TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 302/2025/LĐ-ST Ngày: 19-6-2025 V/v Tranh chấp về hợp đồng lao động | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Lê Văn Công;
Bà Nguyễn Thị Kim Thu- Nguyên Trưởng phòng
Lao động thương binh và Xã hội thành phố Thuận An.
- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Yến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số 169/2025/TLST-LĐ ngày 01 tháng 4 năm 2025 về việc: “Tranh chấp về hợp đồng lao động”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 283/2025/QĐXXST-LĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Võ Duy T, sinh năm 1984; nơi thường trú: Số D tổ A ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Công ty TNHH V; địa chỉ: Đường B tháng A, khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Võ Duy T1, sinh năm 1990; nơi thường trú: Số D tổ A, ấp L, xã L, huyện C, tỉnh An Giang, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Bảo hiểm xã hội thành phố T, địa chỉ: Đường N, khu phố B, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 04/02/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông T, trình bày:
Từ tháng 8 năm 2008 đến tháng 02 tháng 2009 ông T có ký kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH K, ông T có tham gia bảo hiểm xã hội với mã số bảo hiểm xã hội 7408236170 tại Bảo hiểm xã hội thành phố T.
Do không am hiểu về pháp luật nên ông T có cho ông T1 mượn giấy chứng minh nhân dân để giao kết hợp đồng lao động tại Công ty TNHH V từ tháng 8 năm 2007 đến tháng 9 năm 2007 với mã số Bảo hiểm xã hội 9107173653.
Thực tế tồn tại hai mã số Bảo hiểm xã hội 7408236170 và 9107173653 cùng mang tên Võ Duy T, chứng minh nhân dân [...], căn cước công dân [...] vào thời điểm tháng 8 năm 2007 đến tháng 9 năm 2007 ông T vừa làm việc tại Công ty TNHH V và vừa làm việc tại Công ty TNHH K nên ông T không thực hiện được thủ tục bảo hiểm xã hội và trợ cấp thất nghiệp.
Do đó ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Tuyên hợp đồng lao động ký kết giữa người lao động tên ông Võ Duy T (do ông Võ Duy T1 là người lao động) với người sử dụng lao động là Công ty TNHH V trong khoảng thời gian từ tháng 8 năm 2007 đến tháng 9 năm 2007 là vô hiệu. Ông T không có yêu cầu Tòa án giải quyết gì về hậu quả của hợp đồng vô hiệu, đồng thời có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Công ty TNHH V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và tham gia phiên tòa tuy nhiên công ty cũng như người đại diện theo pháp luật của công ty vắng mặt không có lý do.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông T1 trình bày: Trong khoảng thời gian từ tháng 8 năm 2007 đến tháng 9 năm 2007 ông T1 có hỏi mượn giấy chứng minh nhân dân của ông T để ký kết hợp đồng lao động Công ty TNHH V. Nay trước yêu cầu khởi kiện của ông T thì ông thống nhất và không có yêu cầu gì liên quan đến hợp đồng lao động trên, có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội thành phố T trình bày: Trong quá trình tố tụng đã có công văn phúc đáp số 357/CV-BHXH ngày 12 tháng 5 năm 2025 cho Tòa án về quá trình đóng bảo hiểm của ông T tại Công ty TNHH V (tháng 8 năm 2007 đến tháng 9 năm 2007) và Công ty TNHH K, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật, có yêu cầu xét xử vắng mặt.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An:
Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều bảo đảm đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với việc xét xử sơ thẩm vụ án. Các đương sự chấp hành đúng pháp luật tố tụng. Riêng bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ Điều 15, 16, 49 và 51 Bộ luật Lao động năm 2019; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tranh chấp hợp đồng lao động.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp: Ông T khởi kiện yêu cầu tuyên hợp đồng lao động ký kết giữa người lao động có tên Võ Duy T (do ông Võ Duy T1 là người ký kết) với người sử dụng lao động là Công ty TNHH V trong khoảng thời gian từ tháng 8 năm 2007 đến tháng 9 năm 2007 là vô hiệu. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp về hợp đồng lao động” được quy định tại khoản 1 Điều 32 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Công ty TNHH V, địa chỉ: phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
[3] Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án các đương sự đều có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Bị đơn triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt các đương sự.
[4] Về nội dung: Xét thấy ông T cho ông T1 mượn hồ sơ để xác lập hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội (từ tháng 8 năm 2007 đến tháng 9 năm 2007) tại Công ty TNHH V. Trong khoảng thời gian trên, ông T cũng giao kết hợp đồng lao động tại Công ty TNHH K và tham gia bảo hiểm xã hội theo mã số Bảo hiểm xã hội 7408236170.
[4.1] Thực tế đối tượng lao động và ký kết hợp đồng tại Công ty TNHH V từ tháng 8 năm 2007 đến tháng 9 năm 2007 là ông T1 chứ không phải ông T. Việc ông T1 mượn hồ sơ của ông T để đi làm tại Công ty TNHH V là vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo khoản 1 Điều 15 và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo khoản 2 Điều 16 Bộ luật Lao động 2019, nên căn cứ điểm b khoản 1 Điều 49 Bộ luật Lao động 2019 đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu, nên có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[5] Ông T1 và Công ty TNHH V không tranh chấp gì trong vụ án nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7] Về án phí: Nguyên đơn tự nguyện chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các Điều 17, 19, 50, 51 và Điều 52 Bộ luật Lao động năm 2012 (nay là các Điều 15, 16, 49, 50 và Điều 51 Bộ luật Lao động năm 2019).
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Duy T về việc Tranh chấp về hợp đồng lao động với bị đơn Công ty TNHH V.
Tuyên Hợp đồng lao động giao kết giữa ông Võ Duy T và Công ty TNHH V trong thời gian từ tháng 8 năm 2007 đến tháng 9 năm 2007 là vô hiệu.
Về hậu quả của Hợp đồng lao động vô hiệu: Cơ quan Bảo hiểm xã hội có thẩm quyền thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội đối với ông Võ Duy T theo quy định pháp luật.
2. Về án phí: Ông Võ Duy T tự nguyện chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí lao động sơ thẩm được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000984 ngày 20 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Thuận An; - Chi cục THADS thành phố Thuận An; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hà |
Bản án số 302/2025/LĐ-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp về hợp đồng lao động
- Số bản án: 302/2025/LĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng lao động
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Lao động
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: VÕ DUY T- CÔNG TY V1
