TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 302/2025/HSPT Ngày: 26/6/2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Phương Đông
Các Thẩm phán: Ông Vũ Hồng Luyến
Ông Vũ Thế Phương
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Linda – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Bà Bùi Thị Mỹ N – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, xét xử phúc thẩm đối với vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 165/2025/HSPT ngày 25/4/2025 đối với các bị cáo Lê Minh Q, Lê Tấn P do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 06/2025/HSST ngày 13/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai.
- Bị cáo có kháng cáo:
Lê Minh Q (tên gọi khác: không), sinh năm 1981 tại tỉnh Long An; Nơi thường trú: Ấp V, xã T, huyện C, tỉnh Long An; Chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn Ấ (đã chết) và bà Lê Thị Đ; có vợ là Đỗ Thị Thanh Q1; có 01 con sinh năm 2012; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú(có mặt).
Lê Tấn P (tên gọi khác: không), sinh năm 1993tại tỉnh Long An; Nơi thường trú: Ấp V, xã T, huyện C, tỉnh Long An; Chỗ ở hiện nay: Ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn Ấ (đã chết) và bà Lê Thị Đ; có vợ là Nguyễn Phạm Thùy D, chưa có con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt từ ngày 14/6/2024, đến ngày 22/6/2024 được hủy bỏ tạm giữ, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
Bị hại:
Công ty trách nhiệm hữu hạn T5. Địa chỉ: 1 đường E, phường A, quận G, thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện ủy quyền: Ông Trương Văn Q2. Địa chỉ: Xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An (vắng mặt)
Công ty T6. Địa chỉ: 1 đường H, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Đại diện ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T. Địa chỉ: 1 tổ H, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt)
(Trong vụ án còn có các bị cáo Đinh Hồng H, Nguyễn Minh D1, Nguyễn Văn T1 nhưng không có kháng cáo hoặc bị kháng nghị nên cấp phúc thẩm không triệu tập)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào thời gian đầu tháng 3/2024, Đinh Hồng H biết được khu vực “đồng Mu Rùa” thuộc xã P, huyện N có nhiều doanh nghiệp, chủ phà bơm đang tiến hành bơm cát san lấp cho công trình thi công đường cao tốc B - L nên nảy sinh ý định đe dọa, ngăn cản không cho tàu và phà bơm cập bến để bơm hút với mục đích chiếm đoạt tiền của các doanh nghiệp và chủ phà bơm, nếu không đưa tiền sẽ đập phá đường ống, không cho tàu và phà bơm cập bến bơm hút cát. H biết Võ Trường V (sinh năm 1978) - nhân viên kỹ thuật của Công ty trách nhiệm hữu hạn T5 Logisticlà người phụ trách cung cấp cát, đá và đất cho Tổng công ty X - Công ty cổ phần () nên đe dọa V nếu không đưa tiền thì sẽ không cho hoạt động bơm hút cát tại đây và qui định cát bơm lên công trình sẽ thu 1.000 đồng/1m³. Do không bơm hút cát sẽ ảnh hưởng đến tiến độ thi công nên V đồng ý đưa tiền cho H. Ngày 05/03/2024, V sử dụng tài khoản ngân hàng S số 0983117960 chuyển số tiền 2.480.000 đồng vào số tài khoản V1 số 1020890260 của H, ngày 27/3/2024 V tiếp tục chuyển khoản cho H số tiền 2.500.000 đồng.
Đến đầu tháng 4/2024, H biết Hoàng Ngọc D2 (sinh năm 1982, ngụ tại số B H, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương–là nhân viên kỹ thuật của Công ty trách nhiệm hữu hạn T6) được giao nhiệm vụ phụ trách cung cấp vật tư, cát cho các công trình đường C - L. H sử dụng số điện thoại 0906.949.xxx gọi vào số điện thoại 0908.559.xxx của D2 đe dọa nếu muốn hoạt động ở khu vực đồng M thì phải đưa tiền, nếu không sẽ không được bơm hút cát ở đây, D2 hẹn gặp H để nói chuyện thì H nói để H cung cấp cát và qui định cát bơm lên công trình sẽ thu 1.000 đồng/1m³, nếu không đồng ý thì H sẽ quậy phá, không cho bơm hút cát. Sau đó, D2 báo cáo với Công ty trách nhiệm hữu hạn T6 thì Công ty không đồng ý đưa tiền cho H. Lúc này, ông Trần Xuân L là Giám đốc Công ty TNHH T5 (Công ty TNHH T5 là nhà cung cấp cát san lấp cho Công ty trách nhiệm hữu hạn T6) gặp D2 và nói bị H thu tiền bơm cát là 2.000đồng/1m³ và nhờ D2 đứng ra thỏa thuận, D2 thỏa thuận với H chỉ còn 1.000đồng/1m³ thì H đồng ý. Ngày 22/4/2024, khi tàu của Công ty TNHH T5 cập bến cho cát lên bãi thì D2 báo số lượng cát cho anh L và H, sau đó anh L chuyển tiền cho D2 rồi D2 chuyển tiền cho H, D2 dùng tài khoản số 5500205827839 ngân hàng A chuyển cho H số tiền 1.400.000 đồng vào tài khoản V1 số 1020890260 của H. Ngày 23/4/2024, tàu chở cát của Công ty TNHH T5 tiếp tục cập bến đưa cát lên bãi, D2 chuyển số tiền 1.280.000 đồng cho H.
Đến tháng 05/2024, Đinh Hồng H bàn bạc và rủ Đinh Quang H1, Nguyễn Minh D1, Lê Tấn P và Lê Minh Q tham gia. H, H1 và D1 có nhiệm vụ khi phát hiện xà lan, phà bơm cát đến cập bến thì cầm theo hung khí đến đe doạ các xà lan, phà bơm cát, còn P và Q là người sinh sống tại khu vực “đồng Mu Rùa” có bè cá và vỏ lãi, thuận tiện quan sát theo dõi các xà lan, tàu phà bơm đến bơm hút cát tại khu vực. H thoả thuận nếu P hoặc Quang thông B cho H việc tàu, xà lan, phà bơm đến bơm hút cát thì sẽ cho 50.000 đồng/01 lần thông báo, ngoài ra nếu P chở nhóm của H đi từ đất liền ra các xà lan và phà bơm để đe doạ thu tiền thì sẽ trả 100.000 đồng/lần, ngoài ra Q còn có nhiệm vụ nhận tiền của bị hại đem về đưa lại cho H1, sau đó H1 đưa tiền cho H hoặc sẽ chuyển khoản trực tiếp vào tài khoản ngân hàng của H.Ngày 22/05/2024, Công ty trách nhiệm hữu hạn T6 tiếp tục cho tàu bơm cát tại khu vực đồng M. H biết tàu bơm cát trên là của của anh Nguyễn Quốc Ấ1 (sinh năm 1969, ngụ tại số C lộ A, khu phố E, phường H, thành phố T, thành phố Hồ chí Minh) nên sử dụng số điện thoại 0906.949.xxx gọi vào số điện thoại 0938.184.xxx của anh Ầ để đe doạ, nói nếu muốn tiếp tục bơm cát tại đây thì phải trả tiền cho H, nếu không sẽ không đảm bảo an toàn cho việc bơm hút cát, đập phá ống hút cát, nếu muốn bơm hút cát thì phải đưa cho H số tiền 1.000đồng/01m³, ngoài ra H yêu cầu đưa số tiền 10.000.000đồng vì trước đó đã bơm hút cát, anh Ẩ1 không đồng ý với H và thông báo cho anh Nguyễn Văn T2 (sinh năm 1970, ngụ tại số A tổ H, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) là chỉ huy trưởng công trình của Công ty trách nhiệm hữu hạn T6. Anh T2 thấy H đe doạ gây áp lực không cho anh Ấ1 bơm cát lên công trình sẽ ảnh hưởng đến tiến độ thi công nên đồng ý đưa tiền cho H. Đến ngày 25/5/2024, anh T2 liên hệ với H để đưa tiền, H hướng dẫn T2 đưa tiền cho Lê Minh Q tổng cộng 03 lần: lần thứ nhấtThuấn đưa 2.000.000đồng cho Q, sau đó Q đưa lại cho H1; lần thứ hai T2 đưa cho Q 3.000.000đồng, Q tiếp tục đưa lại cho H1; lần thứ ba anh T2 tiếp tục đưa 5.000.000đồng cho Q, Q đưa lại cho H1, H nói với H1 là cho P 500.000 đồng và cho Q 500.000 đồng, H1 đã đưa cho Q và P số tiền nêu trên.
Đến ngày 05/6/2024, khi xà lan của công ty T6 P1 tiếp tục cập bến để bơm hút cát thì Đinh Quang H1, Nguyễn Minh D1 và 02 đối tượng (chưa rõ nhân thân lai lịch) tiếp tục đến cản trở, không cho cập bến nên anh T2 mới đi xuống công trình để xem tình hình, khi ra đến nơi anh T2 thấy trên ghe của H1 có 02-03 cây dao mã tấu. H1 thấy anh T2 nên đưa số điện thoại của T1 để T2 gọi cho T1, anh T2 sử dụng số điện thoại 0978.079.xxx gọi vào số 0909104060 của T1, T1 nói phải đưa tiền 5.000đồng/1m³ thì mới được bơm hút cát, còn không thì không cho bơm, số cát trên xà lan khoảng 500m³ nên phải đưa số tiền 2.500.000 đồng, T2 đồng ý đưa tiền cho T1 để được bơm cát nên T1 đưa số tài khoản 5995995686868 ngân hàng MB để chuyển tiền, sau đó T2 gọi điện cho chị Nguyễn Thị Thanh H2, sinh năm 1978 (ngụ tại số A H, khu phố C, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) là nhân viên Công ty T6 nhờ chuyển tiền dùm, chị H2 đồng ý và chuyển cho T1 số tiền 2.500.000 đồng, sau khi chuyển tiền xong thì xà lan đã được bơm hút cát.Ngày 14/06/2024, H tiếp tục gọi điện thoại cho anh T2 đòi đưa tiền để được bơm cát, H nói anh T2 đưa cho Q số tiền 2.000.000 đồng, anh T2 đồng ý, sau đó H nói D1 và H1 gặp Q để lấy tiền.Sau khi Q nhận được tiền thì H đã bị Cơ quan cảnh sát điều Công an huyện N bắt giữ do bị anh Võ Trường V và anh Nguyễn Văn T2 tố cáo vào ngày 13 và 14/6/2024.
Cơ quan cảnh sát điều tra tiến hành khám xét nhà của H thu giữ 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng, gắn sim số 0906949886; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5S màu trắng, gắn sim số: 0908011770; 01 vỏ bao thuốc là hiệu Jet màu trắng, đã qua sử dụng, bên trong có 02 bịch nylon chứa chất tinh thể rắn màu trắng ( H khai nhận là ma tuý đá được 01 người bạn tên Đ1 ở quận B, thành phố Hồ Chí Minh -chưa rõ nhân thân bán, H mua với mục đích sử dụng); 01 lọ nhựa có chứa chất lỏng màu đen; 01 nỏ thuỷ tinh.
Sau khi Đinh Hồng H bị bắt giữ thì Lê Tấn P và Lê Minh Q đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Đến ngày 09/8/2024, Nguyễn Minh D1 bị bắt giữ và khai nhận hành vi phạm tội, riêng Đinh Quang H1 đã bỏ trốn.
Tại Bản kết luận giám định số 1261/KL-KTHS ngày 21/06/2024 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng 0,162gam.
Vật chứng thu giữ:
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng, gắn sim;
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 5S màu trắng, gắn sim; 01 vỏ bao thuốc là hiệu Jet màu trắng, đã qua sử dụng, bên trong có 02 bịch nylon chứa chất tinh thể rắn màu trắng (H khai nhận là ma tuý đá);
- 01 lọ nhựa có chứa chất lỏng màu đen (H khai nhận là thuốc nhỏ mắt);
- 01 nỏ thuỷ tinh (H khai nhận công cụ để sử dụng ma tuý đá).
- Số tiền 12.500.000 đồng (trong đó: Lê Minh Q nộp 2.500.000 đồng; Đinh Thị Ánh T3 là chị ruột Đinh Hồng H nộp 10.000.000 đồng cho H bồi thường cho các bị hại).
- Ngày 13/01/2025 Lê Tấn P nộp khắc phục hậu quả số tiền 2.900.000 đồng.
Quyết định của cấp sơ thẩm
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 06/2025/HSST ngày 13/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch đã tuyên xử:
Căn cứ vào khoản 1, khoản 2 Điều 170, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017); các điều 326, 327 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Đinh Hồng H phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy“.
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh D1, Nguyễn Văn T1, Lê Tấn P, Lê Minh Q phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 170, khoản 1 Điều 249, điểm b, s khoản 1Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, các Điều 17,38, 55,58 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Đinh Hồng H3 (hai) năm 08 (tám) tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản” và 01 (một)năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt bị cáo H phải chịu là 04 (bốn) năm 02 (hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2024.
Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 170; điểm s khoản 1 Điều 51,điểm g khoản 1 Điều 52, các Điều 17,38, 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh D1 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.Thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2024.
Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 170, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, các Điều 17, 38, 56, 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T4 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Tổng hợp hình phạt với bản án hình sự sơ thẩm số 579/2024/HSST ngày 29/10/2024 của Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 03 (ba) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Buộc bị cáo Nguyễn Văn T1 phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/6/2024.
Áp dụng khoản 1 Điều 170, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, 38, 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Lê Minh Q 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Xử phạt bị cáo Lê Tấn P 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/6/2024 đến ngày 22/6/2024.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, biện pháp tư pháp và quyền kháng cáo theo luật định.
Kháng cáo
Ngày 20/01/2025, bị cáo Lê Tấn P có Đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo với lý là lao động chính trong gia đình, có con nhỏ mới sinh 07/2024, gia đình bị cáo là hộ nghèo, bản thân bị cáo thành khẩn khai báo;
Ngày 20/01/2025, bị cáo Lê Minh Q có Đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo với lý do là lao động chính trong gia đình, có con nhỏ, gia đình bị cáo là hộ nghèo, bản thân bị cáo thành khẩn khai báo;
Quan điểm của Viện kiểm sát
Tại phiên tòa phúc thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận Đơn kháng cáo của các bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng:
Đơn kháng cáo của các bị cáo Lê Minh Q, Lê Tấn P làm trong thời hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm;
Xét nội dung Đơn kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử xác định:
[2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Lê Minh Q, Lê Tấn P khai nhận hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã mô tả, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ; các bị cáo Lê Minh Q, Lê Tấn P không có ý kiến về tội danh đối với các bị cáo, chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo. Do đó, án sơ thẩm xét xử các bị cáo Lê Minh Q, Lê Tấn P về tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ pháp luật.
[2.2] Khi lượng hình, cấp sơ thẩm đã đánh giá:
- Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi cưỡng đoạt tài sản của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, ảnh hưởng xấu đến môi trường đầu tư tại địa phương và ảnh hưởng đến tiến độ thi công công trình trọng điểm quốc gia.
- Xét vai trò của từng bị cáo: Cấp sơ thẩm xác định các bị cáo Lê Minh Q và Lê Tấn P là đồng phạm giúp sức nhưng giữ vai trò không đáng kể; thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên và có nhiều tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, đã nộp tiền khắc phục phần nào hậu quả cho bị hại, sau khi phạm tội ra đầu thú nên áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo là có cơ sở.
[2.3] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Lê Minh Q, Lê Tấn P giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và xin được hưởng án treo; cung cấp tình tiết mới là lao động chính trong gia đình, hoàn cảnh gia đình các bị cáo là khó khăn (thuộc hộ nghèo tại địa phương), bản thân các bị cáo nhận thức pháp luật còn hạn chế (không biết đọc, biết viết). Trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng khoản b khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận một phần Đơn kháng cáo của các bị cáo Lê Minh Q và Lê Tấn P, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo Lê Minh Q và Lê Tấn P nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
[3] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Đối với ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai được Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc trong quá trình nghị án đối với bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm b khoản 1 điều 355, Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.
Chấp nhận một phần Đơn kháng cáo của các bị cáo Lê Minh Q và Lê Tấn P. Sửa bản án sơ thẩm.
Áp dụng khoản 1 Điều 170, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 17, 38, 58 Bộ luật hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Lê Minh Q 01 (một) năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ chấp hành án.
Xử phạt bị cáo Lê Tấn P 01 (một) năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào cơ sở giam giữ chấp hành án nhưng được trừ đi thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/6/2024 đến ngày 22/6/2024.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngy 30 thống 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Phương Đ1 |
Bản án số 302/2025/HSPT ngày 26/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự phúc thẩm (cưỡng đoạt tài sản)
- Số bản án: 302/2025/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cưỡng đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào thời gian đầu tháng 3/2024, Đinh Hồng H biết được khu vực "đồng Mu Rùa" thuộc xã Phước An, huyện Nhơn Trạch có nhiều doanh nghiệp, chủ phà bơm đang tiến hành bơm cát san lấp cho công trình...
