Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————


Bản án số: 302/2024/HNGĐ-ST

Ngày 30/9/2024

“V/v Tranh chấp ly hôn”


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG


- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Phương

Ông Nguyễn Bình Dương

- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Anh - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 30/9/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 169/2024/TLST-HNGĐ ngày 25/6/2024 về “Tranh chấp ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 203/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/7/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 181/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29/8/2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1975 (xin vắng mặt)

HKTT: Tổ dân phố N, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang

Địa chỉ hiện nay ở nước ngoài: Công ty TNHH B, Số A, đoạn A, đường Đ, quận X, thành phố T, Đài Loan.

- Người đại diện nhận văn bản tố tụng của anh Q: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1969; địa chỉ: tổ dân phố N, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

* Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1978 (vắng mặt)

Địa chỉ cư trú cuối cùng của chị T tại Việt Nam: Tổ dân phố N, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang

Hiện chị T đang ở nước ngoài không rõ địa chỉ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn anh Nguyễn Văn Q trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thị T 1998 nhưng đến năm 2008 và đăng ký kết hôn tại UBND xã T (nay là thị trấn Đ), huyện L. Tháng 4 năm 2008 thì chị T đi xuất khẩu làm ăn ở M, đến năm 2013 thì chị T sang Đài Loan. Năm 2014 anh cũng đi lao động tại Đài Loan nhưng đến nay cũng không biết chị T đang sinh sống ở nơi nào tại Đài Loan. Giữa anh và chị T đã xảy ra nhiều mâu thuẫn với nhau và sống ly thân từ lâu, không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho anh và chị Nguyễn Thị T được ly hôn.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Nguyễn Thanh N, sinh ngày 15/10/1999, hiện nay cháu N đã lớn và trưởng thành đang làm Ngân hàng ở Hà Nội, anh không đề nghị Tòa án giải quyết về con chung.

- Về tài sản chung, công nợ chung: không đề nghị Tòa án giải quyết trong vụ án này.

* Bị đơn là chị Nguyễn Thị Thanh H đang lao động ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật đối với chị T đến nay Tòa án không nhận được thông tin của chị T.

Tòa án đã làm việc với bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1949, địa chỉ Tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang là mẹ đẻ của chị Nguyễn Thị T, bà có ý kiến trình bày: bà là mẹ đẻ của chị Nguyễn Thị T. Chị T hiện nay đang lao động tại Đài Loan. Gia đình bà vẫn thường xuyên liên hệ với chị T qua điện thoại nhưng không biết địa chỉ của chị T ở nước ngoài. Bà đã thông báo cho chị T về việc anh Q xin ly hôn tại Tòa án nhưng chị T không về nước làm việc được, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, anh Q xin vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Chị Thanh vắng M không có lý do và không có quan điểm gì trình bày. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 1, 2 Điều 479 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn Q. Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Q được ly hôn chị Nguyễn Thị T.

Về tài sản chung và công nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: anh Nguyễn Văn Q phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Nguyễn Văn Q là người Việt Nam hiện đang cư trú ở nước ngoài có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với chị Nguyễn Thị T. Bị đơn chị Nguyễn Thị T có hộ khẩu tại tỉnh Bắc Giang và hiện đang nước ngoài không có địa chỉ cụ thể. Căn cứ công văn số: 21528/QLXNC-P3 ngày 20/9/2024 của Cục Q1 - Bộ C thì chị Nguyễn Thị T đã xuất cảnh ra nước ngoài ngày 08/10/2023, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn chị Nguyễn Thị T được xác định là đang ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa anh Q có đơn xin xét xử vắng mặt. Chị T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Bà Nguyễn Thị D là mẹ đẻ của chị T xác định hiện chị T đang ở nước ngoài nhưng bà không biết địa chỉ cụ thể của chị T ở nước ngoài để cung cấp cho Tòa án. Tòa án đã niêm yết tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho chị T theo quy định tại khoản 5 Điều 177; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự. HĐXX thấy việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng quá trình giải quyết vụ án. Do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Q và chị Nguyễn Thị Thanh kết H1 với nhau ngày 08/01/2008 tại UBND xã T (nay là thị trấn Đ), huyện L, việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn anh Q xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn với chị T. Xem xét đơn khởi kiện của anh Q, HĐXX thấy: anh Q xác định hiện nay vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống. Bản thân chị T hiện nay đang sinh sống ở nước ngoài không có địa chỉ cụ thể, vợ chồng đã sống ly thân với nhau, không liên lạc với nhau. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Q và chị T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Q, xử cho anh Q được ly hôn với chị T.

[4]. Về con chung: anh Q và chị T có 01 con chung là cháu Nguyễn Thanh N, sinh ngày 15/10/1999. Hiện nay cháu N đã trưởng thành nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[5]. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (công nợ): anh Q không đề nghị nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.

[6]. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc anh Nguyễn Văn Q phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

[7]. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 7 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 238; Điều 271; Điều 273, khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn Q.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn Q được ly hôn chị Nguyễn Thị T.
  2. Về án phí: Anh Nguyễn Văn Q phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001333 ngày 25/6/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
  3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang
  • - UBND TT Đồi Ngô, huyện Lục Nam;
  • - Cổng thông tin điện tử TANDTC;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ




Hoàng Thị Hải Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 302/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 302/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Quân ly hôn Thanh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger