|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 3023/2024/DS-ST
Ngày: 11/7/2024
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thúy Nga.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Huỳnh Tiến Dũng.
- Bà Nguyễn Thị Hương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Bình Minh- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Sơn- Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1198/2023/TLST- DS ngày 03 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 3185/2024/QĐXXST- DS ngày 17 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 4332/2024/QĐST- DS ngày 14 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S;
Địa chỉ: 2 N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh;
Đại diện pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D, sinh năm: 1973;
Chức danh: Tổng Giám đốc;
Đại diện ủy quyền:
- Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S (Công ty S1);
Địa chỉ trụ sở chính: 278 N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh;
Đại diện pháp luật: Ông Lê Ngọc T, sinh năm: 1977;
Chức danh: Tổng Giám đốc;
(theo Giấy ủy quyền số 2535A/2022/GUQ- PL ngày 12/10/2022);
- Ông Nguyễn Minh T1, sinh năm: 1973;
Chức danh: Nhân viên Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S;
(theo Giấy ủy quyền số 1716/2023/UQ- TGĐ ngày 13/6/2023)- có đơn xin xét xử vắng mặt;
- Bị đơn: Anh Tô Hoàng Duy M, sinh năm: 1991;
Địa chỉ thường trú: 2 đường D, khu phố C, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh;
Cư trú: 14/2 đường H, khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; (vắng mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện đề ngày 16/6/2023 và trong quá trình tố tụng, ông Nguyễn Minh T1 là người đại diện ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S trình bày như sau:
Ngày 04/01/2021, ông Tô Hoàng Duy M có ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần S (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng; Bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng- các tài liệu này gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ vào mức thu nhập của ông M, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 35.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân;
Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông M đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 243.997.972 đồng;
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, ông M đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 209.999.000 đồng (thứ tự thanh toán theo Điều 21 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông M vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông M vi phạm nghĩa vụ thanh toán (theo Điều 18 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng); ngày 06/12/2021, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (theo Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng);
Tính đến ngày 11/7/2024, ông M còn nợ các khoản sau: dư nợ gốc: 39.516.569 đồng và lãi quá hạn: 45.001.580 đồng; tổng cộng số tiền là: 84.518.149 đồng;
Ngoài ra, nguyên đơn không có yêu cầu gì khác.
Bị đơn là ông Tô Hoàng Duy M vắng mặt không lý do.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
- Ông Nguyễn Minh T1 là người đại diện ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, giữ nguyên yêu cầu khởi kiện như đã nêu trong Đơn khởi kiện, B tự khai và Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ.
- Bị đơn là ông Tô Hoàng Duy M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên tòa nhưng ông M vắng mặt không có lý do.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng quy định của pháp luật;
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào phát biểu ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Căn cứ Đơn khởi kiện của nguyên đơn, có cơ sở xác định đây là Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản. Do bị đơn ông Tô Hoàng Duy M có địa chỉ cư trú tại địa chỉ số A đường H, khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Tô Hoàng Duy M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa và đại diện ủy quyền cho nguyên đơn là ông Nguyễn Minh T1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự;
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Xét thấy, Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 04/01/2021 được các bên ký kết trên tinh thần tự nguyện, nội dung phù hợp theo quy định của pháp luật, không trái đạo đức xã hội; vì vậy, hợp đồng này có hiệu lực pháp luật.
Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 04/01/2021 thì ông Tô Hoàng Duy M có nghĩa vụ thanh toán số tiền vay, lãi hàng tháng và các khoản khác theo thỏa thuận trong hợp đồng nhưng kể từ ngày 05/9/2021 ông M đã không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán số dư nợ 84.518.149 đồng, cụ thể nợ gốc là 39.516.569 đồng, nợ lãi là: 45.001.580 đồng. Xét thấy, ông Tô Hoàng Duy M đã không thanh toán đầy đủ và đúng hạn nợ, lãi phát sinh theo thỏa thuận là đã vi phạm hợp đồng, xâm phạm đến quyền và lợi ích của nguyên đơn. Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với ông Tô Hoàng Duy M là có cơ sở chấp nhận.
[3.2] Xét về yêu cầu tính lãi suất:
Đại diện ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu ông M phải trả số tiền lãi quá hạn là 45.001.580 đồng. Xét, khi ký kết hợp đồng tín dụng, nguyên đơn và bị đơn thỏa thuận lãi suất 31.2%/năm (tức là 2.6%/tháng), việc thỏa thuận lãi suất này là tự nguyện, không bị ai ép buộc. Nguyên đơn áp dụng lãi suất và thời gian tính lãi đúng quy định của hợp đồng tín dụng và phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 nên có cơ sở chấp nhận.
Ngoài ra, ông M phải thanh toán cho ngân hàng tiền lãi phát sinh theo quy định tại hợp đồng đã ký kể từ ngày 12/7/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
[4] Về án phí: Bị đơn ông Tô Hoàng Duy M phải chịu 4.225.907 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147; Điều 227; Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các điều 278, 280, 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014);
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S:
Buộc bị đơn ông Tô Hoàng Duy M phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền 84.518.149 (Tám mươi bốn triệu, năm trăm mười tám ngàn, một trăm bốn mươi chín) đồng, trong đó: nợ gốc là 39.516.569 đồng và lãi quá hạn là 45.001.580 đồng;
Phương thức và thời hạn thanh toán: Một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh của ngân hàng cho vay.
Các bên thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Về án phí: Ông Tô Hoàng Duy M chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 4.225.907 (Bốn triệu, hai trăm hai mươi lăm ngàn, chín lẻ bảy) đồng.
Hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.636.383 (Một triệu, sáu trăm ba mươi sáu ngàn, ba trăm tám mươi ba) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số AA/2023/0005097 ngày 27/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Thúy Nga |
Bản án số 3023/2024/DS-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 3023/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
