Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH CHÁNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 302/2023/HS-ST

Ngày 26-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Thường Đông.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Huy Hoàng.

Ông Võ Thanh Nhàn

Thư ký phiên tòa: Ông Đào Văn Long – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Minh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 275/2023/TLST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 287/2023/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 53/2023/HSST-QĐ ngày 28 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Bùi Thị Bích L, sinh năm 1994 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; giới tính: Nữ; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 762B Tổ M, Khu phố B, phường P, thành phố B, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; chỗ ở: Căn hộ B8.07 chung cư Saigon Ma, Ấp 4B, xã B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Nhân viên phục vụ; trình độ học vấn: 11/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Bùi Văn M và bà Võ Thị X; bị cáo chưa có chồng con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/6/2023 đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa;

* Người tham gia tố tụng khác:

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ Liên quan:

  1. Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 2000 - (vắng mặt)
  2. Nơi cư trú: 129/3 đường T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Ông Đặng Văn T, sinh năm 1993 - (vắng mặt)
  4. Nơi cư trú: 36/15 khu phố B, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

  5. Bà Nguyễn Thị Trà M, sinh năm 1996 - (vắng mặt)
  6. Nơi cư trú: 6/4/43 đường H, Phường M, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 11/06/2023, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Bình Chánh kết hợp Công an xã Bình Hưng tiến hành kiểm tra căn hộ B8.07 Chung cư Saigon Ma, Ấp 4B, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại thời điểm kiểm tra, trong căn hộ có Bùi Thị Bích L cùng Nguyễn Hữu T, Đặng Văn T và Nguyễn Thị Trà M, phát hiện trên bàn trong phòng ngủ có 01 chai nhựa chứa chất lỏng màu cam, 01 hũ thủy tinh bên trong chứa tinh thể nhuyễn màu trắng mà Bùi Thị Bích L khai nhận là ma túy tổng hợp (loại khay và nước vui) của L. Do đó, lực lượng Công an đã tiến hành lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Bùi Thị Bích L, thu giữ, niêm phong vật chứng đồng thời đưa Nguyễn Hữu T, Đặng Văn T và Nguyễn Thị Trà M về trụ sở Công an xã Bình Hưng lập hồ sơ ban đầu, chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh để điều tra, xử lý. Kết quả xét nghiệm, L, T, Tùng và M đều dương tính với ma túy.

Kết luận giám định số: 6284/KL-KTHS ngày 19/6/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an Thành phố Hồ Chí Minh xác định:

Gói 1: Tinh thể nhuyễn màu trắng trong hũ thủy tinh là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 12,8834 gam, loại Ketamine.

Gói 2: Chất lỏng màu cam đựng trong chai nhựa có thể tích 270 ml, tìm thấy MDMA, Nimetazepam

Kết luận giám định số 5399/KL-KTHS ngày 30/8/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh về hàm lượng ma túy trong chất lỏng màu cam đựng trong chai nhựa xác định:

- Khối lượng ma túy MDMA trong 270ml là 19,15mg (tương đương 0,01915g).

- Nimetazepam không giám định hàm lượng do Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh không có mẫu chuẩn định lượng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh, Bùi Thị Bích L khai nhận: Vào chiều ngày 10/6/2023, L uống rượu bia cùng M, T và Tùng tại quán BOSS Restaurant & KTV. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, L rủ cả nhóm về nhà của L tại căn hộ B8.07 Chung cư Saigon Ma, Ấp 4B, xã B, huyện B để nhậu tiếp. Khi đến căn hộ, cả nhóm cùng đi vào phòng ngủ. Lúc này, trên bàn trong phòng ngủ của L đã để sẵn 01 đĩa sứ, trên đĩa có ma túy khay, thẻ nhựa và ống hút; trong tủ lạnh có một chai nhựa đựng ma túy đã được pha với nước (nước vui) do L đã chuẩn bị trước đó. L liền lấy chai nhựa đựng ma túy (nước vui) đã được pha với nước ra rồi để trên bàn, ai muốn sử dụng thì lấy sử dụng. Sau đó, T, Tùng và M lấy ma túy khay trên dĩa và nước vui trong chai nhựa để sử dụng. Sau khi sử dụng hết số ma túy thì tất cả đi ngủ. Nguồn gốc ma túy khay và nước vui, L khai vào khoảng đầu tháng 5/2023, L đi chơi tại một quán Bar ở Bình Dương (không nhớ địa chỉ) cùng với 03 người bạn ngoài xã hội (không rõ lai lịch), thì được một người bạn trong nhóm cho L 01 gói ma túy khay và 01 chai nước vui, L đem về cất giữ tại nhà mình cho đến đêm ngày 10/6/2023 thì L đem ra cho M, T và Tùng cùng sử dụng.

Đến khoảng 05 giờ ngày 11/6/2023, thì có một người bạn tên Tài (không rõ lai lịch) L lạc với L qua Telegram (tài khoản của Tài là “Phát Tài”), qua nói chuyện thì Tài biết L và bạn đang sử dụng ma túy nên Tài nói sẽ cho L ma túy để sử dụng cùng với bạn, L đồng ý và nói Tài đặt xe Grab gửi cho L ma túy khay và nước vui. Khoảng 01 tiếng sau thì ma túy khay và nước vui được giao đến cho L thông qua người giao hàng (không rõ lai lịch). Sau khi nhận hàng, L kiểm tra thì thấy có 01 bịch bánh, bên trong có 01 gói nước vui và 01 hũ thủy tinh đựng ma túy khay. L lấy số ma túy đó mang vào trong phòng để dành sử dụng riêng cho bản thân (vì T, Tùng và M không sử dụng nữa và đang nằm nghỉ). Sau đó L đi nấu đồ ăn, còn T, Tùng, M thì vẫn nằm nghỉ tại phòng. Đến khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, khi cả nhóm đang ở trong căn hộ thì bị Công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh, Nguyễn Hữu T, Đặng Văn T, Nguyễn Thị Trà M khai nhận như nội dung Bùi Thị Bích L trình bày như trên. Cả ba đều khai là được L cho sử dụng ma túy mà không phải trả tiền. Đối với số ma túy Công an thu giữ là của L, mọi người sau khi sử dụng hết số ma túy có sẵn trong phòng của L vào ngày 10/6/2023 thì nghỉ và nằm ngủ tại phòng của L, không có ý định sử dụng ma túy nữa.

Vật chứng thu giữ:

  1. 01 hũ thủy tinh bên trong chứa tinh thể nhuyễn màu trắng, qua giám định xác định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 12,8834 gam, loại KetaMne (khối lượng còn lại sau giám định là 12,0412g).
  2. 01 chai nhựa chứa chất lỏng màu cam, qua giám định tìm thấy MDMA, Nimetazepam. Khối lượng ma túy MDMA trong 270ml là 19,15mg (tương đương 0,01915g). Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh đã sử dụng hết cho công tác giám định, không hoàn lại mẫu vật sau giám định.
  3. Các dụng cụ dùng để sử dụng ma túy gồm: 01 (một) đĩa sứ, trên đĩa sứ có ghi chữ HERMES; 01 (một) thẻ nhựa, trên thẻ nhựa có ghi chữ HERMES; 01 (một) ly thủy tinh; 01 (một) đoạn ống hút nhựa.
  4. 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone, có số Imei: 356712115982001 cùng 01 sim có số thuê bao 0767022223 mà L sử dụng để L lạc qua ứng dụng Telegram với tài khoản “Phát Tài” là người đã gửi ma túy đến cho L.
  5. 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu đen có số Imei 354860892481333 thu giữ của Nguyễn Thị Trà M, không Liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh đã trả lại cho Nguyễn Thị Trà M.
  6. 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng có số Imei: 353075113813732 và 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone màu đen có số Imei 359666228048356 thu giữ của Đặng Văn T, không Liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh đã trả lại cho Đặng Văn T.
  7. 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone có số Imei 356942212199742 thu giữ của Nguyễn Hữu T, không Liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh đã trả lại cho Nguyễn Hữu T.

Tại Cáo trạng số: 265/CT-VKS ngày 25 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Bùi Thị Bích L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 và điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

- Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 255 và điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Bùi Thị Bích L từ 08 năm 06 tháng đến 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tổng hợp hình phạt của 02 tội từ 11 năm đến 12 năm tù; phạt bổ sung bị cáo 50.000.000 đồng.

+ Về xử lý vật chứng:

Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) hũ thủy tinh bên trong chứa tinh thể nhuyễn màu trắng, qua giám định xác định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 12,8834 gam, loại KetaMne; 01 (một) đĩa sứ, trên đĩa sứ có ghi chữ HERMES; 01 (một) thẻ nhựa, trên thẻ nhựa có ghi chữ HERMES; 01 (một) ly thủy tinh; 01 (một) đoạn ống hút nhựa.

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone, có số Imei: 356712115982001 cùng 01 sim có số thuê bao 0767022223 mà L sử dụng để L lạc qua ứng dụng Telegram với tài khoản “Phát Tài” là người đã gửi ma túy đến cho L.

Ghi nhận Cơ quan điều tra đã giao trả các tài sản không Liên quan đến hành vi phạm tội cho chủ sở hữu.

- Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Thị Bích L khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung vụ án nêu trên, bị cáo rất ăn năn hối hận và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Xét thấy lời khai tại phiên tòa của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ Liên quan, vật chứng của vụ án, Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận vào ngày vào ngày 10/6/2023 bị cáo Bùi Thị Bích L đã có hành vi cung cấp ma túy cho Nguyễn Thị Trà M, Nguyễn Hữu T và Đặng Văn T sử dụng tại căn hộ B8.07 Chung cư Saigon Ma, Ấp 4B, xã B, huyện B của mình; đồng thời còn cất giữ 12,8834 gam ma túy ở thể rắn, loại Ketamine và 270 ml chất lỏng bên trong có 0,01915g MDMA nhằm sử dụng riêng cho bản thân thì bị Cơ quan Công bắt quả tang vào ngày 11/6/2023.
  3. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý và sử dụng chất ma túy của Nhà nước. Khi thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển được hành vi của mình nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội.
  4. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Bùi Thị Bích L phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” (với tình tiết định khung hình phạt “Đối với 02 người trở lên”) và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 và điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  5. Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý và sử dụng chất ma túy của Nhà nước mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
  6. Tuy nhiên, xét thấy tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

  1. Về xử lý vật chứng, đồ vật thu giữ:

    Đối với: 01 (một) hũ thủy tinh bên trong chứa tinh thể nhuyễn màu trắng, qua giám định xác định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 12,8834 gam, loại Ketamine (khối lượng còn lại sau giám định là 12,0412g); 01 (một) đĩa sứ, trên đĩa sứ có ghi chữ HERMES; 01 (một) thẻ nhựa, trên thẻ nhựa có ghi chữ HERMES; 01 (một) ly thủy tinh; 01 (một) đoạn ống hút nhựa; Xét đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

    Đối với: 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone, có số Imei: 356712115982001 cùng 01 sim có số thuê bao 0767022223 mà L sử dụng để L lạc qua ứng dụng Telegram với tài khoản “Phát Tài” là người đã gửi ma túy đến cho L nên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

    Đối với các tài sản khác Cơ quan điều tra đã giao trả lại cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

  2. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, Miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  3. Đối với Nguyễn Thị Trà M, Nguyễn Hữu T và Đặng Văn T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh đã bàn giao cho Công an xã Bình Hưng ra Quyết định xử phạt hành chính 1.500.000 đồng đối với mỗi người về hành vi sử dụng ma túy là phù hợp.

    Đối với những người đã cho L ma túy, do không rõ lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh đang tiếp tục truy xét, khi nào xác định được lai lịch thì làm rõ và xử lý sau.

  4. Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét chấp nhận một phần quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về tội danh, hình phạt đối với bị cáo cũng như đề nghị xử lý vật chứng vụ án. Hội đồng xét xử cũng chấp nhận đề nghị của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm i khoản 1 Điều 249; Điều 55; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Bùi Thị Bích L 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 10 (mười) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù Tính từ ngày 11/6/2023.

  • Căn cứ vào điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

    - Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) hũ thủy tinh bên trong chứa tinh thể nhuyễn màu trắng, qua giám định xác định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 12,8834 gam, loại Ketamine (khối lượng còn lại sau giám định là 12,0412g); 01 (một) đĩa sứ, trên đĩa sứ có ghi chữ HERMES; 01 (một) thẻ nhựa, trên thẻ nhựa có ghi chữ HERMES; 01 (một) ly thủy tinh; 01 (một) đoạn ống hút nhựa.

    - Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động kiểu dáng Iphone, có số Imei: 356712115982001 cùng 01 sim có số thuê bao 0767022223.

    (tất cả vật chứng trên Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh đang tạm giữ theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 20/10/2023 giữa Công an huyện Bình Chánh và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh)

  • Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, Miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  • Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày Kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TPHCM (1);
  • - Viện kiểm sát nhân dân TPHCM (1);
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh (2);
  • - Công an huyện Bình Chánh (1);
  • - Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh (1);
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an TPHCM (1);
  • - Sở tư pháp TPHCM (1);
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Bình Chánh (2);
  • - Bị cáo (1);
  • - Đương sự (3);
  • - Lưu hồ sơ (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lý Thường Đông

2000012 312205

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 302/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 302/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị Bích L tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger