của Công ty TNHH Đ2 lập ngày 28/01/2021 và được duyệt ngày 02/02/2021. Ông T không yêu cầu đối với diện tích 625m². Hiện tại phần đất tranh chấp có một phần căn nhà diện tích 1.1m² do con ông K là Trần Hoài Đ sử dụng, ông T yêu cầu ông Đ dỡ phần nhà lấn chiếm để trả lại đất cho ông.
Trước đây, ông T cho rằng diện tích 625m² thuộc thửa 2060 cấp trùng vào thửa đất số 988 của ông Trần Văn K nên có yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông K. Hiện nay, ông T xác định phần diện tích tranh chấp không thuộc thửa đất số 988 nên rút yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với một phần thửa 988. Đồng thời, hiện nay một phần đất có ký hiệu là Đ diện tích 150m² thuộc một phần thửa 2060 do các con ông K đang sử dụng, trên đó có một phần nhà của ông Trần Hoài Đ và Trần Quốc T2 thì ông T không có yêu cầu gì, đồng ý để gia đình ông K sử dụng. Ông T cũng rút yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 2060 diện tích 150m² nêu trên.
Đối với bị đơn ông Trần Văn K yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 2060 của ông T thì ông T không đồng ý. Bởi vì, theo hồ sơ vụ án do ông T khởi kiện năm 2002 thì ông K có lời khai thể hiện rõ việc đã thỏa thuận chuyển nhượng diện tích đất 625m² cho ông T năm 1994 và việc ông T đã giao đủ số vàng 07 chỉ vàng 24K, đồng thời các bên đã lập “Giấy sang nhượng đất” có 02 người làm chứng. Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Trần Văn T đề nghị Tòa án hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời đối với thửa đất số 2060.
Tại Đơn yêu cầu hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Trần Văn T ngày 11/8/2020 của ông Trần Văn K và những lời trình bày trong quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm; các người đại diện theo ủy quyền của ông Trần Văn K là ông Trần Hoài Đ, ông Phạm Minh D, bà Trần Thị Bé B1, bà Trần Ngọc C trình bày:
Về nguồn gốc phần đất tranh chấp, ông Trần Văn K xác định là của cha ruột Trần Văn K1 cho. Sau đó, năm 1997 ông K được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong đó có thửa đất số 988, tờ bản đồ số 5, diện tích 3.086m², loại đất lúa.
Khoảng năm 1992- 1995, ông Trần Văn K có thỏa thuận chuyển nhượng cho ông Trần Văn T theo như trình bày của ông T một phần diện tích đất có chiều ngang 20m và chiều dài 31m, ước lượng diện tích khoảng 625m², với giá chuyển nhượng là 07 chỉ vàng 24K. Sau đó đến năm 2000 các bên mới tiến hành làm giấy tay, tuy nhiên ông T chỉ mới đưa 2,5 chỉ vàng 24K nên ông K chỉ đồng ý cho ông T ở mà không được quyền chuyển nhượng cho người khác. Sau khi ông T trả hết tiền thì ông K mới làm thủ tục sang tên. Sau đó, ông T có yêu cầu gia đình ông K xin chuộc lại với giá 1,2 lượng vàng 24K. Vì đã lỡ mua bán nên ông K mới đồng ý chuộc lại với giá cao, nhưng sau khi ông K đi mượn vàng thì ông T đổi ý. Từ đó đến nay, các bên vẫn im lặng không thỏa thuận, chỉ đến năm 2019 khi các con ông K cất nhà ở thì ông T khởi kiện. Hiện nay trên phần đất 625m² có nhà của ông Đ và ông T2 đang sử dụng. Riêng phần đất ông T yêu cầu là 478m² có 01 phần nhà của ông Trần Hoài Đ.
Việc ông T được cấp giấy chứng nhận đối với diện tích 625m² thì ông K không biết cho đến khi ông T khởi kiện tại Tòa án. Quá trình giải quyết vụ án không thu thập được hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T nên không biết ông T được cấp giấy theo hình thức nào. Ông K xác định phần diện tích 625m² mà ông T tranh chấp thuộc thửa đất số 988 của ông K. Lẽ ra, khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T thì ông K phải nộp sổ đỏ cho Chi nhánh Văn phòng Đ3 tại huyện C để đăng ký biến động giảm diện tích, nhưng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông K được cấp năm 1997 đến nay không có bị thu hồi hay điều chỉnh diện tích đối với thửa đất số 988 nên việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn T là không đúng theo quy định của pháp luật. Vì từ thời điểm thỏa thuận chuyển nhượng đến hiện nay, ông T chưa đưa đủ số vàng để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên ông Kính yêu c hủy bỏ giấy tay sang nhượng đất ngày 10/4/1998 giữa ông Trần Văn T và ông Trần Văn K, đồng thời ông K đồng ý trả lại số vàng đã nhận là 2.5 chỉ vàng 24K. Ngoài ra, ông Kính yêu c Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W536310, số vào sổ 1295 đối với thửa đất số 2060 (tách ra từ thửa 988), tờ bản đồ số 3, diện tích 625m² do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Trần Văn T ngày 19/12/2002.
Đối với yêu cầu của ông T về việc trả lại diện tích đất 478m² thì ông K không đồng ý vì thời gian dài ông T không có sử dụng phần đất trên và không đồng ý hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông K đối với thửa 988 theo diện tích trên.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Bà Huỳnh Thị Kim H trình bày:
Năm 1993, việc thỏa thuận chuyển nhượng giữa ông Trần Văn T và ông Trần Văn K thì bà H có biết. Thời điểm đó, bà và ông T vẫn chưa ly hôn, số vàng giao cho ông K là 07 chỉ vàng 24K là của vợ chồng. Sau khi thỏa thuận thì bà cùng ông T cất nhà ở trên phần đất đó đến khi ly hôn. Năm 2003, ông T và bà ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 17/QĐTTLH ngày 08/9/2003 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc thì thửa đất số 2060 đang tranh chấp được chia cho ông T. Do đó, nay ông T yêu cầu ông K trả cho ông T thửa đất số 2060 thì bà H không có ý kiến gì, bà đồng ý với yêu cầu của ông T.
Ủy ban nhân dân huyện C trình bày:
Tại Văn bản số 6609/UBND-NC ngày 24/12/2020 của Ủy ban nhân dân huyện C về việc trả lời đơn kiến nghị của ông Nguyễn Văn Q thì UBND huyện xác nhận ngày 19/12/2002 có ban hành Quyết định số 1926/QĐ-UB về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông (bà) Trần Văn T đối với thửa đất số 2060, tờ bản đồ số 05, tỷ lệ 1/5000, diện tích 625m², mục đích sử dụng đất lúa, đất tọa lạc tại xã Đ. Và tại Văn bản số 4352/UBND-NC ngày 25/8/2020 của Ủy ban nhân dân huyện C cung cấp chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án thì Ủy ban nhân dân huyện xác định không có hồ sơ lưu trữ cấp giấy chứng nhận đối với thửa đất 988, tờ bản đồ số 5, diện tích 3086m² nên Ủy ban nhân dân huyện K xác định được phần diện tích 625m² thửa đất số 2060, tờ bản đồ số 5 có trong diện tích 3086m² của thửa đất số 988, tờ bản đồ số 5 khi cấp giấy năm 1997 cho ông Trần Văn K. Cũng như tại Văn bản số 2227/UBND-NC ngày 24/4/2020, do không tìm thấy hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn T đối với thửa đất số 2060, tờ bản đồ số 05, tỷ lệ 1/5000, diện tích 625m², mục đích sử dụng đất lúa, đất tọa lạc tại xã Đ nên chưa thể xác định được việc Ủy ban nhân dân huyện cấp giấy chứng nhận nêu trên theo trường hợp nào.
Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An đã tiến hành hòa giải tranh chấp giữa các bên nhưng kết quả không thành nên quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 44/2023/DS-ST ngày 10 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An đã quyết định:
Căn cứ khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 96, khoản 5 Điều 102, 147, 165, 227, 228, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Căn cứ Luật Đất đai ngày 14 tháng năm 1993; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai ngày 02 tháng 12 năm 1998 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai ngày 29 tháng 6 năm 2001.
