TÒA ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 302/2024/DS-PT
Ngày 16-12-2024
V/v tranh chấp hợp đồng cầm cố
quyền sử dụng đất, quyền sở hữu
nhà ở; đòi tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Ngọc Phỉ.
Các Thẩm phán: Ông Lưu Hữu Giàu và ông Nguyễn Hoàng Thám.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Nguyên Huân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Phạm Trường San - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 340/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở; đòi tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 358/2024/QĐ-PT ngày 06 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số: 367/2024/QĐ-PT ngày 29 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Trần Thanh P, sinh năm 1979; nơi cư trú: Số D, đường số D, khu S, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Bị đơn:
- Ông Lê Minh N, sinh năm 1980 (có mặt);
- Bà Võ Thị Thúy H, sinh năm 1981 (vắng mặt);
Người đại diện hợp pháp của bà Võ Thị Thúy H theo văn bản ủy quyền ngày 01/12/2020: Ông Lê Minh N, sinh năm 1980 (có mặt).
Cùng nơi cư trú: Số A, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; cùng nơi ở hiện nay: Số B, đường P, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Cục Thi hành án dân sự tỉnh An Giang; trụ sở: Số F, đường T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang; trụ sở: Tổ A, khóm Đ, phường Đ, thành phố L, tỉnh An Giang (vắng mặt).
- Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H; trụ sở: Số B B, đường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H theo văn bản ủy quyền ngày 28/11/2024: Ông Lai Quốc H1, chức vụ: Phó Phòng giám sát nợ H3 và ông Phạm Minh P1, chức vụ: Trưởng BP KHCN – H3 (có mặt).
- Bà Trần Bích T, sinh năm 1980; nơi cư trú: Số H, đường T, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).
- Ông Võ Tiến C, sinh năm 1952 (vắng mặt);
- Bà Trần Kim H2, sinh năm 1956 (vắng mặt);
Cùng nơi cư trú: Số A, đường D, khu dân cư X, khóm Đ, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- Người kháng cáo:
- Ông Lê Minh N và bà Võ Thị Thúy H là bị đơn trong vụ án.
- Ông Võ Tiến C và bà Trần Kim H2 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Trần Thanh P (sau đây gọi tắt là ông P) trình bày:
Ngày 16/4/2019, ông Lê Minh N và bà Võ Thị Thúy H (sau đây gọi tắt là ông N, bà H) cầm cố cho ông P tài sản là nhà ở cấp 2 (kết cấu: Nền gạch men, khung bê tông cốt thép, vách gạch, sàn bê tông cốt thép, mái tole), diện tích xây dựng 113m2, diện tích sàn 422,4m² gắn với diện tích 304,5m² đất ở đô thị (sau đây viết tắt là đất ODT) thuộc thửa số 205, tờ bản đồ số 18, tại: Số E, đường V, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất (sau đây viết tắt là GCN QSD đất) số: BY 946181 ngày 25/11/2015 do Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) thành phố L cấp cho ông N và bà H (sau đây gọi tắt là nhà và đất Số E, đường V, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang); số tiền cầm cố là 11.500.000.000đ, lãi suất 1%/tháng.
Thực hiện hợp đồng cầm cố, ông N và bà H trả lãi đến ngày 16/8/2019 ngưng trả lãi.
Ông P gặp ông N và bà H nhiều lần để trao đổi và yêu cầu trả nợ nhưng ông N và bà H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ông P.
Ngày 21/9/2020, hai bên thỏa thuận lập biên bản về việc ông N và bà H cam kết thanh toán hết nợ gốc và lãi trong thời hạn 30 ngày; đến thời hạn, ông N và bà H vẫn không thực hiện.
Nay ông P yêu cầu ông N và bà H liên đới trả cho ông P số tiền cầm cố nhà và đất là 11.500.000.000₫ và trả lãi theo mức lãi 12%/năm từ ngày 16/8/2019 đến ngày khi xét xử xong vụ án.
Cục Thi hành án dân sự (sau đây viết tắt là Cục T1) tỉnh An Giang đang kê biên, phát mãi nhà và đất tại số E, đường V, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang theo yêu cầu của Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H (sau đây gọi tắt H3).
Ông P không có ý kiến về việc Cục THADS tỉnh A kê biên, phát mãi nhà và đất tại số E, đường V, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông P yêu cầu tuyên bố hợp đồng cầm cố nhà, đất ngày 16/4/2019 vô hiệu; yêu cầu ông N và bà H có trách nhiệm liên đới trả cho ông P số tiền cầm cố tài sản là 11.500.000.000₫ và tiền lãi là 2.906.944..444₫.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông N và bà H (do ông Nguyên đại D) trình bày:
Ông N và bà H thống nhất như trình bày của ông P về hợp đồng cầm cố nhà và đất tại số E, đường V, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang và số tiền cầm cố 11.500.000.000₫.
Ông N và bà H thừa nhận có nợ ông P vốn gốc 11.500.000.000₫ và lãi nhưng ông N và bà H yêu cầu tính lãi là 10%/năm. Ông N và bà H đồng ý trả cho ông P vốn gốc 11.500.000.000₫ và lãi là 10%/năm. Ông N và bà H không có ý kiến về việc Cục THADS tỉnh A kê biên, phát mãi nhà và đất tại số E, đường V, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Ông N và bà H thống nhất như trình bày của ông Võ Tiến C, bà Trần Kim H2 (sau đây gọi tắt là ông C, bà H2). Ông N và bà H thừa nhận có nợ ông C và bà H2 vốn gốc là 5.200.000.000₫ và lãi. Ông N và bà H đồng ý trả cho ông C và bà H2 vốn gốc là 5.200.000.000₫ và lãi 10%/năm như ông C và bà H2 yêu cầu.
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông N và bà H (do ông Nguyên đại D) đồng ý theo yêu cầu của ông P; đồng ý theo yêu cầu của ông C và bà H2.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Theo đơn yêu cầu độc lập đề ngày 01/12/2020; văn bản trình bày ý kiến đề ngày 19/6/2024 và ngày 04/8/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, ông C và bà H2 trình bày:
Ngày 15/9/2014, ông C và bà H2 cho ông N và bà H mượn 5.200.000.000₫ để mua nhà và đất tại số E, đường V, phường M, thành phố L; có lập Biên bản thỏa thuận kiêm biên nhận mượn và có thỏa thuận ông C và bà H2 sẽ hưởng 50% giá trị nhà, đất.
Ông C và bà H2 yêu cầu: Khi phát mãi nhà và đất tại số E, đường V, phường M, thành phố L thì ông N và bà H phải thanh toán cho ông C và bà H2 50% giá trị nhà và tại số E, đường V, phường M, thành phố L từ số tiền bán tài sản hoặc xử lý tài sản đúng nội dụng Biên bản thỏa thuận kiêm biên nhận mượn ngày 15/9/2014. Nếu nghĩa vụ trả nợ thế chấp, cầm cố vượt quá 50% giá trị tài sản thì ông N và bà H tự chịu trách nhiệm thanh toán bằng tài sản khác của ông N và bà H.
Ngày 19/6/2024, ông C và bà H2 yêu cầu ông N và bà H có trách nhiệm liên đới trả cho ông C và bà H2 số tiền 5.200.000.000đ và lãi phát sinh từ ngày 01/01/2016 đến khi thực hiện xong nghĩa vụ theo mức lãi 10%/năm.
Ngày 04/8/2024, ông C và bà H2 yêu cầu ông N và bà H có trách nhiệm liên đới trả cho ông C và bà H2 số tiền 5.200.000.000đ; không yêu cầu trả lãi (rút yêu cầu trả lãi).
Tại phiên tòa sơ thẩm, ông C và bà H2 yêu cầu ông N và bà H có trách nhiệm liên đới trả cho ông C và bà H2 số tiền 5.200.000.000đ; không yêu cầu trả lãi.
Trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện của H3 trình bày:
Nhà và đất tại số E, đường V, phường M, thành phố L đang kê biên, phát mãi theo Quyết định số: 84/QĐ-CCTHADS ngày 12/10/2020 và Quyết định số: 21/QĐ-CTHADS ngày 08/12/2020 về việc rút hồ sơ về Cục THADS tỉnh A để thi hành theo Bản án phúc thẩm số 143/2020/DS-PT ngày 30/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, người phải thi hành án là ông N và bà H, người được thi hành án là H3; do ông N và bà H đang tranh chấp ly hôn và chia tài sản chung nên H3 chưa thu hồi được nợ.
- Người đại diện của Cục THADS tỉnh A trình bày:
Cục THADS tỉnh A không có ý kiến về các giao dịch dân sự cầm cố, mượn tiền giữa ông P với ông N và bà H; giữa ông C và bà H2 với ông N và bà H. Cục THADS tỉnh A đang kê biên tài sản là nhà và đất tại số E, đường V, phường M, thành phố L để thi hành án và bảo đảm việc thi hành nghĩa vụ của ông N và bà H theo các bản án có hiệu lực pháp luật; Cục THADS tỉnh A sẽ tiếp tục thực hiện theo quy định pháp luật về thi hành án dân sự.
- Chi THADS thành phố L: Không gửi văn bản trình bày ý kiến.
- Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Trần Bích T (sau đây gọi tắt là bà T) trình bày:
Cục THADS tỉnh A đang kê biên nhà và đất tại số E, đường V, phường M, thành phố L theo yêu cầu của người được thi hành án là H3 và của bà T.
Theo bản án có hiệu lực pháp luật thì bà H có nghĩa vụ trả cho bà T hơn 11 tỷ đồng; quá trình bà T khởi kiện, H3 khởi kiện thì ông P, ông C và bà H2 không khởi kiện về việc ông N và bà H mượn tiền, cầm cố tài sản. Giai đoạn thi hành án cho bà T và H3, Cục THADS tỉnh A kê biên nhà và đất tại số E, đường V, phường M, thành phố L thì phát sinh tranh chấp về việc ông P, ông C và bà H2 cho ông N và bà H mượn tiền; số tiền khởi kiện trong vụ án này chiếm hết phần mà bà H phải thi hành án cho bà T nên bà T cho rằng đây là giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ.
Bà T yêu cầu chuyển hồ sơ đến cơ quan điều tra để xử lý hành vi giả tạo việc vay tiền giữa ông P, ông C và bà H2 với ông N và bà H nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho bà T.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 304/2024/DS-ST ngày 06/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông P: Tuyên bố vô hiệu Hợp đồng cầm cố nhà và đất ngày 16/4/2024 giữa ông P và ông N, bà H.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông P về yêu cầu ông N và bà H trả số tiền 14.406.944.444₫ (trong đó: Số tiền cầm cố là 11.500.000.000đ; lãi là 2.906.944.444₫).
- Tuyên bố vô hiệu Biên bản thỏa thuận kiêm biên nhận mượn tiền ngày 25/9/2014 giữa ông C, bà H2 và ông N, bà H.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông C và bà H2 về yêu cầu ông N và bà H liên đới trả số tiền 5.200.000.000₫.
- Đình chỉ một phần yêu cầu độc lập của ông C và bà H2 về yêu cầu ông N và bà H trả lãi trên số tiền 5.200.000.000₫.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 19/9/2024, ông N và bà H kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm giải quyết những vấn đề sau đây:
- Hủy Bản án sơ thẩm số: 304/2024/DS-ST ngày 06/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên;
- Công nhận nội dụng thỏa thuận trả nợ giữa ông N, bà H với nguyên đơn và người có đơn yêu cầu độc lập theo các Biên bản thỏa thuận trả nợ vay ngày 03/8/2024 và ngày 05/8/2024;
- Chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra có thẩm quyền xử lý hành vi của bà T về cho vay lãi nặng; về vu khống, xúc phạm uy tín, danh dự của ông N và bà H về việc cho rằng ông N và bà H giả hồ sơ vay vốn để trốn tránh trách nhiệm trả nợ cho bà T; nhưng bà T không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho hành vi quy chụp của bà T.
Ngày 17/9/2024, ông C và bà H2 kháng cáo, yêu cầu cấp phúc thẩm giải quyết những vấn đề sau đây:
- Hủy Bản án sơ thẩm số: 304/2024/DS-ST ngày 06/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của ông C và bà H2 về yêu cầu ông N và bà H liên đới trả cho ông C và bà H2 số tiền 5.200.000.000₫ theo Biên bản thỏa thuận trả nợ vay ngày 05/8/2024.
Tại phiên tòa:
- Ông P: Vắng mặt.
- Bà H: Vắng mặt nhưng có người đại diện là ông N.
- Ông N (đồng thời, là người đại diện của bà H) trình bày: Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Yêu cầu bổ sung: Chuyển sang cơ quan điều tra về hành vi của bà T giả tạo tài liệu, chứng cứ; chuyển sang cơ quan điều tra về hành vi của Tòa án cấp sơ thẩm và Viện kiểm sát Long Xuyên làm sai lệch hồ sơ vụ án.
- Ông C, bà H2: Vắng mặt.
- Người đại diện của H3 trình bày: H3 đồng ý bản án sơ thẩm.
- Bà T trình bày: đồng ý bản án sơ thẩm.
- Cục THADS tỉnh A; Chi cục THADS thành phố L: Vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu ý kiến:
- Về tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 3 Điều 296, khoản 1 Điều 308 và khoản 2 Điều 312 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của ông C và bà H2; không chấp nhận kháng cáo của ông N và bà H; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 304/2024/DS-ST ngày 06/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Theo văn bản ủy quyền ngày 19/6/2024, bà H2 ủy quyền cho ông C tham gia tố tụng tại Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên (cấp sơ thẩm). Tại cấp phúc thẩm, bà H2 không ủy quyền cho người khác.
[2] Ông C và bà H2 được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng ông C và bà H2 vắng mặt.
Ông C có đơn đề nghị hoãn phiên tòa và nêu lý do đi khám bệnh nhưng ông C không cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh về lý do xin hoãn phiên tòa vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định của pháp luật.
Như vậy, ông C và bà H2 kháng cáo nhưng vắng mặt thì bị coi như từ bỏ kháng cáo và Hội đồng xét xử cấp phúc đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông C và bà H2 theo quy định tại khoản 3 Điều 296 và khoản 2 Điều 312 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Ông N và bà H nộp đơn kháng cáo trong thời hạn pháp luật quy định và có nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm. Do đó, cấp phúc thẩm giải quyết vụ án theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Xét nội dung kháng cáo của ông N và bà H:
[2.1] Về yêu cầu hủy bản án sơ thẩm:
Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và các đương sự tham gia tố tụng là đúng quy định tại khoản 3 Điều 26; khoản 1, khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết vụ án theo yêu cầu khởi kiện; yêu cầu sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện của ông P (nguyên đơn); theo yêu cầu độc lập; yêu cầu sửa đổi, bổ sung yêu cầu độc lập của ông C và bà H2 (người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan) là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 4; khoản 4 Điều 70; khoản 1 và khoản 2 Điều 71; điểm a khoản 1 Điều 73 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành thủ tục tố tụng vụ án đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông N và bà H không giao nộp, không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh việc Tòa án cấp sơ thẩm vi phạm tố tụng. Do đó, cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông N và bà H về yêu cầu hủy Bản án dân sự sơ thẩm số: 304/2024/DS-ST ngày 06/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
[2.2] Về yêu cầu công nhận việc ông N và bà H đồng ý trả cho ông P số tiền cầm cố nhà, đất là 11.500.000.000₫ và tiền lãi là 2.906.944.444₫; trả cho ông C và bà H2 5.200.000.000₫:
Ông P (nguyên đơn) có mặt tại phiên tòa sơ thẩm; ông P không kháng cáo; như vậy, coi như ông P đồng ý Bản án dân sự sơ thẩm số: 304/2024/DS-ST ngày 06/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
Ông C và bà H2 từ bỏ quyền kháng cáo và Hội đồng xét xử cấp phúc đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của ông C và bà H2 như nhận định tại Mục [2].
Như vậy, quyền và lợi ích hợp pháp của ông N và bà H không bị xâm phạm. Do đó, cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông N và bà H về yêu cầu công nhận việc ông N và bà H đồng ý trả cho ông P số tiền cầm cố nhà, đất là 11.500.000.000₫ và tiền lãi là 2.906.944.444₫; về yêu cầu công nhận việc ông N và bà H đồng ý trả cho ông C và bà H2 số tiền mượn 5.200.000.000₫.
Cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; ông N phải chịu án phí phúc thẩm là 300.000đ, bà H phải chịu án phí phúc thẩm là 300.000đ; ông C và bà H2 được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 148, khoản 1 Điều 308 và khoản 2 Điều 312 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm yêu cầu kháng cáo của ông Võ Tiến C và bà Trần Kim H2.
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Lê Minh N và bà Võ Thị Thúy H.
- Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 304/2024/DS-ST ngày 06/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Thanh P. Tuyên bố vô hiệu Hợp đồng cầm cố nhà và đất ngày 16/4/2024 giữa ông Trần Thanh P và ông Lê Minh N, bà Võ Thị Thúy H.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Thanh P về yêu cầu ông Lê Minh N và bà Võ Thị Thúy H phải trả số tiền 14.406.944.444₫ (mười bốn tỷ bốn trăm lẻ sáu triệu chín trăm bốn mươi bốn nghìn bốn trăm bốn mươi bốn đồng), trong đó tiền cầm cố nhà và đất là 11.500.000.000đ (mười một tỷ năm trăm triệu đồng), tiền lãi tính từ ngày 16/8/2019 đến ngày 09/8/2024 là 2.906.944.444₫ (hai tỷ chín trăm lẻ sáu triệu chín trăm bốn mươi bốn nghìn bốn trăm bốn mươi bốn đồng).
- Tuyên bố vô hiệu biên bản thỏa thuận kiêm biên nhận mượn tiền ngày 25/9/2014 giữa ông Võ Tiến C, bà Trần Kim H2 với ông Lê Minh N, bà Võ Thị Thúy H.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Võ Tiến C và bà Trần Kim H2 về yêu cầu ông Lê Minh N và bà Võ Thị Thúy H phải liên đới trả cho ông Võ Tiến C và bà Trần Kim H2 số tiền 5.200.000.000₫ (năm tỷ hai trăm triệu đồng).
- Đình chỉ một phần yêu cầu độc lập của ông Võ Tiến C và bà Trần Kim H2 về yêu cầu ông Lê Minh N và bà Võ Thị Thúy H trả lãi trên số tiền 5.200.000.000₫ (năm tỷ hai trăm triệu đồng).
- Về án phí sơ thẩm dân sự sơ thẩm:
+ Ông Trần Thanh P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 122.706.944₫ (một trăm hai mươi hai triệu bảy trăm lẻ sáu nghìn chín trăm bốn mươi bốn đồng), được trừ vào 59.750.000đ (năm mươi chín triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0005747 ngày 23/10/2020 của Chi cục Thi hành dân sự thành phố L, tỉnh An Giang. Ông Trần Thanh P phải nộp thêm số tiền 62.956.944₫ (sáu mươi hai triệu chín trăm năm mươi sáu nghìn chín trăm bốn mươi bốn đồng).
+ Ông Võ Tiến C và bà Trần Kim H2 được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về án phí dân sự phúc thẩm:
- Ông Lê Minh N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm là 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu số: 0001573 ngày 11/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Bà Võ Thị Thúy H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm là 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo Biên lai thu số: 0001574 ngày 11/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
- Ông Võ Tiến C và bà Trần Kim H2 được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Ngô Ngọc Phỉ |
Bản án số 302/2024/DS-PT ngày 16/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở; đòi tài sản
- Số bản án: 302/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở; đòi tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp HĐ cầm cố QSDĐ
