|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 302/2024/HS-ST |
Ngày 19/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU
TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Sỹ Tiến
Ông Đặng Song Hoàn
- Thư ký phiên toà: Ông Khuất Cao Hoàng – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thu Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 233/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 328/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
TÔN ĐỨC T, sinh năm 2001 tại Bà Rịa - Vũng Tàu;
Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: 1000/24 đường C, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Cha: Tôn Thất B, sinh năm 1969 (đã mất); Mẹ: Lương Thị Đ, sinh năm 1978; Có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai;
- Tiền án, tiền sự: không.
- Bị bắt ngày 13/11/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V(có mặt).
Bị hại: Anh Phạm Thanh P, sinh năm 1990; Địa chỉ: số C, phường H, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Dương Phú P1, sinh năm 1992; Địa chỉ: Ấp K, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Người làm chứng: Anh Đỗ Dũng A, sinh năm 1995; Địa chỉ: Ấp L, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu(vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ ngày 28/10/2023 đến ngày 02/11/2023, Tôn Đức T xe ô tô HYUNDAI ACCENT biển số 65A-293.48 của anh Phạm Thanh P, sinh năm 1990, trú tại: số C T, phường H, thành phồ V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàuđể đi lại với giá 700.000 đồng trong một ngày. Khi hết hợp đồng thuê xe, do cần tiền nên Tôn Đức T1 sinh ý định tiếp tục thuê xe ô tô HYUNDAI ACCENT biển số 65A-293.48 của anh Phạm Thanh P2 đích đem đi cầm cố lấy tiền tiêu xài. Vào ngày 02/11/2023, sau khi trả tiền thuê xe trước đó, đồng thời T2 tiếp tục thuê xe dài ngày thì được anh Phạm Thanh P3 ý và ký kết hợp đồng cho thuê xe với T3 thời gian từ ngày 02/11/2023 đến ngày 22/11/2023 với giá thuê là 10.000.000 đồng. Sau khi anh Phạm Thanh P giao xe thì ngày 03/11/2023, Tchạy xe đến xã B, huyện X(sinh năm 1995, là con dì ruột của T4 đang làm công nhân tại cửa hàng X), nói bản thân đang cần tiền để giải quyết công việc riêng nên hỏi Đỗ Dũng A1 vay số tiền 100.000.000 đồng, do Dũng A8 có tiền nên giới thiệu người quen cho T7 tiền. Đến trưa cùng ngày Đỗ Dũng A2 Tôn Đức T5 gặp anh Dương Phú P1(sinh năm 1992; HKTT: Ấp K, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàuthì anh P1nói do mới biết Tôn Đức T6 anh P1không dám cho Tôn Đức T7 số tiền như trên, nên Đỗ Dũng A3 sẽ đứng ra lấy uy tín bảo lãnh để anh P1cho Tôn Đức T7 tiền. Tôn Đức T8 nói với anh Dương P4 Plhiện có chiếc xe ô tô HYUNDAI ACCENT biển số 65A-293.48 Thanh đang đi là xe của công ty nơi Tôn Đức T9 làm việc, T10 để lại cho anh Dương P4 P1làm tin thì anh Plđồng ý cho Tôn Đức T7 số tiền 100.000.000 đồng. Anh P1nói sẽ đưa tiền mặt 10.000.000đ và chuyển số tiền 90.000.000₫ qua tài khoản số 0691000404271 của Đỗ Dũng A1 Đỗ Dũng A4 cho Tôn Đức T11 khi đã nhận đủ số tiền 100.000.000 đồng từ anh Dương P4 P1 Tôn Đức T12 sử dụng hết số tiền trên.
Đến thời gian như đã hứa mà Tôn Đức T13 có tiền trả lại anh Dương Phú P1, anh P4 P1liên hệ với anh Thanh P9 hỏi về chiếc xe nên anh T14 Pmới biết về việc T12 cầm chiếc xe của mình. Liên lạc với T15 cầu Tđem xe về trả nhưng T16 không có tiền để chuộc, anh Thanh P5 cơ quan chức năng. Biết không thể có tiền để trả cho anh P4 P1chuộc xe để trả xe cho anh T14 PTôn Đức T12 đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Vđầu thú về hành vi phạm tội của mình.
Bản kết luận định giá tài sản số: 178/KL – HĐĐG – TTHS ngày 24/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản Tố tụng Hình sự thành phố Vkết luận: 01 (một) chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai biển số 65A-293.48; Số khung; RLUA 741BBMN057066; Số máy: G4LCLLF723225 có giá trị: 410.200.460đ (Bốn trăm mười triệu, hai trăm ngàn bốn trăm sáu mươi đồng).
* Việc thu giữ và xử lý vật chứng bao gồm:
- Vật chứng đã thu và xử lý:
+ 01 (một) chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai biển số 65A – 293.48; Số khung; RLUA 741BBMN057066; Số máy: G4LCLLF723225 do chị Phạm Lê Huỳnh A5, sinh năm 1996; HKTT: số C T, phường H, Thành phố V chủ xe, cũng là em ruột của anh Phạm Thanh P6 quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố V ra quyết định trả
lại xe trên cho chị Huỳnh A5 (Theo quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số 182/QĐ-Đ3 ngày 18/12/2023);
* Về trách nhiệm dân sự:
- Anh Phạm Thanh P7 cầu bị cáo Tôn Đức T8 có trách nhiệm bồi thường số tiền 10.000.000 đồng (tiền hợp đồng thuê xe). Tuy nhiên, sau đó anh Thanh P8 có đơn xin bãi nại, rút toàn bộ yêu cầu đối với Tôn Đức T17 các bên đã thống nhất thỏa thuận và đã giải quyết xong với nhau về việc bồi thường thiệt hại nên không yêu cầu gì thêm.
- Anh Dương P4 Plyêu cầu bị cáo Tôn Đức T18 trách nhiệm trả lại số tiền 100.000.000 đồng đã cho bị cáo T7.
* Bản cáo trạng số 206/CT-VKSVT ngày 18/7/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố bị cáo Tôn Đức T8 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Tôn Đức T8 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, đồng thời đề nghị:
Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 10 (mười) đến 11 (mười một) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong nên đề xuất không xem xét.
Về trách nhiệm dân sự:
- Chiếc xe bị cáo chiếm đoạt đã thu hồi, anh Thanh P15 yêu cầu bồi thường, không yêu cầu bị cáo trả tiền thuê xe do đã giải quyết xong (tại tòa mẹ bị cáo và bị cáo cho biết đã thực hiện bồi thường cho anh T14 P05 triệu đồng, được anh T14 Plàm đơn bãi nại, nên không đề xuất xem xét.
- Buộc bị cáo Tôn Đức T8 có trách nhiệm trả lại cho anh Dương P4 P1số tiền 100.000.000 đồng.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát. Không có ý kiến tranh luận, bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tòa án đã triệu tập nhưng anh Phạm Thanh P, Dương Phú P1Đỗ D Anhưng những người này vắng mặt –
do có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, đã có lời khai của những người tham gia tố tụng này trong hồ sơ vụ án. Việc vắng mặt những người trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự, xét xử vắng mặt anh Phạm Thanh P, Dương Phú P1Đỗ D A
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa, đối chiếu lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận định giá và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa là phù hợp. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định.
Từ ngày 28/10/2023 đến ngày 02/11/2023 Tôn Đức T xe ô tô HYUNDAI ACCENT biển số 65A-293.48 của anh Phạm Thanh P9 đi lại. Sau khi hết hợp đồng thuê xe, do cần tiền, T12 nảy sinh ý định tiếp tục thuê xe ô tô HYUNDAI ACCENT biển số 65A-293.48 của anh Phạm Thanh P9 đem đi cầm cố lấy tiền xử lý công việc riêng. Thực hiện ý định, ngày 02/11/2023, T16 anh Thanh P9 tiếp tục thuê xe, sau đó đem xe cầm cố cho anh Dương P4 P1để lấy số tiền 100.000.000 đồng tiêu xài cá nhân. Trước đây, quá trình điều tra, bị cáo có khai dùng số tiền 100 triệu đồng này để tiêu xài ăn chơi với Đỗ Dũng A6 tại phiên tòa, bị cáo xác định và khẳng định, dùng 100 triệu đồng này để trả nợ cho Đỗ Dũng A
Ngày 13/11/2023, Tôn Đức T13 có tiền trả lại anh Dương P4 P1để chuộc lấy lại chiếc xe đã thuê của anh Phạm Thanh P, anh Thanh P8 trình báo sự việc đến cơ quan chức năng. Biết mình không có khả năng trả tiền cho anh P4 P1để chuộc xe trả cho anh T14 Pngày 13/11/2023 Tôn Đức T19 anh Thanh P8 đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đầu thú, trình bày về sự việc, hành vi phạm tội.
Xét thấy, do cần tiền tiêu xài xử lý công việc riêng, bị cáo đã tạo ra những điều kiện không đáng để anh Phạm Thanh P10 tưởng mà giao chiếc xe ô tô HYUNDAI ACCENT biển số 65A-293.48 cho bị cáo như: bị cáo đã nói dối về nhu cầu cần xe để di chuyển nhưng thực chất thuê xe để cầm cố. Bị cáo đã biết rõ quyền và nghĩa vụ của mình đối với chiếc xe (người thuê xe), không phải là chủ sở hữu chiếc xe, biết rõ bản thân không có nguồn tiền nào để có thể khắc phục các nghĩa vụ dân sự nếu có phát sinh như đã cam kết với anh P4 P1và anh Thanh P11 đã mang cầm cố xe thuê cho anh P4 P1để vay số tiền 100 triệu đồng. Sau khi có tiền đã tiêu xài hết, cho đến nay vẫn không có khả năng thanh toán tiền vay và các nghĩa vụ cho anh P4 P1 và T20 chiếc xe mà bị cáo thuê rồi đem cầm cố, chiếm đoạt, nay anh T14 Pđã nhận được nhưng là do các cơ quan chức năng đi xác minh và thu hồi. Xét tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là giá trị chiếc xe theo định giá là 410.200.460đ của anh Phạm Thanh P12 vì đã thực hiện này của bị cáo, đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố.
Ngoài hành vi lừa đảo để chiếm đoạt giá trị chiếc xe của anh Thanh P13 đã định giá ở trên, bị cáo còn thực hiện hành vi cầm cố chiếc xe này cho anh P4 P1để lấy số tiền 100 triệu đồng đến nay cũng chưa hoàn trả. Tuy nhiên, do vào thời điểm bị cáo cầm chiếc xe này cho anh Dương P4 P1bị cáo đã nói rõ và anh P4 P1biết rõ tài sản này không phải của bị cáo. Nên không xác định hành vi này của bị cáo có dấu hiệu của vi phạm về hình sự, bị cáo phải thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với anh P4 P1
Các vấn đề khác của bị cáo có liên quan đến Đỗ Dũng A7 Dương Phú P1 quan hệ giao dịch vay tiền lập với nhau, quá trình điều tra chưa rõ nhưng tại phiên tòa, bị cáo đã trình bày và khẳng định: mọi hành vi của bị cáo (thuê xe, cầm cố xe) là do chính bị cáo thực hiện, không liên quan đến ai, không liên quan đến Dũng A8 do ai tác động ép buộc. Số tiền có được sau khi cầm cố xe, bị cáo đã sử dụng cho mình hết và theo ý chí của chính bị cáo. Các giao dịch dân sự với anh Dương P4 P1và Đỗ Dũng A8 liên quan đến hành vi tội phạm này hoặc hành vi vi phạm nào, bị cáo không có ý kiến, không đề nghị xem xét về các giao dịch này nên không xem xét.
[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội; bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối để người bị hại tin tưởng giao tài sản sau đó chiếm đoạt. Số tiền chiếm đoạt lớn. Do đó, cần tuyên một hình phạt tương xứng, phù hợp với hành vi, mức độ phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời bảo đảm phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú; bị hại là anh Phạm Thanh P14 đơn đề nghị không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Do gia đình, bị cáo và anh T14 P đã thỏa thuận được với nhau về bồi thường (tại phiên tòa, gia đình và bị cáo xác nhận đã thương lượng và đã bồi thường 05 triệu đồng cho anh T14 P Ngoài ra, trong thời gian là Chiến sĩ, Đại đội 1, Tiểu đội 1, Trung đoàn CBộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động, bị cáo Tôn Đức T8 đã được Giám đốc Công an tỉnh B đã có thành tích xuất sắc trong công tác phối hợp đảm bảo an ninh trật tự trước, trong và sau Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022 trên địa bàn tỉnh Bình Dương (theo Quyết định số 56/QĐ-CAT-PX03 ngày 15/3/2022). Do đó áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5] Về vật chứng: Đã giải quyết xong, không ai có ý kiến yêu cầu gì nên không xem xét.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
- Chiếc xe bị cáo chiếm đoạt đã thu hồi, anh Phạm Thanh P15 yêu cầu bồi thường gì về xe, không yêu cầu bị cáo trả tiền thuê xe là 10.000.000đ, xác định đã giải quyết xong với nhau về trách nhiệm dân sự, bồi thường. Tại phiên tòa, gia đình và bị cáo xác nhận đã thương lượng và đã bồi thường 05 triệu đồng cho anh Thanh P (BL 110), nên không xem xét.
- Buộc bị cáo Tôn Đức T8 có trách nhiệm trả lại cho anh Dương P4 P1số tiền 100.000.000 đồng.
[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Tôn Đức T8 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
1. Về hình phạt:
- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Tôn Đức T8 07 (bảy) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo Tôn Đức T8 có trách nhiệm trả lại cho anh Dương P4 P1số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng).
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chưa thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường khoản tiền trên, thì bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
3. Vật chứng: đã giải quyết xong, không ai có ý kiến yêu cầu gì nên không xem xét.
4. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 5.000.000đ (năm triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
5. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Riêng bị hại, những người có quyền kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Hồ Sĩ Tiến Đặng Song Hoàn Nguyễn Thị Thanh H |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Huyền |
Bản án số 302/2024/HS-ST ngày 19/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 302/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