Căn cứ khoản 1 Điều 3 Nghị định số 04/2000/NĐ - CP ngày 11/02/2000 của Chính phủ hướng dẫn về thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đất đai.
Căn cứ khoản 2 Điều 3 của Nghị định số 17/1999/NĐ-CPChính phủ.
Căn cứ Điều 26, Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T về việc đòi lại quyền sử dụng đất bị lấn chiếm.
Buộc ông Trần Văn K trả lại cho ông Trần Văn T diện tích 478m² thuộc một phần thửa đất số 2060 tờ bản đồ số 5, diện tích 625m², loại đất lúa, tọa lạc tại xã Đ, huyện C, tỉnh Long An do ông Trần Văn T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vị trí phần đất có ký hiệu là D theo Mảnh trích đo địa chính số 83/2021 do Công ty TNHH Đ2 lập ngày 28/01/2021, được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai duyệt ngày 02/02/2021. (Kèm theo Mảnh trích đo)
Buộc ông Trần Hoài Đ có trách nhiệm dở nhà trả lại diện tích 1.1m² tại vị trí phần đất có ký hiệu là D theo Mảnh trích đo địa chính số 83/2021, thuộc thửa đất 2060 tờ bản đồ số 5, diện tích 625m², loại đất lúa, tọa lạc tại xã Đ, huyện C, tỉnh Long An do ông Trần Văn T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Về chi phí đo đạc và thẩm định tổng cộng là 37.300.000 đồng. Buộc ông Trần Văn K trả lại cho ông T số tiền 37.300.000 đồng.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền trên thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Quyết định số: 26/2020/QĐBPKCTT ngày 04/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Trần Văn K thuộc trường hợp miễn án phí. Hoàn trả lại cho ông Trần Văn T số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 00012770 ngày 10/12/2021, 300.000 đồng theo biên lai thu số 0012769 ngày 10/12/2021, 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002446 ngày 29/6/2020, 300.000 đồng theo biên lai thu số 0009857 ngày 12/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về quyền và thời hạn kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án đối với các đương sự.
Bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật.
Ngày 01/6/2023, bị đơn ông Trần Văn K kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự không thỏa thuận được với nhau.
Bà Trần Ngọc C là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Trần Văn K đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn. Buộc ông Trần Văn T trả cho ông K thửa đất số 2060, tờ bản đồ số 5, diện tích 625m², loại đất lúa tọa lạc tại ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Long An vì Ủy ban nhân dân huyện C đã cấp sai đối tượng cho ông T. Vào khoảng năm 1995, ông K và ông T có thỏa thuận ông K chuyển nhượng thửa đất số 2060 cho ông T với giá 07 chỉ vàng 24K nhưng ông T chỉ mới trả cho ông K 02 chỉ vàng 24K, còn nợ lại 05 chỉ vàng đến nay không trả nên số vàng 02 chỉ của ông T kể trên đến nay không còn giá trị nữa, chỉ là tiền cọc, do ông T không trả đủ 07 chỉ vàng nên thửa đất 2060 là của ông K. Đồng thời ông Kính yêu c Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông T.
Ông Nguyễn Văn S và bà Lê Thị Ánh T1 là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Văn T đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Trần Văn K, giữ y bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Hoài Đ thống nhất với ý kiến của bà C, không bổ sung gì thêm đối với yêu cầu của ông K. Về phần bản án tuyên có liên quan đến ông, ông Đ không đồng ý dỡ nhà trả lại diện tích 1,1m² tại vị trí D theo Mảnh trích đo tuyên trong bản án cho ông Trần Văn T cũng như không đồng ý thối hoàn giá trị đất cho ông T để giữ lại diện tích 1,1m² vì đất này là của cha ông là ông K.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Kim H trình bày: Trước đây bà và ông T là vợ chồng nhưng đã ly hôn vào năm 2003. Khoảng năm 1993 hay 1994 khi bà và ông T chưa ly hôn, vợ chồng bà có nhận chuyển nhượng của ông K một công đất nhỏ 625m² với giá 07 chỉ vàng 24K, ông T đã giao đủ vàng và ông K giao đất cho ông T cất nhà ở nhưng đến năm 2002 ông T mới làm xong giấy đất. Khi vợ chồng bà ly hôn năm 2003, về tài sản chung vợ chồng bà thỏa thuận giao 625m² đất này và nhà cho ông T.
Luật sư Huỳnh Hà Quốc B là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn ông Trần Văn K tranh luận: Tòa án cấp sơ thẩm nhận định chủ quan ông T đã giao đủ vàng cho ông K trong khi ông T chỉ mới giao cho ông K 2,5 chỉ vàng 24K. Vì là anh em, thấy ông T không có chỗ ở nên ông K mới giao đất cho ông T cất nhà ở. Khi bán đất cho ông T, ông K và ông T thỏa thuận miệng điều kiện ông T chỉ được ở, không được bán lại cho người khác vì ông K không thích người lạ vào sống trên đất của cha mẹ cho. Gần đây ông T mua được mảnh đất khác ở và có ý định bán lại thửa đất này cho người khác nên ông K không đồng ý chuyển nhượng cho ông T nữa. Ông K cũng có yêu cầu chuộc lại đất với giá cao hơn là 1,2 lượng vàng 24K nhưng ông T không đồng ý. Do ông T vi phạm thỏa thuận, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông K, sửa bản án phúc thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Trường hợp Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông K, đề nghị xem xét công sức đóng góp tôn tạo đất của ông K.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng và các đương sự tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đơn kháng cáo của bị đơn được thực hiện đúng quy định nên đủ điều kiện xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Theo các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn, bị đơn cung cấp và các tài liệu chứng cứ do Tòa án thu thập thể hiện: Ông T và ông K có thực hiện việc chuyển nhượng thửa 2060, diện tích 625m², loại đất lúa tại xã Đ, huyện C, tỉnh Long An. Năm 1995 ông T kê khai thửa 2060 và ông K kê khai thửa 988, 3086. Đến năm 2002, ông T kê khai đăng ký và đã được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông K không tranh chấp. Ông K trình bày việc ông chuyển nhượng đất cho ông T có điều kiện chỉ được ở không được bán và ông T chỉ mới trả cho ông 2,5 chỉ vàng 24K nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh, ông T không thừa nhận. Ông K đã giao đất cho ông T cất nhà ở từ khi nhận chuyển nhượng cho đến nay. Ông Trần Văn K kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông K. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn K được thực hiện đúng quy định tại Điều 272 Bộ luật Tố tụng dân sự và được gửi đến Tòa án trong thời hạn quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện C có đơn xin vắng mặt; ông Trần Quốc T2 vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm nhưng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ 02 lần. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt những người này.
[3] Về nguồn gốc đất tranh chấp thuộc thửa 2060, tờ bản đồ số 5, diện tích 625m², loại đất lúa tọa lạc tại xã Đ, huyện C, tỉnh Long An là của ông Trần Văn K1 (cha ruột ông K và ông T) tặng cho con là Trần Văn K khoảng 12 công vào năm 1981. Năm 1993 ông K sang nhượng lại cho em ruột là ông Trần Văn T một công nhỏ là 625m² (hình thức sang nhượng có thỏa thuận giấy tay). Theo hồ sơ địa chính, sổ dã ngoại năm 1995 của xã Đ, huyện C, tỉnh Long An ông Trần Văn T kê khai thửa 2060, diện tích 625m², loại đất lúa; ông Trần Văn K kê khai thửa 988, 3986. Ngày 19/5/1997, ông Trần Văn K được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 988, 1075, 1082. Ngày 19/12/2002, ông Trần Văn T được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 2060.
[4] Xét kháng cáo của ông Trần Văn K, thấy rằng:
[4.1] Theo các tài liệu chứng cứ do phía nguyên đơn, bị đơn cung cấp và các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập trong quá trình giải quyết vụ án, thể hiện:
Ngày 14/6/2002, Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc thụ lý sơ thẩm vụ án “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” giữa ông Trần Văn T đối với ông Trần Văn K. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 24/6/2002 của Tòa án huyện Cần Giuộc đối với ông Trần Văn K, ông K trình bày: “Vào năm 1995, tôi bệnh hoạn, hoàn cảnh khó khăn. Mặt khác, thấy T em tôi không có chỗ ở nên tôi có sang nhượng cho em tôi 01 công đất ruộng (625 m²) giá 07 chỉ vàng 24K, hai bên chỉ thỏa thuận làm giấy tay, có nhân chứng ký tên. Sau khi mua xong, T tự đắp gò và cất nhà ở cho đến nay, trồng cây xung quanh gò. Phần đất trên hiện do tôi vẫn còn đứng tên chủ quyền sử dụng đất (bìa đỏ). Vào năm 1999 T có yêu cầu tôi đưa bằng khoán làm thủ tục chuyển quyền nhưng bằng khoán do các con gái tôi giữ, không chịu đưa dẫn đến nay hai bên chưa làm thủ tục chuyển nhượng được. Thời gian gần đây T đã mua đất chỗ khác ở dự định bán phần đất trên nên các con tôi không đồng ý. Nay tôi xin chuộc lại phần đất trên cho các con tôi ở, tôi hủy bỏ hợp đồng không đồng ý làm thủ tục chuyển quyền cho T”. Giấy sang nhượng đất ngày 10/4/1998 giữa ông K và ông T cũng thể hiện nội dung thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Trần Văn K và ông Trần Văn T, ghi thời gian là năm 1994 và thời điểm lập giấy sang nhượng có 02 người làm chứng.
[4.2] Theo Biên bản hòa giải không thành ngày 09/7/2002 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, ông Trần Văn K thừa nhận vào năm 1992 có sang nhượng cho em ông là Trần Văn T phần đất ruộng diện tích 625m² giá 07 chỉ vàng 24K, hai bên chỉ thỏa thuận làm giấy tay. Sau khi mua xong T đắp gò cất nhà ở cho đến nay nhưng chưa làm thủ tục sang tên mà ông Trần Văn K vẫn đứng tên chủ quyền. Thời gian gần đây do T có mua đất khác định bán phần đất trên nên các con ông gây khó dễ đòi lại. Nay ông không đồng ý làm thủ tục chuyển quyền sử dụng cho T mà xin chuộc lại phần diện tích đất trên để cho các con ông sau này có gia đình riêng cất nhà ở, chuộc theo giá cả ban đầu (BL141, 142).
[4.3] Tại Văn bản xác nhận của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Cần Giuộc ngày 06/8/2002 thể hiện: “Năm 1993, ông Trần Văn K có sang nhượng, bán lại cho em ruột Trần Văn T diện tích 1 công đất (625m²), hình thức sang nhượng có thỏa thuận giấy tay. Khi đến đợt kê khai đăng ký cấp giấy mẫu trung ương (bìa đỏ), ông T kê khai đăng ký diện tích 625m². Hiện nay hồ sơ địa chính, mục kê, sổ sách ông T kê khai diện tích này. Ông K không còn kê khai diện tích 625m² đã bán cho ông T. Hiện nay theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ông K được cấp chỉ còn lại phần của ông đang sử dụng mà thôi. Trường hợp ông T đã đăng ký xin cấp giấy, vì do ông K và các con tranh chấp với ông T, nên chưa được hội đồng thống nhất cấp giấy quyền sử dụng đất. Ủy ban nhân dân xã C1 Tòa án xem xét giải quyết cho đương sự.”
[4.4] Ngoài ra, tại biên bản lấy lời khai ngày 26/4/2022 của Tòa án đối với ông Đỗ Hữu Đ1 công tác tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C là công chức địa chính đất đai từ năm 1998 đến năm 2010: Ông Đ1 xác định từ năm 1995, thời điểm tổng điều tra để đo vẽ bản đồ thì cán bộ có khảo sát vị trí diện tích đất, khi đó ông T đang sử dụng và có giấy mua bán nên ông T được kê khai vào Sổ dã ngoại đối với diện tích 625m² nên nội dung xác nhận theo Văn bản xác nhận ngày 06/8/2002 của Ủy ban nhân dân xã Đ là phù hợp với Sổ dã ngoại năm 1995, tờ số 5. Tại Sổ dã ngoại thể hiện thửa đất số 2060, diện tích 625m² do ông Trần Văn T kê khai đăng ký và thửa đất số 988, diện tích 3.086m² do ông Trần Văn K kê khai là hai thửa đất riêng biệt. Thời điểm ông K kê khai thửa 988, diện tích 3.086m² không bao gồm diện tích 625m² của thửa 2060 do ông T kê khai. Do đó, ông T làm thủ tục cấp giấy chứng nhận và được Ủy ban nhân dân huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2002 là thuộc trường hợp xét cấp giấy ban đầu.
[4.5] Trong quá trình tố tụng ở Tòa án cấp sơ thẩm ông K trình bày do ông T chưa đưa đủ số vàng để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên ông Kính yêu c hủy bỏ giấy tay sang nhượng đất ngày 10/4/1998 giữa ông Trần Văn T và ông Trần Văn K. Tuy nhiên lời trình bày của ông K mâu thuẫn với các lời ông K trình bày khi Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc thụ lý vụ án vào năm 2002 (như đã viện dẫn ở phần trên). Tại Biên bản lấy lời khai ngày 14/6/2002 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc đối với ông Trần Văn K1, sinh năm 1925 (ông K1 là cha của ông K và ông T), ông K1 trình bày: Trước hòa bình ông K1 có cho con ông là ông Trần Văn K 11 công đất ruộng để làm ăn sinh sống. Vào năm 1992, K bị bệnh hoàn cảnh khó khăn nên K đồng ý sang nhượng cho em nó là Trần Văn T 01 công đất ruộng (tức 625m²), loại công nhỏ, giá 07 chỉ vàng 24K để lấy tiền trị bệnh, hai bên chỉ làm giấy tay chưa làm thủ tục chuyển quyền. Sau khi mua bán xong, T đắp gò lên cất nhà ở, sau này T có yêu cầu Kính tách bộ nhưng K không chịu (BL149).
[5] Như vậy, có cơ sở xác định khoảng năm 1994, ông Trần Văn K có thỏa thuận chuyển nhượng cho ông Trần Văn T một phần đất có chiều ngang 20m, chiều dài 31m, diện tích 625m² với giá chuyển nhượng là 07 chỉ vàng 24K. Ông T thực hiện xong nghĩa vụ giao vàng và ông K thực hiện nghĩa giao đất nên ông T đã sử dụng để cất nhà ở. Vì vậy, đến năm 2002 khi ông T khởi kiện đến Tòa án thì ông K chỉ yêu cầu được chuộc lại đất mà không yêu cầu giao tiếp số vàng còn thiếu. Do đó, quá trình giải quyết vụ án ông K trình bày việc ông T chỉ mới giao 2.5 chỉ vàng 24K cho ông là không có cơ sở. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T về việc đòi quyền sử dụng đất, diện tích 478m² thuộc một phần thửa đất số 2060 đối với ông Trần Văn K là có căn cứ, nên kháng cáo của ông Trần Văn K là không có căn cứ nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Tại Đơn xin rút đơn khởi kiện bổ sung ngày 15/11/2020 của ông Trần Văn T về việc yêu cầu Tòa án giải quyết hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Trần Văn K đối với diện tích 625m², thuộc một phần thửa số 988, tờ bản đồ số 5, loại đất lúa tại ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Long An. Tuy nhiên, tại phần Nhận định và Quyết định của bản án sơ thẩm không ghi quyết định của Hội đồng xét xử về việc chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của ông T về việc xin rút yêu cầu hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông Trần Văn K đối với diện tích 625m², thuộc một phần thửa số 988, tờ bản đồ số 5, loại đất lúa và đình chỉ yêu cầu này là thiếu sót. Mặt khác, ông Trần Văn K có Đơn yêu cầu hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Trần Văn T và ngày 10/12/2021, Tòa án có Thông báo bổ sung về việc thụ lý vụ án đối với yêu cầu phản tố của ông K và thụ lý bổ sung yêu cầu khởi kiện của ông T. Tuy nhiên, Tòa án không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông K nhưng lại không tuyên trong bản án là thiếu sót, vi phạm điểm c khoản 2 Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án cấp phúc thẩm sẽ bổ sung trong phần quyết định của bản án. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm cũng cần rút kinh nghiệm.
[7] Đối với lời trình bày của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét công sức đóng góp tôn tạo đất của bị đơn trong trường hợp không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, thấy rằng: Tại giai đoạn sơ thẩm bị đơn không có yêu cầu xem xét công sức đóng góp nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét giải quyết là phù hợp. Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét giải quyết các vấn đề chưa được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét giải quyết. Cho nên lời trình bày của Luật sư là không có căn cứ nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật thi hành.
[9] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm về quan điểm giải quyết vụ án là phù hợp, đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[10] Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Văn K được miễn nộp án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn K.
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 44/2023/DS-ST ngày 10 tháng 5 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
Căn cứ khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 96, khoản 5 Điều 102, 147, 165, 227, 228, 266, 271 và Điều 273, 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Căn cứ Điều 2, Điều 73 Luật Đất đai năm 1993.
Áp dụng Điều 12, 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Đình chỉ xét xử yêu cầu khởi kiện bổ sung của ông Trần Văn T về việc hủy một phần giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 988, diện tích 625m² loại đất lúa, tọa lạc tại xã Đ, huyện C, tỉnh Long An của ông Trần Văn K.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T về việc “Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất” đối với ông Trần Văn K.
Buộc ông Trần Văn K trả lại cho ông Trần Văn T diện tích 478m² tại vị trí D, thuộc một phần thửa đất số 2060, tờ bản đồ số 5, diện tích 625m², loại đất lúa, tọa lạc tại xã Đ, huyện C, tỉnh Long An do ông Trần Văn T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
(Vị trí, kích thước, tứ cận thửa đất được thể hiện trên theo Mảnh trích đo địa chính số 83-2021 do Công ty TNHH Đ2 lập ngày 28/01/2021, được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai tại huyện C duyệt ngày 02/02/2021).
Buộc ông Trần Hoài Đ có trách nhiệm tháo dỡ nhà trả lại diện tích 1.1m² tại vị trí phần đất có ký hiệu là D theo Mảnh trích đo địa chính số 83-2021, thuộc thửa đất 2060, tờ bản đồ số 5, diện tích 625m², loại đất lúa, tọa lạc tại xã Đ, huyện C, tỉnh Long An do ông Trần Văn T đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ông Trần Văn T có quyền và nghĩa vụ liên hệ với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai để được điều chỉnh lại hoặc được cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 2060, tờ bản đồ số 5, diện tích 478m², loại đất lúa, tọa lạc tại xã Đ, huyện C, tỉnh Long An. Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan tài nguyên môi trường căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn T phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Trần Văn K về việc yêu cầu Tòa án hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W536310, số vào số 1295 đối với thửa đất số 2060 (tách ra từ thửa 988), tờ bản đồ số 3, diện tích 625m² do Ủy ban nhân dân huyện C cấp cho ông Trần Văn T ngày 19/12/2002.
Về chi phí đo đạc và thẩm định tổng cộng là 37.300.000 đồng, ông T tạm ứng nộp và đã chi phí xong. Buộc ông Trần Văn K trả lại cho ông T số tiền 37.300.000 đồng (Ba mươi bảy triệu ba trăm nghìn dồng).
Khi án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, bên có nghĩa vụ chậm thi hành sẽ phải chịu thêm khoản tiền lãi tính trên số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Quyết định số 26/2020/QĐBPKCTT ngày 04/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn ông Trần Văn K thuộc trường hợp miễn án phí. Hoàn trả lại cho ông Trần Văn T số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 00012770 ngày 10/12/2021, 300.000 đồng theo biên lai thu số 0012769 ngày 10/12/2021, 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002446 ngày 29/6/2020, 300.000 đồng theo biên lai thu số 0009857 ngày 12/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Văn K được miễn nộp án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- TANDCC tại TP. HCM; - VKSND tỉnh Long An; - TAND huyện Cần Giuộc; - Chi cục THADS huyện Cần Giuộc; - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Ngọc Yến |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Đặng Văn Những | Đinh Thị Ngọc Yến |
Nguyễn Văn Phương |
Bản án số 303/2023/DS-PT ngày 23/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về tranh chấp đòi quyền sử dụng đất
- Số bản án: 303/2023/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp đòi quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn T "Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất" Trần Văn K
