Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 302/2023/HNGĐ-ST

Ngày 23-8-2023.

V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Trương Thị Diệp
Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Trần Văn Chánh
2. Bà Thiều Thị Phi Loan
Thư ký phiên tòa:Bà Ngô Thị Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Huỳnh Như - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 3428/2022/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2022, về việc tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 358/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 169/2022/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 8 năm 2023, giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Bà La Thị Ngọc A, sinh năm 1987 – Vắng mặt.
  • Địa chỉ thường trú: 09, tổ 36, khu phố 9, phường T, thành phố B, tỉnh Đ.
  • Nơi ở hiện nay: E56, đường D9, khu phố 7, phường T, thành phố B, tỉnh Đ.
  • * Bị đơn: Ông Đào Thành N, sinh năm 1991 – Vắng mặt.
  • Địa chỉ thường trú: 09, tổ 36, khu phố 9, phường T, thành phố B, tỉnh Đ.
  • Nơi ở hiện nay: Số 39, tổ 39B, khu phố 11A, phường T, thành phố B, tỉnh Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, lời trình bày tại biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng và hoà giải nguyên đơn bà La Thị Ngọc A trình bày:

Vợ chồng bà kết hôn vào năm 2010, có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố B tỉnh Đ, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Vợ chồng chung sống với nhau không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hòa hợp và không còn yêu thương nhau. Bà nhận thấy những mâu thuẫn giữa hai vợ chồng không thể giải quyết và cứu vãn được nên bà làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Đào Thành N.

Về con chung: Có 02 con chung là cháu Đào Phúc A1, sinh ngày 19/6/2010 và cháu Đào Thùy A2, sinh ngày 11/01/2016. Ly hôn, bà A yêu cầu được nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Đào Thùy A2, đồng ý giao cháu Đào Phúc A1 cho ông N nuôi dưỡng. Tạm thời, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Đào Thành N đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vắng mặt, không đến Tòa án làm việc và không có bản khai nộp Tòa án.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án được thực hiện đúng theo quy định pháp luật.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận đơn xin ly hôn của bà La Thị Ngọc A; Về con chung: Có 02 con chung là cháu Đào Phúc A1, sinh ngày 19/6/2010 và cháu Đào Thùy A2, sinh ngày 11/01/2016. Hiện tại, cháu Đào Phúc A1 đang sinh sống cùng với ông N và cháu cũng có nguyện vọng được ở với ba nên giao cháu Đào Phúc A1 cho ông N trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Cháu Đào Thùy A2 hiện đang sinh sống cùng bà A và có nguyện vọng được ở với mẹ nên giao cháu Đào Thuỳ A2 cho bà A trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng.

Về tài sản chung, bà A trình bày tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết và không có nợ chung. Tuy nhiên do chưa lấy được lời khai của ông N nên đề nghị tách phần tài sản chung và nợ chung để giải quyết bằng vụ án dân sự khác nếu sau này ông N có yêu cầu.

Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà A phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà A có đơn xin vắng mặt khi xét xử; bị đơn ông Đào Thành N mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tòa để tham gia phiên tòa xét xử nhưng ông N vắng mặt không có lý do. Do vậy, căn cứ theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bà A và ông N.

[2] Về thẩm quyền: Bà A khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với ông N, có địa chỉ thường trú tại số nhà 39, tổ 39B, khu phố 11A, phường T, thành phố B, tỉnh Đ. Căn cứ Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

[3] Về quan hệ pháp luật và pháp luật áp dụng: Bà A và ông N kết hôn vào năm 2010, có làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố B, tỉnh Đ. Căn cứ quy định tại Điều 9, 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000, nên xác định quan hệ hôn nhân giữa bà A và ông N là hôn nhân hợp pháp. Bà A làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, con chung với ông N, đây là quan hệ tranh chấp về “Ly hôn, nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[4] Về quan hệ hôn nhân: Qua đơn khởi kiện ly hôn của bà A, tại bản tự khai và lời trình bày tại biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải giải cho thấy mâu thuẫn giữa bà A và ông N là có thật, mặc dù xác minh mâu thuẫn ở địa phương không nắm được. Tuy nhiên, Toà án đã nhiều lần triệu tập ông N để hoà giải đoàn tụ nhưng ông N đã không đến tòa trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Nhận thấy mục đích hôn nhân giữa bà A và ông N không còn đạt được nên nếu có tạo điều kiện về thời gian cho cả hai hòa giải hàn gắn cũng không có kết quả. Vì vậy, căn cứ Điều 56, 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, chấp nhận đơn xin ly hôn của bà A, giải quyết cho bà A được ly hôn ông N.

[5] Về con chung: Ông bà có 02 con chung là cháu Đào Phúc A1, sinh ngày 19/6/2010 và cháu Đào Thùy A2, sinh ngày 11/01/2016. Xét thấy, cháu Đào Phúc A1 có nguyện vọng được ở với ba và hiện đang sinh sống cùng với ông N nên giao cháu Đào Phúc A1 cho ông N trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Cháu Đào Thùy A2 có nguyện vọng được ở với mẹ và hiện đang sinh sống cùng bà A nên giao cháu Đào Thuỳ A2 cho bà A trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Do các bên không yêu cầu nên tạm thời bà A và ông N không cấp dưỡng nuôi con chung.

[6] Về tài sản chung, bà A trình bày tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết; nợ chung: không có. Tuy nhiên, do chưa lấy được lời khai của ông N nên tách phần tài sản chung và nợ chung để giải quyết bằng vụ án dân sự khác nếu sau này các bên có yêu cầu.

[7] Về án phí: Bà A phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 266, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự;

- Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84, 131 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà La Thị Ngọc A.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà La Thị Ngọc A được ly hôn với ông Đào Thành N.

2. Về con chung: Giao cháu Đào Phúc A1, sinh ngày 19/6/2010 cho ông Đào Thành N trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Giao cháu Đào Thùy A2, sinh ngày 11/01/2016 cho bà La Thị Ngọc A trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Tạm thời, bà A và ông N không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Các bên được quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con theo thủ tục pháp luật quy định.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

4. Về án phí HNGĐST: Nguyên đơn bà La Thị Ngọc A phải chịu số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005407 ngày 08/12/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

5. Bà La Thị Ngọc A và ông Đào Thành N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa;
  • - Đương sự (2);
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng và Thẩm phán (3).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trương Thị Diệp

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 302/2023/HNGĐ-ST ngày 23/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 302/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: mâu thuẫn vợ chồng, ly thân
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger