Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 302/2025/HS-PT

Ngày: 04/4/2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tòa phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy

Các Thẩm phán:

Bà Lê Hải Yến

 

Bà Lê Thị Mỹ Lanh

- Thư ký phiên tòa:

Ông Hoàng Hiệp - Thư ký viên Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Quốc Hùng - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 77/2025/TLPT-HS ngày 21 tháng 01 năm 2025, do có kháng cáo của bị cáo Phan Thành T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 343/2024/HS-ST ngày 12 tháng 11 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội.

Bị cáo có kháng cáo:

Phan Thành T (tức B), sinh năm 1984 tại Thành phố Hà Nội; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Số I phố H, phường H, quận H, Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Phan Mai T1 (đã chết) và bà: Nguyễn Thanh V; Vợ: Vũ Hoàng H; Có 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không.

Hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

(Có mặt tại phiên tòa).

* Ngoài ra, còn có 03 bị cáo khác là: Hà Thị Mai Q, Dương Ngọc S, và Nguyễn Hữu P: không kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị. (Toà án không triệu tập đến phiên toà).

Bị hại không kháng cáo:

Chu Thị Kim N, sinh năm 1988; Trú tại: Số B L, phường N, quận L, Thành phố Hà Nội. (Toà án không triệu tập đến phiên toà).

* Người bào chữa cho bị cáo Phan Thành T (tức B) là luật sư Đinh Thị Kim T2 – Công ty L – Đoàn luật sư Thành phố H.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Hà Nội và Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân quận Đống Đa, Hà Nội thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 28/5/2024, Trần Văn T3 (tức ộp, sinh năm 1986) là chồng của Hà Thị Mai Q (sinh năm 1992; Trú tại số E đường Y, phường N, quận B, Hà Nội) bị Công an quận L bắt về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Hà Thị Mai Q và Dương Ngọc S (sinh năm 1993; trú tại số F phố N, phường N, quận B, Hà Nội) nghi ngờ cho chị Chu Thị Kim N (sinh năm 1988; Trú tại số B L, phường N, quận L, Hà Nội) là người báo cho Công an để bắt T3 (ộp) nên giữa Q và S đã bàn bạc, thống nhất: S đi tìm, bắt và đưa chị N về cho Q để Q tra hỏi làm rõ việc chị N có báo cho Công an để bắt T3 (ộp) không. Sau khi thống nhất với Q, S có nói cho Nguyễn Hữu P (sinh năm 1977; Trú tại số B phố P, phường H, quận H, Hà Nội) và Phan Thành T (tức “Bê”, sinh năm 1984; Trú tại số I phố H, phường H, quận H, Hà Nội) về việc chị N đã báo Công an bắt T3 (ộp) là vợ của Q và là bạn xã hội với S, P, T. S nói sẽ bắt chị N mang đến để cho Q tra hỏi, thì được P và T đồng tình ủng hộ. Sau đó, S đã liên lạc và chửi nhau qua điện thoại với chị N và anh Phạm Nguyên T4 (sinh năm 1987; Trú tại số B phố H, phường N, quận B, Hà Nội) là bạn trai của chị N.

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 25/6/2024, S đang ở nhà Nguyễn Hữu P thì thấy P nói chuyện điện thoại với chị N. S biết được chị N hẹn gặp P ở phố N, Đ, Hà Nội.

Thấy vậy, S nhất quyết đòi P cho đi cùng (với mục đích bắt chị N đưa về nhà Q để Q xử lý), P đồng ý. Trước khi đi S có nhắn tin, gọi điện cho Phan Thành Thẹn T ra phố N để đánh nhau, T trả lời đang đi có việc khoảng 10 phút nữa mới đến được. Khoảng 17 giờ ngày 25/6/2024, P điều khiển xe máy chở S đi đến gần trước cửa quán C1 (địa chỉ số F phố N, phường V, quận Đ, Hà Nội). Khi đến nơi, S xuống xe và bảo P “anh xuống trước đi, em đứng đây đợi”. P điều khiển xe máy đi được khoảng 03m (trước quán C1), chị N đang ngồi trong quán cà phê Linh A vẫn tay gọi P. Thấy vây, S đi đến và vào trong quán cà phê hô lớn “con chó đây rồi, có trốn được nữa không”, S xông đến chỗ chị N ngồi rồi dùng tay trái kéo tay trái chị N, tay phải túm phía sau cổ áo chị N kéo chị N ra khỏi quán cà phê và đẩy lên xe máy của P đang đứng đợi ở ngoài trước cửa quán C1. P ngồi trước điều khiển xe máy, chị N ngồi giữa, S ngồi sau. P điều khiển xe máy chở chị N và S đi khoảng 01 phút. Do chị N phát hiện quên túi đồ nên P điều khiển xe máy chở chị N và S quay lại quán cà phê. S và chị N gọi vào trong quán cá phê xin lại túi đồ thì chị Phạm Thị H1 (sinh năm 1970; Trú tại xã H, huyện N, Hải Dương) là nhân viên của quán cà phê mang túi nilon màu trắng ở trong quán cà phê ra. Lúc này, Phan Thành T đi cùng với Đ và Q1 (không rõ tên, tuổi, địa chỉ) đến nơi. S bảo T vào cầm lấy chiếc túi nilon đựng đồ của chị N, còn P điều khiển xe máy chở chị N và P đi trước, T bảo Đ chở T và Q1 đi xe máy phía sau. P chở N về đến nhà Q (số E đường Y, phường N, quận B, Hà Nội), S đưa chị N vào trong nhà Q. Tại đây, giữa Q và chị N xảy ra xô sát đánh nhau. Do sợ ảnh hưởng đến người nhà nên Q đuổi chị N đi ra ngoài. Khi nghe thấy chị N chửi mình nên Q đuổi theo và dùng hai tay túm tóc chị N giật ngược lại phía sau. Chị N bỏ đi xuống dốc phố H thì P điều khiển xe máy chở S đuổi theo bắt ép chị N lên ngồi giữa xe máy rồi đưa chị N đến nhà P tại địa chỉ số B P, phường H, quận H, Hà Nội. Khi đến nơi, S đưa chị N lên căn phòng tại tầng 4 nhà P, còn P đi xe máy quay lại đón T (vì lúc này các bạn của T là Đ và Q1 đã đi về). Sau đó, Q nhắn tin cho S hỏi “Nó (tức chị N) ở đâu rồi để chị qua”, S trả lời “Phùng Hưng, để em bảo anh “Bê” đến đón nhé” nhưng Q bảo tự đi đến. Khoảng 18 giờ cùng ngày (25/6/2024), Q đến tầng 4 nhà P. Tại đây, có các đối tượng S, T “Bê”, P đang trông giữ chị N. Q tiếp tục hỏi N “Có phải lần trước mày đã zích trượt chồng tao 01 lần rồi phải không?”. Lúc này, T có nói “Việc đó xảy ra lâu rồi, nói luôn vào việc lần này, mày có bằng chứng gì là cái N zích chồng mày không thì đem ra”. Ngân trả lời “không phải tao zích chồng mày”. P liên nói “Tầm này nó cãi bay cãi biến, cứ đợi chồng mày xử xong thì hỏi biết ngay, lúc ấy nó không cãi được nữa”. Q đã xông đến dùng tay chỉ thẳng và tát vào mặt chị N nhưng chị N dùng tay đỡ và được S can ngăn, Q bỏ đi về. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, chị N được S cho về.

Đến khoảng 23 giờ 10 phút cùng ngày (25/6/2024), chị N đến Công an phường V trình báo.

Tại Cơ quan điều tra, chị N khai nhận: Tại tầng 4 số 29 P, S ép chị N phải gọi điện cho anh T4 nhưng chị N không gọi. S lấy trong ví nam cầm tay ra một vật gì đó dạng giống súng chĩa vào chán chị N ép chị N phải mở mật khẩu điện thoại nhưng chị N không mở, S liền hướng súng về phía chiếc gối trong phòng bóp cò và phát nổ. Ngoài ra, chị N còn trình bày bị mất tài sản để trong túi nilon gồm: 01 ví da nữ màu ghi, trong vì có căn cước công dân, thẻ bảo hiểm y tế, 04 thẻ ngân hàng đều mang tên chị N và khoảng 11.000.000 đồng, 01 áo sơ mi cộc tay caro màu nâu đỏ. Khi T mang lên cho chị N chỉ có mỗi áo sơ mi cộc tay caro màu nâu đỏ.

Trong các ngày 26/6/2024 và 15/8/2024, các đối tượng Hà Thị Mai Q, Dương Ngọc S, Nguyễn Hữu P bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ bắt giữ. Tại Cơ quan điều tra, các đối tượng Hà Thị Mai Q, Dương Ngọc S, Nguyễn Hữu P và Phan Thành T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Các đối tượng P và T “Bê” khai: Sau khi được S kể lại việc Q và S nghi chị N đã báo Cơ quan Công an bắt chồng Q (là T3) về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy nên S sẽ bắt, giữ chị N về để cho Q tra hỏi, thì P và T đều đồng ý và hỗ trợ Sơn Quyên trong suốt quá trình bắt giữ chị N. Khi bắt, giữ chị N tại căn phòng trên 4 của nhà P, thì các đối tượng khẳng định S không sử dụng vật gì giống súng để đe dọa, bắn phát nổ như lời khai của chị N.

Tại Cơ quan điều tra, T khai khi được S bảo cầm chiếc túi nilon của chị N từ chị H1 là nhân viên quán Caphe Linh A thì T thấy túi nhẹ nhưng không kiểm tra bên trong nên không biết có những tài sản gì. Sau đó, T cầm chiếc túi nilong đi theo nhóm của S, P trong suốt quá trình bắt giữ chị N rồi đưa lại cho chị N tại căn phòng trên tầng 4 của nhà P. Do đó, không có căn cứ để xem xét xử lý T và các đối tượng liên quan về hành vi chiếm đoạt tài sản của chị N như lời khai báo của chị N.

Tại Biên bản xem xét dấu vết trên thân thể của chị N ngày 26/6/2024 tại Công an phường V, xác định: 01 vết bầm tím có đường kính khoảng 05cm ở trên bắp tay phải. Theo chị N khai nhận vết thương này có từ trước.

Ngày 26/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ tiến hành khám nghiệm hiện trường tại căn phòng tầng 4 nhà số B phố P, phường H, quận H, Hà Nội. Quá trình khám nghiệm hiện trường, Cơ quan điều tra không phát hiện có dấu vết súng và có đồ vật gì giống khẩu súng.

Cơ quan điều tra đã thu giữ được hình ảnh C được truy xuất từ Camera tại số nhà F phố N, phường V, quận Đ, Hà Nội. Có nội dung ghi nhận lại hình ảnh về việc S bắt, giữ chị N.

Ngày 26/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ tiến hành khám xét khẩn cấp đối với nơi ở của các đối tượng Nguyễn Hữu P và Dương Ngọc S. Quá trình khám xét, Cơ quan điều tra không phát hiện thu giữ gì

Đối với các đối tượng Đ và Q1: Tại Cơ quan điều tra, T khai không biết gì về thông tin của những người này, T chỉ nhờ chở đến N và Y nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác định, làm rõ để xử lý.

Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ những tài sản gồm: Thu giữ của Dương Ngọc S: 01 điện thoại Samsung màu trắng; Thu giữ của Hà Thị Mai Q: 01 điện thoại Nokia màu xanh; Thu giữ 01USB có chứa hình ảnh được truy xuất từ Camera tại số nhà F phố N, phường V, quận Đ, Hà Nội (nội dung ghi nhận lại hình ảnh về việc S bắt, giữ chị N) do Phạm Thị H1 (sinh năm 1970; Trú tại xã H, huyện N, Hải Dương) giao nộp.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 343/2024/HSST ngày 12/11/2024 của Tòa án nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội đã xét xử:

Tuyên bố bị cáo Phan Thành T phạm tội “Bắt giữ người trái pháp luật”.

Áp dụng khoản 1 Điều 157 Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Phan Thành T (tức Bê) 10 (mười) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn xử phạt bị cáo Hà Thị Mai Q 18 tháng tù; Dương Ngọc S 12 tháng tù; Nguyễn Hữu P 12 tháng tù cùng về tội “Bắt giữ người trái pháp luật” và quyết định về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.

Ngày 18/11/2024, bị cáo Phan Thành T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo và thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: kháng cáo của bị cáo phù hợp về chủ thể và nội dung theo qui định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, trong hạn luật định nên kháng cáo hợp lệ.

Về nội dung: Căn cứ lời khai của bị cáo, lời khai của người bị hại; các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Bắt giữ người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo thấy: Bị cáo Phan Thành T đã có hành vi bắt, giữ chị Chu Thị Kim N đưa về nhà Hà Thị Mai Q để Q tra hỏi việc chị N báo cho cơ quan Công an bắt chồng Q về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Bị cáo Phan Thành T giữ vai trò thứ yếu trong vụ án, bị cáo có hành vi hưởng ứng việc phạm tội của bị cáo S trong việc bắt giữ người bị hại. Bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết hành vi bắt giữ người khác là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn phạm tội với lỗi cố ý. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự (Trích lục tiền án, tiền sự do Công an Thành phố H cung cấp ngày 20/9/2024 thì năm 2017, Phan Thành T bị Công an phường T xử phạt hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, theo biên bản xác minh lập ngày 19/9/2024 tại Công an phường T thì không phát hiện thông tin vụ việc Công an phường xử lý đối với bị cáo). Do đây là lỗi của các cơ quan tiến hành tố tụng nên được coi là tình tiết có lợi cho bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định xử phạt bị cáo Phan Thành T 10 tháng tù là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo xuất trình Đơn xin giảm nhẹ hình phạt của mẹ bị cáo cho bị cáo, tuy nhiên đây cũng chỉ là đơn trình bày hoàn cảnh và các tình tiết giảm nhẹ theo Đơn, cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo, không có tình tiết mới nên đề nghị Hội đồng xét xử áp điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên các quyết định của Bản án sơ thẩm. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 157; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015: Xử phạt Phan Thành T (tức Bê) 10 (mười) tháng tù về tội “Bắt giữ người trái pháp luật”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

* Người bào chữa cho bị cáo Phan Thành T (tức B) là luật sư Đinh Thị Kim T2 có quan điểm: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên toà, bị cáo T luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, mức án 10 tháng tù cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là quá nghiêm khắc. Cấp sơ thẩm chưa áp dụng Điều 54 “Quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt”; Điều 3 “Nguyên tắc xử lý”; Điều 17 “Đồng phạm” của Bộ luật hình sự để xem xét áp dụng khi quyết định hình phạt đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự “Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án” để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xét xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cho bị cáo hưởng mức án từ 06 đến 07 tháng tù để bị cáo có cơ hội cải tạo, sớm trở về với gia đình chăm sóc mẹ già, con nhỏ.

Đại diện Viện kiểm sát sau khi tranh luận tại phiên toà về việc không có căn cứ áp dụng điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, mức án cấp sơ thẩm áp dụng với bị cáo đã phù hợp nên giữ nguyên quan điểm như đã đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo trong hạn luật định, đúng về chủ thể, hình thức nên hợp lệ theo Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

Về nội dung: Căn cứ lời khai của bị cáo, lời khai của bị hại, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Do nghi ngờ chị Chu Thị Kim N là người báo cho Cơ quan Công an để bắt Trần Văn T3 (là chồng của Hà Thị Mai Q) về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy nên giữa Q và S đã bàn bạc với nhau là S sẽ đi tìm, bắt và đưa chị N về để cho Q tra hỏi làm rõ việc chị N có báo cho Công an để bắt T3 (ộp) không. Sau đó, S có nói cho Nguyễn Hữu P và Phan Thành T (tức B) biết về việc bắt, giữ chị N để Q tra hỏi thì được các đối tượng P, T đồng tình ủng hộ.

Khoảng 17 giờ ngày 25/6/2024, tại quán C1 (địa chỉ số F phố N, phường V, quận Đ, Hà Nội. Dương Ngọc S, Nguyễn Hữu P và Phan Thành T đã có hành vi bắt, giữ chị Chu Thị Kim N đưa về nhà Hà Thị Mai Q (địa chỉ tại số E đường Y, phường N, quận B, Hà Nội) để Q tra hỏi. Sau đó, các đối tượng tiếp tục đưa chị N về căn phòng trên tầng 4 nhà của Nguyễn Hữu P (địa chỉ số B P, phường H, quận H, Hà Nội) để tiếp tục tra hỏi. Tại đây, Q có hành vi đe dọa và dùng tay tát chị N. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, thì S và các đối tượng cho chị N về. Sau đó, chị N đến Công an phường V trình báo. Hành vi nêu trên của Phan Thành T (tức B) đã phạm vào tội “Bắt giữ người trái pháp luật”. Với hành vi trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Bắt giữ người trái pháp luật” theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo Hội đồng xét xử thấy:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền tự do, sức khỏe của người khác, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, quyền tự do đi lại của người khác được bảo vệ bằng Hiến pháp và pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Do vậy, cần phải có một hình phạt nghiêm nhằm răn đe để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn. Bị cáo Phan Thành T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo giữ vai trò thứ yếu trong vụ án, bị cáo có hành vi hưởng ứng việc phạm tội của bị cáo S trong việc bắt giữ người bị hại, mặc dù bị cáo không có lời nói hay hành vi đe dọa gì đối với người bị hại. Bị cáo nhận thức được hành vi bắt giữ người khác là vi phạm phạm luật nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Khi lượng hình, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo: sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự (Trích lục tiền án, tiền sự do Công an Thành phố H cung cấp ngày 20/9/2024, thì năm 2017, bị cáo bị Công an phường T xử phạt hành chính về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tuy nhiên, theo biên bản xác minh lập ngày 19/9/2024 tại Công an phường T thì không phát hiện thông tin vụ việc Công an phường xử lý đối với bị cáo). Do đây là lỗi của các cơ quan tiến hành tố tụng nên được coi là tình tiết có lợi cho bị cáo. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định xử phạt bị cáo Phan Thành T 10 tháng tù là phù hợp. Tại cấp phúc thẩm không có tình tiết mới nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo của bị cáo Phan Thành T, cần giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự,

1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Phan Thành T, xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 157 Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015:

Xử phạt Phan Thành T (tức Bê) 10 (mười) tháng tù về tội “Bắt giữ người trái pháp luật”, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Phan Thành T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND quận Đống Đa, HN;
  • - VKS nhân dân Thành phố Hà Nội;
  • - VKSND quận Đống Đa, HN;
  • - Công an Thành phố, Hà Nội;
  • - Sở tư pháp Thành phố Hà Nội;
  • - Chi cục THADS quận Đống Đa, HN;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HSVA; VP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 302/2025/HS-PT ngày 04/04/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội về hình sự phúc thẩm (bắt giữ người trái pháp luật)

  • Số bản án: 302/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Bắt giữ người trái pháp luật)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt Phan Thành T (tức Bê) 10 (mười) tháng tù về tội “Bắt giữ người trái pháp luật”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger