TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 302/2024/HS-PT Ngày 15 tháng 4 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Điều Văn Hằng.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Phan Nam;
Ông Phạm Văn Lợi.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Ngô Cảnh Duy, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thu Hằng, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 141/2024/TLPT-HS ngày 02 tháng 2 năm 2024 do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 622/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
* Bị cáo có kháng cáo:
Đồng Văn T, sinh năm 1985; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn D, xã H, huyện P, thành phố Hà Nội; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Đồng Văn N, sinh năm 1962 và con bà Lê Thị T1, sinh năm 1966; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ Trương Thị M, sinh năm 1992; Bị cáo có 2 con sinh năm 2015 và 2017; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/11/2022 đến nay tại Trại tạm giam số 2 - Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Hoàng Ngọc Thanh B, thuộc Văn phòng L1, Đoàn Luật sư thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Đồng Văn T và anh Ngô Văn H, có quen biết với nhau do cùng là người làm thuê tại lò gạch ở thôn D, xã H, huyện P, Thành phố Hà Nội. Khoảng đầu năm 2022, giữa T và anh H nhiều lần đánh bạc với nhau, dưới hình thức chơi số lô, số đề. Cộng dồn lại, T thua và nợ anh H số tiền là 17.800.000 đồng nhưng chưa trả.
Khoảng 20 giờ ngày 08/11/2022, anh H điều khiển xe ô tô chở gạch đi qua thôn D, xã H, huyện P, Thành phố Hà Nội. Nhớ đến việc T còn nợ tiền, anh H đã đỗ xe ô tô trên mặt đường đê sông H rồi đi bộ xuống dốc đê, theo lối đi bậc thang bê tông để đến nhà T đòi tiền, vừa đi anh H vừa gọi điện thoại cho T nhưng T không nghe máy. Khi đi đến trước cổng nhà T, nhìn thấy T đang cầm điện thoại đứng ở trong sân, anh H nói với T về việc điện thoại không nghe máy và đòi tiền thì hai bên xảy ra mâu thuẫn, to tiếng với nhau. Nghe thấy tiếng cãi nhau, chị Trương Thị M (sinh năm 1992; trú tại thôn D, xã H, huyện P, Hà Nội; là vợ của T) từ trong nhà đi ra cổng, gặp anh H nói chuyện, xin khất nợ cho T thì anh H đồng ý và ra về. Khi anh H đi ngược về phía chân đê sông H, cách cổng nhà T khoảng 10m, nghe thấy việc T nói với chị M: "Thích thì đéo trả nữa” nên quay lại, đứng trước cổng nhà T nói: “Tao đố mày không trả tiền tạo” thì giữa T và anh H tiếp tục to tiếng, thách thức, cãi chửi nhau. Bực tức về việc bị anh H đến nhà đòi tiền, T lấy 01 ống tuýp sắt (dài 01m, rỗng ở giữa, đường kính thân ống 2,5cm) đang cắm ở hàng rào trong sân nhà, cầm trên tay trái (là tay thuận của T) đi ra trước cổng, với mục đích đánh anh H. Nhìn thấy T cầm chiếc ống tuýp sắt, chị M liền chạy theo kéo tay T để can ngăn. Tuy nhiên, T hất tay, đẩy chị M về phía sau, tiến đến đứng đối diện anh H, dùng tay trái giơ ống tuýp sắt lên phía trước, cao qua đầu rồi vụt vát nghịch từ trên xuống dưới, chếch chéo từ phải qua trái 01 phát vào vùng đầu của anh H. Theo phản xạ, anh H quay mặt sang bên phải, củi người với mục đích luồn tránh nhưng vẫn bị vụt trúng vào vùng đỉnh đầu bên trái. Bị đánh, anh H dùng tay ôm đầu, bỏ đi về phía cầu thang bê tông ở chân đê. Đi được khoảng 05m, anh H ngồi sụp xuống đất do bị choáng. T đi đến, tiếp tục cầm chiếc tuýp sắt vụt 01 phát từ trên xuống dưới, chếch chéo từ phải qua trái, trúng vào vùng lưng của anh H. Cùng lúc này, chị M chạy đến đẩy T đi ra xa khỏi anh H, anh H tự đứng dậy, tiếp tục đi bộ và ngồi nghỉ ở cầu thang bê tông của chân đê, trước cửa nhà ông Nguyễn Văn L (sinh năm 1959, trú tại thôn D, xã H, huyện P, Hà Nội; là hàng xóm của T). Sau đó, chị M đã chạy đến, kiểm tra vùng đầu của anh H rồi đi tìm người để cấp cứu cho anh H. T đứng ở trước cổng nhà, cách vị trí anh H ngồi khoảng 20m, tay trái vẫn cầm tuýp sắt và quan sát anh H. Khi thấy anh H lấy chiếc điện thoại để gọi điện báo cho người nhà, nghĩ anh H đang gọi người đến xử lý mình, T tức giận, tiếp tục đi bộ đến vị trí anh H ngồi để đánh anh H. Khi cách anh H khoảng 01m, T dùng ống tuýp sắt vụt từ trên xuống, chếch chéo từ phải qua trái 04 nhát liên tiếp trúng vào vùng đùi trái, vùng khuỷu tay trái và vào ngón tay giữa của bàn tay trái anh H. Anh H vùng dậy, bỏ chạy theo đường chân đê về hướng Ủy ban nhân dân xã H và gọi điện thoại cho người nhà đến, đưa đi cấp cứu. T không đuổi theo anh H nữa mà đi về nhà, để ống tuýp sắt về vị trí cũ ở hàng rào. Sau đó, anh H được mọi người đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Đ1 - Bộ N2, đến ngày 23/11/2022 anh H được ra viện.
Đến khoảng 21 giờ 05 phút ngày 08/11/2022, Đồng Văn T đã đến Công an xã H để đầu thú.
Sau khi vụ án xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã phối hợp với các Cơ quan chức năng tiến hành khám nghiệm hiện trường, thu giữ các dấu vết, vật chứng và trưng cầu giám định pháp thương tích anh Ngô Văn H. Kết quả như sau:
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vào hồi 10 giờ ngày 09/11/2022, tại khu vực đường dân sinh, phía trước số nhà B, 04 thôn D, xã H, huyện P, Thành phố Hà Nội, thể hiện:
"... Hiện trường nơi xảy ra vụ việc được xác định tại khu vực đường dân sinh thuộc thôn D, xã H, huyện P, thành phố Hà Nội. Hướng B1 là hướng đi ra đường S thôn D, xã H, huyện P, Thành phố Hà Nội. Hướng Tây tiếp giáp với khu vực đất và nhà Đồng Văn T và nhà ông Nguyễn Văn L (sinh năm 1959; trú tại thôn D, xã H, huyện P, thành phố Hà Nội). Hướng Đ là hưởng tiếp giáp với triền đê và hướng lên đê sông H đoạn thuộc địa phận thôn D, xã H đối diện cổng chào làng D. Hướng N1 là hướng đi ra hồ C thuộc thôn D, xã H, huyện P, Hà Nội.
Qua sát hiện trường thấy, đường dân sinh rộng trung bình 04m. Tại vị trí cách trụ cổng phía Bắc nhà Đồng Văn T 4,1m, cách tường rào nhà T 1,8m (dấu vết cách trụ cổng về phía Nam) phát hiện dấu vết màu đỏ trên diện (30x15)cm (ký hiệu 01). Tại vị trí bậc cầu thang từ đường dân sinh đi lên đê sông H, đối diện cổng nhà ông Nguyễn Văn L phát hiện dấu vết màu nâu đỏ, dạng nhỏ giọt kéo dài từ bậc thang thứ nhất tới bậc thang thứ 03 (tỉnh từ đường dân sinh lên) trên diện (01x1,1)m. Điểm gần nhất của dấu vết cách mép đường dân sinh 0,2m, điểm xa nhất cách mép đường dân sinh 1,3m (ký hiệu là 02). Tại vị trí cách mép cổng nhà ông Nguyễn Văn L theo hướng Đông 04m và cách bờ phía Bắc của bậc thang lên đường đê 0,35m phát hiện dấu vết màu nâu đỏ trên diện (60x35)cm (ký hiệu 03)."
Vật chứng vụ án:
Quá trình khám nghiệm hiện trường và điều tra vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng gồm:
- Thu giữ dấu vết màu nâu đỏ tại các vị trí tương ứng, vị trí 01; 02; 03 khi khám nghiệm hiện trường.
- Thu giữ của bị cáo Đồng Văn T: 01 gậy tuýp sắt (dạng ống tròn, dài 01m, đường kính thân ống 2,5cm, có vết lõm cách một đầu 19cm), tại vị trí đầu gậy có vết lõm có bám dính chất màu nâu đỏ diện (11x2,5)cm.
Tại Biên bản thực nghiệm điều tra hồi 13 giờ 30 phút ngày 29/12/2022 tại thôn D, xã H, huyện P, Thành phố Hà Nội, tiến hành cho bị cáo Đồng Văn T thực hiện, diễn tả lại hành động, vị trí, khoảng cách khi gặp và đánh anh Ngô Văn H, thể hiện:
"... Bị cáo T chỉ vị trí đứng, tại vị trí trong sân nhà, cách cổng ra vào nhà bị cáo T 3,9m (vị trí số 01). Vị trí này T quan sát, thấy, đứng nói chuyện và xảy ra cãi nhau với anh Ngô Văn H. Bị cáo T chỉ vị trí anh H đứng bên ngoài, trước cổng nhà bị cáo T2, anh H đứng cách mép ngoài cổng 02m, cách trụ cổng bên trái (nhìn từ ngoài vào) là 2,4m (vị trí số 02). Bị cáo T chỉ vị trí chiếc ống tuýp sắt tại trụ cổng hàng rào B40, cắm vào lỗ chờ trụ hàng rào, lỗ chờ để ống tuýp sắt cách trụ cổng gần nhất 0,6m, vị trí cắm ống tuýp sắt cách đất 01m (vị trí số 03).
Bị cáo T di chuyển từ vị trí ban đầu (vị trí số 01) đi đến gần trụ cổng bên phải (nhìn từ ngoài vào trong), dùng tay trái rút ống tuýp sắt đang cắm ở lỗ chờ của trụ hàng rào B40. Sau khi bị cáo T dùng tay trái lấy được ống tuýp sắt, T mở cánh cửa cổng, đẩy vào bên trong nhà (cách cửa cổng bên phải, nhìn từ ngoài vào trong). T di chuyển đến vị trí mép cổng, tay trái cầm tuýp sắt trong tư thế chống 01 đầu tuýp sắt xuống đất ở phía trước (vị trí số 04). T bước 02 bước chân, tiến gần đến vị trí anh H đang đứng, vụt vát nghịch từ trên xuống, từ phải qua trái (T giơ gậy lên phía trước đầu). Anh H lùi 01 bước chân trái về phía sau, hạ thấp trọng tâm cơ thể, nghiêng đầu về bên phải để tránh nhưng bị vụt trúng đỉnh đầu bên trái. Vị trí, khoảng cách gót chân phải của bị cáo T2 đến gót chân trái của anh H là 1,1m. Tay trái T cầm gậy, cách đầu gậy 1,3cm. Chân phải anh H khuy, cúi thấp trọng tâm, chân trái vuông góc với thân người, đầu nghiêng phải cách đất 1,4m. Anh H bị đánh di chuyển dọc theo đường, hướng về nhà ông L được khoảng 4,6m thì ngồi xổm xuống đường, hai tay ôm đầu, cách mép tường rào nhà T 2,05m, mặt anh H quay về phía nhà T (vị trí số 05). Bị cáo T di chuyển đến phía trước anh H, chân phải bước 01 bước, chếch chéo ngang lưng anh H, tay trái giơ gậy tuýp sắt ngang vai phải, vụt vát nghịch từ trên xuống, từ phải qua trái, trúng vào lưng anh H (vị trí số 06). T đúng cách vị trí anh H ngồi 0,8m, cách mép tường rào 1,35m.
Cho bị cáo T chỉ vị trí, hành động của chị Trương Thị M, kết quả: Chị M đứng ở bên trong sân nhà, chạy ra can ngăn, dùng 02 tay đẩy T ngược lại về hướng nhà, dọc theo đường, cách vị trí số 06 là 1,33m thì dừng lại (vị trí số 7). Trong lúc này, anh H đứng dậy đi bộ ở bậc thềm, lối bậc thang lên dốc đê, đối diện cổng nhà ông L, ngả lưng vào bậc thang, tay trái ôm đầu, tay phải cầm điện thoại (vị trí số 8), cách vị trí số 5 là 17,9m. Bị cáo T di chuyển từ vị trí số 07 đến trước cổng nhà, đứng quan sát, nghe thấy anh H đang gọi điện thoại thì nghĩ anh H gọi người đến đánh mình nên tay trái cầm gậy tuýp sắt đi đến chỗ anh H ngồi, cách anh H là 01m, đứng chếch chéo so với thân người anh H. T vung gậy bằng tay trái, vụt vát nghịch từ phải qua trái 02 phát liên tiếp trúng đùi trái anh H, vụt phát thứ 03 (theo tư thế cũ) trúng vào khuỷu tay trái anh H. Khuỷu tay anh H giơ cao, cách bậc thềm ngồi 73cm, vết thương cách khuỷu tay 10cm. Bị cáo vụt nhát thứ 04 thì anh H giơ tay trái hất gậy, trúng vào ngón tay giữa bàn tay trái. Sau đó anh H đứng dậy, đi bộ dọc thân đê về hướng Ủy ban nhân dân xã H. T không đuổi theo nữa mà quay về nhà. Lúc này T thấy ông L đang ở trong nhà ông L..."
Tại biên bản làm việc hồi 16 giờ 15 phút ngày 09/11/2022 với Bệnh viện Đ1, do Công an huyện P xác lập, thể hiện:
"... Bệnh nhân Ngô Văn H đến khảm lúc 22 giờ 30 phút ngày 08/11/2022. Có các dấu vết: Đùi trải có 02 vết bầm tím kích thước (04x02)cm và (06x3,5)cm; 01 vết thương vùng thái dương đỉnh trái khoảng 06cm, bờ nham nhớ; Lưng có vết bầm tím diện (26x2)cm; Sung đau hạn chế vận động ngón III bàn tay trái; 01 vết thương khuỷu tay trải dài 1,5cm; Sưng nề đau nhức khuỷu tay, cẳng bàn tay trái. CT sọ não: Hình ảnh ổ dập não nhỏ vùng đỉnh trái, xuất huyết dưới nhện vùng đỉnh trái, vỡ xương đỉnh trái.
Tại bản Kết luận giám định pháp y thương tích số 243/GĐ-TTPY ngày 06/3/2023 của Trung tâm Pháp y - Sở Y, kết luận về tỷ lệ tổn hại sức khỏe của anh Ngô Văn H, như sau:
"...VI. Kết luận tại thời điểm giám định
- Vết thương vùng thái dương đỉnh trái: 02%.
- Chảy máu dưới nhện: 11%.
- Ổ tụ máu nhu mô não vùng đỉnh trái: 21%.
- Vỡ xương đỉnh trái: 16%.
- Gãy đốt 1 ngón III bàn tay trái: 02%.
- Hiện chưa đánh giá được hết mức độ di chứng và biến chứng của các tổn thương. Đề nghị giám định bổ sung sau khi điều trị ổn định ra viện.
- Cơ chế hình thành thương tích: Do vật tày, tày có cạnh gây nên. Tỷ lệ tổn hại sức khỏe là 43% (Bốn mươi ba phần trăm). Tỉnh theo phương pháp cộng lùi...."
Quá trình điều tra, ngày 14/6/2023, anh Ngô Văn H có đơn gửi Cơ quan điều tra, đề nghị từ chối giám định bổ sung thương tích.
Tại bản Kết luận giám định số 8760/KL-KTHS ngày 30/12/2022 của Phòng K - Công an Thành phố H, kết luận đối với các dấu vết nghỉ máu thu giữ, thể hiện:
“...V. Kết luận giám định:
- Trên đoạn ống tuýp sắt dài 01m, ống tuýp sắt tròn, rỗng ở giữa, đường kính thân tuýp 2,5cm có dính máu người, có kiểu gen trùng với kiểu gen của anh Ngô Văn H.
- Mẫu chất màu nâu đỏ nghỉ máu thu giữ tại hiện trường ở vị trí kí hiệu số 02, 03 ở hiện trường là máu người có kiểu gen trùng với kiểu gen của anh Ngô Văn H.
- Mẫu chất màu nâu đỏ nghi máu thu giữ tại hiện trường ở vị trí kí hiệu 01 là máu người, không phân tích được kiểu gen do chất lượng dấu vết ít, kém.
- Lưu kiểu gen của anh Ngô Văn H tại Phòng K - Công an thành phố H..."
Đối với việc đánh bạc dưới hình thức chơi số lô, số đề giữa T với anh H. Qua điều tra xác định, việc mua bán số lô, số đề giữa T và H đều được trao đổi bằng miệng; T và anh H khai không nhớ những lần đánh bạc cụ thể, chỉ xác định được số tiền đánh bạc cộng dồn mà T nợ anh H là 17.800.000 đồng; ngoài lời khai của T và anh H không có tài liệu nào khác chứng minh. Do vậy, hành vi trên của T và anh H không cấu thành tội Đánh bạc quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự. Ngày 05/9/2023 Cơ quan điều tra đã có công văn số 8252/CSĐT-PC01(Đ3) và chuyển phần hồ sơ tài liệu liên quan đến Công an huyện P để xử phạt hành chính đối với Đồng Văn T và Ngô Văn H về hành vi đánh bạc theo quy định tại Điều 28 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ.
Gia đình bị cáo Đồng Văn T đã bồi thường cho anh H số tiền 55.000.000 đồng. Anh H không có yêu cầu về dân sự và có đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm cho bị cáo T.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 622/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo: Đồng Văn T phạm tội “Giết người”;
Áp dụng: điểm n khoản 1 Điều 123; Điều 38; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 15, Điều 57 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Đồng Văn T 12 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 08/11/2022.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04/01/2024, bị cáo Đồng Văn T kháng cáo xin giảm hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đồng Văn T thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã nêu và xin được giảm nhẹ hình phạt với lý do bị cáo đã tác động để gia đình bồi thường cho bị hại 55.000.000 (năm mươi lăm triệu) đồng; bị hại có đơn xin miễn hình phạt cho bị cáo; bị cáo tích cực nộp án phí hình sự sơ thẩm, ăn năn hối cải về việc phạm tội do bồng bột, nhất thời.
Tại phiên tòa bị hại có đơn đề nghị Hội đồng xem xét giảm án cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm và kháng cáo của bị cáo. Sau khi phân tích, đánh giá hành vi của bị cáo, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội thấy có đủ căn cứ xác định Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo phạm tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là chính xác, đúng người, đúng tội, không oan. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 12 năm tù về tội “Giết người” là có căn cứ pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội chưa đạt, sau khi phạm tội bị cáo đầu thú, thành khẩn khai báo và trong quá trình giải quyết vụ án bị cáo tác động gia đình đã thực hiện bồi thường cho bị hại. Đồng thời bị hại cũng đề nghị Hội đồng xét xử miễn giảm hình phạt cho bị cáo, bị cáo đã nộp án phí hình sự sơ thẩm, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; gia đình bị cáo có chú ruột là liệt sĩ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo, xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt; sửa bản án sơ thẩm.
Luật sư bào chữa cho bị cáo: Về tội danh, Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo về tội “Giết người” là chính xác. Bị cáo phạm tội chưa đạt, gây tổn hại sức khỏe cho bị hại là 43% và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị hại có đơn xin miễn giảm hình phạt cho bị cáo. Mức hình phạt cấp sơ thẩm đã tuyên là quá nghiêm khắc (vì trường hợp bị cáo cố ý gây thương tích cho bị hại từ 31% đến 60%, dùng hung khí nguy hiểm thì bị xử phạt từ 05 năm đến 10 năm); tại cấp phúc thẩm bị hại tiếp tục có đơn xin giảm hình phạt cho bị cáo; trong quá trình điều tra bị cáo tác động gia đình đã thực hiện bồi thường toàn bộ cho bị hại. Đồng thời gia đình bị cáo có công với Cách mạng. Đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của bị cáo, áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật Hình sự xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt; sửa bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp lời khai bị hại và lời khai những người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập và các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ ngày 08/11/2022, tại khu vực đường dân sinh thôn D, xã H, huyện P, thành phố Hà Nội, bức xúc với việc anh Ngô Văn H có lời nói thách thức khi đến nhà mình đòi nợ số tiền 17.800.000 đồng, bị cáo Đồng Văn T đã dùng 01 ống tuýp sắt (dài 01m, rỗng ở giữa, đường kính thân ống 2,5cm), đứng đối diện anh H, vụt vát nghịch từ trên xuống dưới, chếch chéo từ phải qua trái 01 phát vào vùng đỉnh đầu bên trái của anh H; vụt 01 phát từ trên xuống dưới, chếch chéo từ phải qua trái, trúng vào vùng lưng của anh H, khi anh H ngồi dưới đất; vụt vát nghịch từ trên xuống, chếch chéo từ phải qua trái 04 nhát liên tiếp vào vùng đùi trái, vùng khuỷu tay trái và vào ngón tay giữa của bàn tay trái anh H, khi anh H ngồi ở bậc thang lên dốc đê sông H, gây ra các vết thương vùng thái dương đỉnh trái, chảy máu dưới nhện, ổ tụ máu nhu mô não vùng đỉnh trái, vỡ xương đỉnh trái, gãy đốt 1 ngón III bàn tay trái với tổng tỷ lệ tổn hại sức khỏe của anh H là 43%. Bị cáo T đã vì duyên cớ nhỏ nhặt trong cuộc sống mà dùng hung khí nguy hiểm tấn công vào bộ phận trọng yếu của cơ thể bị hại, có thể xâm hại đến tính mạng của bị hại nếu không được cứu chữa kịp thời. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan.
[2]. Xét kháng cáo của bị cáo:
Trong vụ án này bị cáo Đồng Văn T vì duyên cớ nhỏ nhặt trong đời sống đã bực tức với bị hại nên nảy sinh hành động dùng ống tuýp sắt tấn công vào người, vào đầu làm anh H bị tổn hại 43% sức khỏe. Hành vi của bị cáo thể hiện tính chất côn đồ coi thường tính mạng người khác. Tại cấp sơ thẩm và phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi của mình; bị cáo đầu thú sau khi phạm tội; bị cáo có chú ruột là liệt sỹ, bị cáo tác động gia đình bồi thường cho bị hại 55.000.000 (năm mươi lăm triệu) đồng nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, ăn năn về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo phạm tội nhất thời và thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt - gây cho bị hại tổn hại sức khỏe là 43% . Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 12 năm tù về tội “Giết người” là có phần nghiêm khắc. Trong giai đoạn phúc thẩm, bị hại vẫn tiếp tục xin giảm hình phạt cho bị cáo, bị cáo chủ động nộp án phí hình sự sơ thẩm. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới của bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo dưới mức khởi điểm của khung hình phạt và chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo là phù hợp.
Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử có căn cứ để chấp nhận kháng cáo giảm hình phạt cho bị cáo, áp dung thêm Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo dưới mức khởi điểm của khung hình phạt với mức án nghiêm nhằm đảm bảo tính khoan hồng, giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.
[3] Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Đồng Văn T không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ vào điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
Chấp nhận kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Đồng Văn T; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 622/2023/HS-ST ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội;
- Áp dụng: điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự.
- Về án phí: Bị cáo Đồng Văn T không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
- Xác nhận bị cáo Đồng Văn T đã nộp án phí hình sự sơ thẩm theo Biên lai thu tiền số 0060729 ngày 12/3/2024 của Cục thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.
Xử phạt: Bị cáo Đồng Văn T 09 (Chín) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Giết người”; Thời hạn tù tính từ ngày 08/11/2022.
Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA | |
| Nguyễn Phan Nam | Phạm Văn Lợi | Điều Văn Hằng |
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Điều Văn Hằng |
Bản án số 302/2024/HS-PT ngày 15/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về hình sự (giết người)
- Số bản án: 302/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giết người)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: kc
