Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 302/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 21/02/2025.

Về việc “Ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Phú.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Võ Thị Gái;

Ông Võ Văn Lợi.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai Vụ án dân sự sơ thẩm số: 2597/2024/TLST-HNGĐ ngày 12/11/2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 353/2025/QĐXXST-DS ngày 11/02/2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Tấn T, sinh năm 1982.
  • Địa chỉ: 8 Đường A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, (xin vắng mặt).

  • - Bị đơn: Bà Kiều Thị Mỹ D, sinh năm 1987.
  • Địa chỉ: 8 Đường A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, (xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo nội dung Đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn ông Nguyễn Tấn T trình bày: Về quan hệ hôn nhân, ông T và bà Kiều Thị Mỹ D kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định và được Ủy ban nhân dân phường L, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 126/2005, quyển 01, ngày 12/10/2005. Sau khoảng thời gian chung sống, cuộc sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn không thể giải hòa, hai người bất đồng quan điểm sống, sau đó hai vợ chồng sống ly thân một thời gian dài cho đến nay. Ông T xác nhận hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với bà Kiều Thị Mỹ D.

Về con chung: Ông T khai ông và bà D có 02 người con chung gồm: Nguyễn Kiều Tuyết T1 (sinh ngày 01/5/2007) và Nguyễn Kiều Bảo T2 (sinh ngày 19/8/2010). Ông T yêu cầu Tòa án giao cho ông quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai con chung, ông không yêu cầu bà D cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung: Ông T trình bày hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Ông T trình bày không có, không yêu cầu giải quyết.

Đồng thời, ông T có đơn yêu cầu không hòa giải đoàn tụ và đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

- Theo nội dung bản tự khai, bị đơn bà Kiều Thị Mỹ D trình bày: Bà D xác nhận những lời trình bày của ông T về thời điểm kết hôn, về mâu thuẫn chung của vợ chồng, về con chung, tài sản chung, nợ chung là đúng. Nay ông T yêu cầu ly hôn, bà D đồng ý ly hôn. Đồng thời, bà D cũng đồng ý yêu cầu của ông T về việc giao ông T là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai con chung Nguyễn Kiều Tuyết T1 (sinh ngày 01/5/2007) và Nguyễn Kiều Bảo T2 (sinh ngày 19/8/2010); bà D không cấp dưỡng cho con. Bà D cũng yêu cầu được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải đoàn tụ.

- Theo nội dung bản tự khai, hai cháu Nguyễn Kiều Tuyết T1 và Nguyễn Kiều Bảo T2 thống nhất trình bày: Trường hợp cha mẹ hai cháu không còn sống chung với nhau, hai cháu có nguyện vọng được sống cùng cha. Ngoài ra, hai cháu không có ý kiến nào khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án: Xét thấy, nguyên đơn - ông Nguyễn Tấn T khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn - bà Kiều Thị Mỹ D, do đó căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp “Ly hôn”. Bị đơn có địa chỉ cư ngụ tại thành phố T nên căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.

[2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ nên vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát không tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Xét Bản tự khai, Đơn đề nghị không hòa giải đoàn tụ và xin vắng mặt của đương sự đã được thực hiện theo quy định nên đây được xem là chứng cứ hợp pháp của vụ án theo quy định tại Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Do nguyên đơn và bị đơn đều có đề nghị vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết, yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:

- Về quan hệ hôn nhân: Qua lời trình bày của hai bên và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có cơ sở xác định nguyên đơn và bị đơn là vợ chồng có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 126/2005, quyển 01, đăng ký ngày 12/10/2005 tại Ủy ban nhân dân phường L, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại thời điểm đăng ký kết hôn, hai bên có đủ điều kiện kết hôn theo quy định nên quan hệ hôn nhân giữa hai bên là hôn nhân hợp pháp. Sau thời gian chung sống, hai bên phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể giải hòa, nguyên đơn và bị đơn đã sống ly thân nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt, không có sự gắn kết. Do hai người hoàn toàn không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn yêu cầu được ly hôn với bị đơn là có cơ sở. Mặt khác tại bản tự khai, bị đơn cũng đồng ý với yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, điều đó thể hiện cả hai bên không có ý muốn đoàn tụ với nhau. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.

- Về con chung: Hai bên có 02 người con chung gồm: Nguyễn Kiều Tuyết T1 (sinh ngày 01/5/2007) và Nguyễn Kiều Bảo T2 (sinh ngày 19/8/2010). Nguyên đơn yêu cầu sau khi ly hôn, giao hai con chung cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và nguyên đơn không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng cho con. Xét thấy, theo bản tự khai ghi nhận ý kiến của con chung trên 7 tuổi, hai con chung đều có nguyện vọng được sống chung với cha. Đồng thời, bị đơn cũng thống nhất đồng ý với yêu cầu nêu trên của nguyên đơn, do đó Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận này của hai bên. Giao hai con chung Nguyễn Kiều Tuyết T1 và Nguyễn Kiều Bảo T2 cho nguyên đơn trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục; tạm hoãn việc cấp dưỡng cho con đối với bị đơn.

- Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về nợ chung: Hai bên xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân gia đình là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 4 Điều 207, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 55; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 116 và Điều 117 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Nguyễn Tấn T.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Tấn T ly hôn với bà Kiều Thị Mỹ D.
    • Quan hệ hôn nhân giữa ông Nguyễn Tấn T và bà Kiều Thị Mỹ D (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 126/2005, quyển 01, đăng ký ngày 12/10/2005 tại Ủy ban nhân dân phường L, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh) chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

    • - Về con chung: Ông Nguyễn Tấn T và bà Kiều Thị Mỹ D có 02 (hai) người con chung là: Nguyễn Kiều Tuyết T1 (sinh ngày 01/5/2007) và Nguyễn Kiều Bảo T2 (sinh ngày 19/8/2010). Công nhận sự thỏa thuận giữa ông T và bà D về việc giao 02 (hai) người con chung nêu trên cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
    • Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

      Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ này, yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

      Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được pháp luật quy định, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

    • - Về cấp dưỡng: Ông T không yêu cầu giải quyết. Tạm hoãn việc cấp dưỡng cho bà Kiều Thị Mỹ D cho đến khi phát sinh yêu cầu, nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định.
    • - Về tài sản chung: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
    • - Về nợ chung: Hai bên xác định không có, không yêu cầu giải quyết.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Án phí sơ thẩm về việc ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, ông Nguyễn Tấn T phải chịu nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm mà ông T đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0044925 ngày 01/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông T đã nộp đủ án phí.
  3. Về quyền, thời hạn kháng cáo: Ông Nguyễn Tấn T, bà Kiều Thị Mỹ D được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Viện kiểm sát được quyền kháng nghị bản án theo quy định pháp luật.
  4. Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP.Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP.Thủ Đức;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự TP. Thủ Đức;
  • - UBND P.Long Bình, TP.Thủ Đức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án, 12.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đã ký

Phan Thị Ngọc Phú

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa

Võ Thị Gái Võ Văn L

Phan Thị Ngọc P

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 302/2025/HNGĐ-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 302/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Tuấn T yêu cầu ly hôn với bà Kiều Thị Mỹ D
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger