Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 302/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 10/12/2024

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Thư.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Trương Phước Công;
  2. Bà Đào Thị Thu Vân.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Lê Hồng Duyên, Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Tiên – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 650/2024/TLST-HNGĐ về việc tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 938/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Bé L, sinh năm 1998; địa chỉ: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang; địa chỉ liên lạc: ấp Q, xã T, huyện V, thành phố Cần Thơ (Có mặt);

2. Bị đơn: Ông Trương Minh Đ, sinh năm 1996; địa chỉ: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang; địa chỉ liên hệ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, tờ tự khai và các biên bản làm việc tại Tòa án, nguyên đơn bà Trần Thị Bé L trình bày: Bà và ông Trương Minh Đ chung sống nhau vào năm 2018, hôn nhân tự tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân xã A, huyện C, tỉnh An Giang. Vợ chồng chung sống thì mâu thuẫn, nguyên nhân là bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên thường xuyên xảy ra cự cãi, chồng hay ghen tuông vô cớ và bạo hành bà, vợ chồng không còn chung sống tháng 09/2024 cho đến nay. Thấy tình cảm không còn bà xin ly hôn với ông Trương Minh Đ; Về quan hệ con chung: Có 02 con chung Trương Minh A, sinh ngày 11/9/2021 và Trương Minh P, sinh ngày 11/9/2023. Hiện cháu Trương Minh A đang sống với ông Đ, cháu Trương Minh Phát H đang chung sống với bà L. Khi ly hôn bà yêu cầu tiếp tục nuôi con Trương Minh P, đồng ý để ông Đ tiếp tục nuôi cháu Minh A, bà không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con và bà cũng không cấp dưỡng nuôi con; Về quan hệ tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về quan hệ nợ chung: Không có, Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, bà L giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn ông Trương Minh Đ trình bày: Thống nhất với bà L về thời gian chung sống, thời gian xảy ra mâu thuẫn và ly thân, nhận thấy nguyên nhân mâu thuẫn không lớn. Nay vợ xin ly hôn, ông không đồng ý vì còn thương vợ và con; Về quan hệ con chung: Có 02 con chung Trương Minh A, sinh ngày 11/9/2021 và Trương Minh P, sinh ngày 11/9/2023. Hiện cháu Trương Minh A đang sống với ông Đ, cháu Trương Minh Phát H đang chung sống với bà L. Khi ly hôn yêu cầu tiếp tục nuôi cháu Minh A, đồng ý để bà L tiếp tục nuôi cháu Minh P, ông không yêu cầu cấp dưỡng và ông cũng không cấp dưỡng; Về quan hệ tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về quan hệ nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, ông Đ giữ nguyên ý kiến trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng. Về ý kiến giải quyết: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình:

  • Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trần Thị Bé L đối với ông Trương Minh Đ.
  • Bà Trần Thị Bé L được tiếp tục chăm sóc con chung tên Trương Minh P, sinh ngày 11/9/2023. Ông Trương Minh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con.
  • Ông Trương Minh Đ được tiếp tục chăm sóc con chung tên Trương Minh A, sinh ngày 11/9/2021. Bà Trần Thị Bé L không phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bà Trần Thị Bé L1 yêu cầu ly hôn với ông Trương Minh Đ, ông Đ có nơi cư trú ấp A, xã A, huyện C, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Bà Trần Thị Bé L yêu cầu ly hôn với ông Trương Minh Đ, bà L và ông Đ có đăng ký kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên quan hệ hôn nhân giữa hai người được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Quá trình làm việc và tại phiên Tòa hôm nay, bà L xác định trong thời gian vợ chồng sống chung ông Đ ghen tuông vô cớ, đánh bà nhưng bà vẫn hàn gắn chung sống do còn thương chồng và con, thời gian gần đây tháng 07/2024 ông Đ tiếp tục đánh bà do ghen tuông vô cớ khi thấy có tin nhắn trên điện thoại bà, xảy ra vợ chồng gây gỗ cự cãi, nên bà về nhà mẹ ruột khoảng 10 ngày, bà trở về do nghĩ đến các con, nhưng khi về chung sống khoảng 01 tháng thì vợ chồng tiếp tục gây gỗ trong gia đình nên bà nhận thấy vợ chồng không thể chung sống được, nên đã về nhà mẹ ruột sống từ thời gian 09/2024 cho đến nay, nay bà nhận thấy tình cảm không còn nên yêu cầu ly hôn với ông Trương Minh Đ. Ông Đ xác định quá trình chung sống có cự cãi nhưng không lớn, vợ chồng tự hàn gắn với nhau, ông có ghen đánh vợ nhưng có nguyên nhân do thấy tin nhắn của người đàn ông khác nhắn cho vợ, nên vợ chồng cự cãi, nhưng sau khi vợ chồng nói chuyện thì hàn gắn lại vợ chồng chung sống bình thường, khoảng 01 tháng sau vợ tự về nhà mẹ ruột sống không về nhà ông nữa. Nay ông không đồng ý ly hôn vì còn thương vợ muốn hàn gắn về chung sống.

Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa bà L và ông Đ đã diễn ra trong thời gian dài, nguyên nhân do về ông Đ ghen tuông, bạo hành với bà L, dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng mâu thuẫn, cự cãi. Bà L cũng nhiều lần cho trở về nhà chung sống nhưng vợ chồng tiếp tục mâu thuẫn. Trong thời gian giải quyết, Tòa án cũng tạo điều kiện cho bà L và ông Đ hàn gắn tình cảm vợ chồng, nhưng hai bên cũng không hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu chung sống với nhau cũng không hạnh phúc. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L đối với ông Đ là phù hợp theo quy định pháp luật.

[3] Về quan hệ con chung: Trong thời gian chung sống, bà L và ông Đ xác định vợ chồng có 02 con chung Trương Minh A, sinh ngày 11/9/2021 và Trương Minh P, sinh ngày 11/9/2023. Hiện cháu Trương Minh A đang sống với ông Đ, cháu Trương Minh Phát H đang chung sống với bà L. Tại phiên tòa, bà L và ông Đ thống nhất thỏa thuận, ông Đ được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Minh A, bà L được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng cháu Minh P. Xét đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, nên được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận

[4] Đối với cấp dưỡng nuôi con chung: Do bà L, ông Đ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[5] Về quan hệ tài sản chung: Bà L, ông Đ thống nhất không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[6] Về quan hệ nợ chung: Bà L, ông Đ thống nhất không có, nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[7] Án phí hôn nhân sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 144, Điều 147 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

  • Các Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Bé L đối với ông Trương Minh Đ.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Trần Thị Bé L được ly hôn với ông Trương Minh Đ.

Giấy chứng nhận kết hôn số 66, ngày 18 tháng 5 năm 2018 do Ủy ban nhân dân xã A, huyện C, tỉnh An Giang cấp cho bà Trần Thị Bé L và ông Trương Minh Đ không còn giá trị pháp lý.

- Về quan hệ con chung: Bà Trần Thị Bé L được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Trương Minh P, sinh ngày 11/9/2023. Ông Trương Minh Đ được tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng con chung tên Trương Minh A, sinh ngày 11/9/2021. Bà Trần Thị Bé L và ông Trương Minh Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà Trần Thị Bé L, ông Trương Minh Đ cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở bà L, ông Đ trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

- Về quan hệ tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.

- Về quan hệ nợ chung: Không có. Ghi nhận việc bà Trần Thị Bé L và ông Trương Minh Đ xác định không có nợ chung trong thời kỳ hôn nhân, nhưng sau khi quyết định ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có người khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, thì bà Trần Thị Bé L và ông Trương Minh Đ phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, bà Trần Thị Bé L phải chịu, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, theo biên lai thu số 0023413 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang cấp ngày 16 tháng 10 năm 2024. Bà Trần Thị Bé L đã nộp đủ án phí.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND H. Chợ Mới;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - Chi cục THADS H. Chợ Mới;
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Anh Thư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 302/2024/HNGĐ-ST ngày 10/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 302/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: yêu cầu ly hôn, yêu cầu nuôi con chung, tài sản chung, nợ chung:không có
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger