TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 302/2025/DS-PT Ngày 03-6-2025 V/v tranh chấp tài sản chung là quyền sử dụng đất | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Tùng
Các Thẩm phán: Ông Cao Nhật Thanh
Bà Lưu Thị Mỹ Hương
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Huyền Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương: Ông Lê Trung Kiên – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 27 tháng 5 và 03 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 85/2025/TLPT-DS ngày 27 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp tài sản chung là quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 184/2024/DS-ST ngày 31/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 215/2025/QĐ-PT ngày 16 tháng 4 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Lê Văn H, sinh năm 1964; địa chỉ: số A khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.
- - Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Anh P, sinh năm 2000; địa chỉ: số E đường N, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (theo Văn bản ủy quyền ngày 29/3/2024), có mặt.
- - Bị đơn: Ông Lê Văn E, sinh năm 1968; địa chỉ: số H, tổ C, khu phố C, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê Nhất M, sinh năm 1986; địa chỉ: số H, tổ C, khu phố C, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.
- Bà Lê Hồng N, sinh năm 1988; địa chỉ: số H, tổ C, khu phố C, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.
- Ông Lê Minh T, sinh năm 1990; địa chỉ: số H, tổ C, khu phố C, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt.
- Bà Phạm Thị G, sinh năm 1967; địa chỉ: số H, tổ C, khu phố C, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
- - Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Lê Văn H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và lời trình bày tại phiên tòa của nguyên đơn:
Ông Lê Văn H và ông Lê Văn E là con ruột của bà Nguyễn Thị S và ông Lê Văn N1 (chết năm 1968). Khi còn sống, cha mẹ và anh em ông H sinh sống cùng ông bà nội tại khu phố C, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Sau khi ông N1 chết thì ông H và ông E sống cùng ông bà nội là ông Lê văn N2 và bà Nguyễn Thị V, đến năm 1978 ông N2 chết, năm 1981 thì bà V chết. Năm 1985 ông Lê Văn N3 (chú của hai anh em ông H) có đứng ra chia toàn bộ di sản của ông bà nội để lại khoảng 9000m² đất thành 03 phần cho 03 người con của ông bà là: ông Lê Văn N1, ông Lê Văn N3 và bà Lê Thị T1, mỗi phần khoảng 3000m². Do ông Lê Văn N1 chết trước đó nên phần của ông N1 sẽ giao lại cho ông H và ông E quản lý và sử dụng. Từ lúc nhỏ đến năm 1995, ông H quản lý và sử dụng trên các thửa đất được ông N3 chia. Vào khoảng năm 1990, ông H làm nhà, sinh sống và trồng tràm, trồng điều trên thửa đất 421 (thửa đất này do ông H và ông nội cùng khai phá từ khoảng năm 1975 đến năm 1978) cuối đường G, đến khoảng năm 1995 thì ông H về xã B (nay là phường B) thành phố T, tỉnh Bình Dương sinh sống cho đến nay. Năm 1999, nhà nước yêu cầu người dân kê khai đăng ký đại trà thì ông Lê Văn E đã tự ý đứng ra kê khai các phần di sản của hai anh em được hưởng từ ông bà nội và các phần đất khác mà ông E tự khai phá, mua thêm sau này. Cụ thể ông Lê Văn E đã được Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00545 QSDĐ/TU ngày 23/8/1999 đối với với toàn bộ diện tích 8.128m² bao gồm các thửa 335, 234, 235, 236, 290, 291, 414, 421 tờ bản đồ số 9 và thửa 205, 214 tờ bản đồ số 8 tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Trong các thửa nêu trên thì có thửa 205, 214, 414, 421 là phần di sản mà hai anh em ông H được chia từ ông bà nội trước đó. Năm 2003, ông H biết ông E được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên đã đến nhà nói chuyện với ông E yêu cầu trả lại một nửa tài sản cho ông H, ông E có hứa trả đất nhưng không thực hiện. Năm 2006, ông H có gửi đơn kiện đến Toà án nhân dân huyện (nay là thành phố T) và được hoà giải vì ông E hứa sẽ trả lại đất. Nhưng sau đó ông E không thực hiện nghĩa vụ trả lại đất cho ông như đã cam kết tại Toà án. Nhận thấy việc ông có công khai phá (cùng ông nội khai phá thửa 414, 421), sử dụng, quản lý các thửa đất trên từ nhỏ đến năm 31 tuổi là một thời gian dài và có nhiều công sức đóng góp, ông H khởi kiện:
- - Yêu cầu ông Lê Văn E phải trả lại thửa đất số 421 và thửa đất số 205 cho ông.
- - Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00545 QSDĐ/TU ngày 23/8/1999 do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp cho ông Lê Văn E.
- - Kiến nghị thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gồm: H00979 ngày 29/9/2008 do Ủy ban nhân dân thành phố (nay là thành phố) Tân Uyên cấp cho ông Lê Nhất M, H00980 ngày 29/9/2008 do Ủy ban nhân dân thành phố (nay là thành phố) Tân Uyên cấp cho bà Lê Hồng N và CS02648 ngày 18/5/2020 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp cho ông Lê Minh T.
Tại đơn sửa đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện ngày 31/8/2023, ông Lê Văn H trình bày: Sau khi ông bà nội qua đời thì đến năm 1985, chú ông là ông Lê Văn N3 có đứng ra chia toàn bộ di sản của ông bà nội để lại hơn 9000m² thành 03 phần cho 03 người con là Lê Văn N1, Lê Văn N3 và Lê Thị T1. Trong đó, ông N3 và bà T1 mỗi người được chia khoảng 2000m², phần còn lại là của ông Lê Văn N1. Nhưng do ông N1 đã chết nên phần của ông N1 giao lại cho hai anh em ông H quản lý, sử dụng. Thời điểm đó, do ông H và ông E đang sinh sống và canh tác trên thửa đất 421 và 414 nên ông Lê Văn N3 chia cho ông H và ông E hai thửa này. Còn các thửa 234, 235, 236, 290, 291, 214, 205 thì ông N3 chia chung cho bà T1, ông H và ông E. Trong đó bà T1 được khoảng 2000m², phần còn lại 2.897m² là của ông H và ông E. Phần của ông N3 là các thửa riêng không liên quan đến phần của bà T1, ông H và ông E. Như vậy phần tài sản chung chia cho ông H và ông E là 5.500m2 bao gồm toàn bộ thửa 414, 421, 234, 235, 290, 291, 214, 205. Ông Lê Văn H xác định lại yêu cầu khởi kiện của mình là:
- - Yêu cầu Tòa án xác định quyền sử dụng đất của thửa đất 414, 421, 234, 235, 236, 290, 291 tờ bản đồ số 9 và thửa 205, 214 tờ bản đồ số 8 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00545 QSDĐ/TU được Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp ngày 23/8/1999 với tổng diện tích tài sản chung là 5.500 m² là của ông Lê Văn H và ông Lê Văn E. Ông Lê Văn H yêu cầu chia tài sản chung nêu trên và yêu cầu nhận bằng hiện vật gồm: Thửa đất 414 (diện tích 880m²), thửa 214 (diện tích 576m²), thửa 205 (diện tích 639m²), thửa 236 (diện tích 596m²). Tổng diện tích ông Lê Văn H yêu cầu được chia là 2.691m².
- - Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00545 QSDĐ/TU ngày 23/8/1999 do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp cho ông Lê Văn E.
Ông Lê Văn H rút lại yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu kiến nghị thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00979 ngày 29/9/2008 do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp cho ông Lê Nhất M, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00980 ngày 29/9/2008 do Ủy ban nhân dân thành phố T cấp cho bà Lê Hồng N và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS02648 ngày 18/5/2020 do Sở T cấp cho ông Lê Minh T.
Tại phiên toà sơ thẩm, ông Lê Văn H cho rằng các thửa đất 234, 235, 236, 290, 291 là phần đất được chia cho bà T1 và bà T1 đã bán lại cho ông Lê Văn E, là tài sản riêng của ông Lê Văn E, không phải tài sản chung của ông H và ông E. Ông H thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu xác định tài sản chung gồm các thửa 414, 421 tờ bản đồ số 9 và thửa 205, 214 tờ bản đồ số 8 tại phường T, yêu cầu chia tài sản chung nêu trên, ông H nhận yêu cầu được nhận hiện vật là các thửa đất số 414 và 205. Nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hướng dẫn tại phần 2.4 mục I của Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Lê Văn E trình bày:
Ông nội Lê Văn N2 (chết năm 1978), bà nội Nguyễn Thị V (chết năm 1981) có 03 người con là Lê Văn N1 (cha ông Em và ông H đã chết năm 1965), bà Lê Thị T1 (đã chết khoảng năm 2019) và ông Lê Văn N3. Khi chết ông bà nội có để lại diện đất khoảng hơn 7.000m2 tại phường T, phần đất này do ông Lê Văn E canh tác, sử dụng từ năm 1987 sau khi ông E đi bộ đội về, thời điểm đó ông H đi làm ăn ở nơi khác, không sinh sống tại T. Năm 1995, ông Lê Văn E, ông Lê Văn N3 và bà Lê Thị T1 họp lại phân chia đất thành 03 phần như nhau, mỗi phần khoảng hơn 2.000m², ông E một phần, ông N3 một phần, bà T1 một phần, không xác định diện tích cụ thể, chỉ xác định từng khu để phân biệt với nhau. Phần của bà T1 không sử dụng thì bà T1 đã chuyển nhượng lại cho ông E sử dụng. Năm 1999, ông E đăng ký và được Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00545 QSDĐ/TU diện tích 8.128m² gồm các thửa: Thửa 205, 214 tờ bản đồ số 8 tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương và các thửa 234, 235, 236, 290, 291, 414, 421, 335 tờ bản đồ số 9 tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Trong đó thửa 335 có nguồn gốc do cha, mẹ vợ cho; thửa 234, 235, 236, 290, 291, 205, 421, 214, 414 có nguồn gốc là của ông, bà nội để lại, trong đó các thửa 205, 421, 214, 414 mua lại của bà Lê Thị T1. Ông E xác định các thửa đất 234, 235, 236, 290, 291, 205, 421, 214, 414 là tài sản của ông, do ông quản lý, sử dụng từ năm 1987 đến nay, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình ông, không phải tài sản chung của ông và ông H nên không đồng ý chia cho ông H.
Tại phiên tòa ông E xác định tổng diện tích đất ông bà để lại chỉ khoảng hơn 6.000m², năm 1985 khi chia đất thì mỗi người được chia khoảng hơn 2.000m², các thửa đất được chia gồm 234, 235, 236, 290, 291; đối với các thửa 205, 421, 214, 414 là phần bà T1 được chia, bà T1 không sử dụng nên ngay sau khi chia bà T1 bán lại cho ông. Thời điểm chia đất thì diện tích mỗi người được chia vào khoảng hơn 2.000m², diện tích tăng như hiện nay là do ông E khai hoang, phục hóa, lấn rộng ra trong quá trình quản lý sử dụng nên có hiện trạng như hiện nay. Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bị đơn không đồng ý.
Ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Nhất M, ông Lê Minh T, bà Lê Hồng N, bà Phạm Thị G:
Ông Lê Văn N2 (chết năm 1978), bà Nguyễn Thị V (chết năm 1982) có 03 người con là Lê Văn N1 (cha ông Em và ông H đã chết năm 1965), bà Lê Thị T1 (đã chết), ông Lê Văn N3 (còn sống). Khi chết thì ông nội, bà nội có để lại diện đất khoảng hơn 7.000m² đất tại phường T, phần đất nay do ông Lê Văn E canh tác, sử dụng từ năm 1987 sau khi ông E đi bộ đội về, thời điểm đó ông H đi làm ăn ở nơi khác, không có mặt tại T. Năm 1995, ông Lê Văn E, ông Lê Văn N3 và bà Lê Thị T1 họp lại phân chia đất thành 03 phần như nhau, ông Em một phần, ông N3 một phần, bà T1 một phần. Phần chia cho bà T1 thì bà T1 chuyển nhượng lại cho ông E. Mỗi phần khoảng hơn 2.000m². Ngoài ra ông E còn được cha mẹ vợ cho một phần đất, và ông E có khai phá thêm một phần, sau đó đi đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ của ông Lê Văn E. Toàn bộ đất là tài sản chung của hộ gia đình gồm ông Lê Văn E, bà Phạm Thị G, con Lê Nhất M, Lê Hồng N, Lê Minh T, không phải tài sản chung của ông H, ông E.
Người làm chứng ông Lê Văn N3 trình bày:
Cha mẹ ông là ông Lê Văn N2 (chết năm 1978), bà Nguyễn Thị V (chết năm 1982) có 03 người con gồm ông Lê Văn N1 (cha ông H, ông E), bà Lê Thị T1 và ông Lê Văn N3. Khi chết ông N2, bà V có để lại một số ruộng đất, trước đây (không nhớ rõ năm nào) ông có đứng ra cùng bà T1, ông H, ông E phân chia ruộng đất do ông N2, bà V để lại làm 3 phần, mỗi phần khoảng hơn 2000m², do ông N1 chết nên ông H và ông E được chia chung một phần. Phần bà T1 được chia nhưng bà T1 không sử dụng nên đã bán cho ông Lê Văn E sử dụng. Phần của ông được chia thì ông đã đăng ký được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng, sau đó đã chuyển nhượng lại cho người khác.
Người làm chứng Nguyễn Văn T2, Nguyễn Văn Đ, Quản Hoàng N4, Quản Văn P1, Lê Văn N2, Nguyễn Văn N5, Lê Hoàng C, Lê Thanh B trình bày:
Các thửa đất tranh chấp có nguồn gốc là của ông, bà nội của ông H và ông E để lại. Trước đây không rõ năm nào ông H có cất căn nhà lá ở cuối đường G sinh sống được một thời gian rồi lấy vợ về B sinh sống cho đến nay.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 184/2024/DS-ST ngày 31/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn H về việc: yêu cầu kiến nghị thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gồm: H00979 ngày 29/9/2008 do UBND thành phố T cấp cho ông Lê Nhất M, H00980 ngày 29/9/2008 do UBND thành phố T cấp cho bà Lê Hồng N và CS02648 ngày 18/5/2020 do Sở T cấp cho ông Lê Minh T.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn H với bị đơn ông Lê Văn E về việc “Tranh chấp tài sản chung là quyền sử dụng đất”.
Chia cho ông Lê Văn H được quyền sử dụng thửa đất số 291 (diện tích 711,4m2) tờ bản đồ số 10 tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
(Có sơ đồ bản vẽ kèm theo)
- Ông Lê Văn H được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án.
- Ông Lê Văn E có nghĩa vụ liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00545 QSDĐ/TU ngày 23/8/1999 theo quyết định của Tòa án.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, về án phí, về quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án cho các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 13/01/2025 nguyên đơn ông Lê Văn H có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét toàn bộ nội dung vụ án theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Cùng ngày, bị đơn ông Lê Văn E có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đến ngày 15/01/2025, bị đơn ông Lê Văn E có đơn rút kháng cáo. Ngày 27/02/2025, Tòa án cấp phúc thẩm ban hành Thông báo rút kháng cáo số 37/TB-TA về việc rút kháng cáo của ông Lê Văn E.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là bà Nguyễn Anh P trình bày:
Ông Lê Văn H và ông Lê Văn E là con ruột của bà Nguyễn Thị S và ông Lê Văn N1 (chết năm 1968). Sau khi ông N1 chết thì ông H và ông E sống cùng ông Lê Văn N2 và bà Nguyễn Thị V (ông bà nội) tại khu phố C, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Năm 1978 ông nội chết, năm 1981 bà nội chết thì năm 1985 thì chú là ông Lê Văn N3 có đứng ra chia toàn bộ di sản của ông bà nội để lại khoảng 9000m² đất thành 03 phần cho 03 người con là: ông Lê Văn N1, ông Lê Văn N3 và bà Lê Thị T1, mỗi phần khoảng 3000m². Do ông Lê Văn N1 chết trước đó nên phần của ông N1 sẽ giao lại cho ông H và ông E quản lý và sử dụng. Từ lúc nhỏ đến năm 1995, ông H có quản lý và sử dụng trên các thửa đất được chú ông chia. Vào khoảng năm 1990, ông có làm nhà, sinh sống và trồng tràm, trồng điều trên thửa đất 421 (thửa đất này do ông H và ông nội cùng khai phá từ khoảng năm 1975 đến năm 1978) cuối đường G, đến khoảng năm 1995 thì ông H rời xuống xã B (nay là phường B) thành phố T, tỉnh Bình Dương sinh sống cho đến nay. Năm 1999, nhà nước yêu cầu người dân kê khai đăng ký đại trà thì ông Lê Văn E đã tự ý đứng ra kê khai các phần di sản của hai anh em được hưởng từ ông bà nội bao gồm: các thửa 414, 421 tờ bản đồ số 9 và thửa 205, 214 tờ bản đồ số 8 tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Nay ông H yêu cầu Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 184/2024/DS-ST ngày 31/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chia tài sản chung và đề nghị được nhận hiện vật là các thửa đất số 414 tờ bản đồ số 9 và thửa đất số 205 tờ bản đồ số 8 tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Bị đơn ông Lê Văn E trình bày:
Không đồng ý với kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Việc thụ lý vụ án, xác định quan hệ pháp luật, tư cách pháp lý của người tham gia tố tụng của Tòa án, thu thập chứng cứ là đúng theo quy định, những người tham gia tố tụng và những người tiến hành tố tụng, thời hạn chuẩn bị xét xử đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Trên cơ sở tài liệu có tại hồ sơ, kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa, xét kháng cáo của nguyên đơn, nhận thấy quá trình tố tụng, các đương sự thống nhất về quan hệ huyết thống.
Nguyên đơn cho rằng 04 thửa đất số 414, 421, tờ bản đồ số 9 và thửa 205, 214, tờ bản đồ số 8 là di sản thừa kế của ông bà nội được chia cho ông H và ông E nên yêu cầu chia tài sản chung, nhận hiện vật là các thửa đất số 414, 205. Tuy nhiên, ông H không xác định được diện tích. Việc chia đất không lập văn bản, không đo đạc cụ thể, thời điểm chia đất chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên cũng chỉ xác định mỗi bên được chia những đám ruộng nào. Ông Lê Văn E thừa nhận có việc chia đất của ông bà nội để lại vào năm 1995 nhưng chỉ chia cho ông N3, bà T1 và ông E, không chia cho ông H vì thời điểm chia đất ông H đã bỏ đi sinh sống ở B. Ông H từng có xây dựng nhà và ở trên đất, thửa đất số 421, 205 có nguồn gốc của ông bà nội để lại. Ngoài ra, ông E còn khai phá, mua lại của bà T1, được cha mẹ vợ tặng cho. Do đó, trên cơ sở lời khai của các đương sự, người làm chứng, chỉ có cơ sở xác định diện tích đất chia thời điểm năm 1995 khoảng 6.000m², chia đều cho mỗi phần được khoảng 2.000m². Theo đơn khởi kiện, ông Lê Văn H trình bày “Năm 1999, Nhà nước yêu cầu người dân kê khai đăng ký đại trà thì ông Lê Văn E đã tự ý đứng ra kê khai các phần di sản của hai anh em được hưởng từ ông bà nội và các phần đất khác mà ông E tự khai phá, mua thêm sau này”. Như vậy, chính ông Lê Văn H cũng thừa nhận ngoài phần di sản của ông bà nội để lại thì ông E còn tự khai phá và mua thêm, được tặng cho, phù hợp lời trình bày của ông Lê Văn E và các thành viên trong hộ ông E. Do đó, phần diện tích chênh lệch được xem là do ông E và các thành viên trong hộ ông E tạo lập.
Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào lời trình bày của ông H tại phiên tòa sơ thẩm về việc ông H thừa nhận bà T1 được chia các đám ruộng cách xa nhau, không phải là một khu, có cả đất ruộng và đất cát để xác định khu đất gồm các thửa 234, 235, 236, 290, 291 khoảng 2.000m² là phần đất được chia cho ông E là chưa đủ cơ sở.
Xét thấy, tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn xác định tranh chấp 04 thửa đất số 414, 421, tờ bản đồ số 9 và thửa 205, 214, tờ bản đồ số 8. Đồng thời, quá trình tố tụng, bị đơn thừa nhận 02 thửa đất số 421, tờ bản đồ số 9 và thửa 205, tờ bản đồ số 8 là di sản của cụ Lê Văn N2 để lại, được các con cụ N2 tự phân chia vào năm 1985. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận 01 phần (đối với 02 thửa đất số 421 và 205) nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại giải quyết chia cho ông Lê Văn H thửa số 291, tờ bản đồ số 10 là không phù hợp với yêu cầu của nguyên đơn, vi phạm điều 5 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Lê Văn H là có cơ sở chấp nhận 01 phần. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Chấp nhận 01 phần kháng cáo của nguyên đơn ông Lê Văn H. Sửa 01 phần Bản án dân sự số 132/2024/DS-ST ngày 10/9/2024 của Tòa án nhân thành phố T, tỉnh Bình Dương theo hướng: Chia tài sản chung là thửa 205 và thửa 421 sau khi tính công sức gìn giữ cho bị đơn ông Lê Văn E; trường hợp không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị.
Sau khi nghiên cứu các chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- [1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị G vắng mặt, tuy nhiên Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần hai đối với bà G nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bà Phạm Thị G.
- [2] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn:
- [2.1] Về quan hệ huyết thống: Quá trình giải quyết vụ án các đương sự thống nhất cha là ông Lê Văn N1 (chết năm 1968), mẹ ruột là bà Nguyễn Thị S (chết năm 1968); ông bà nội của các đương sự là cụ Lê Văn N2 (chết năm 1978) và cụ Nguyễn Thị V (chết năm 1982), đây là những tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh theo quy định tại Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- [2.2] Về nguồn gốc đất, quá trình quản lý, sử dụng đất:
Nguyên đơn cho rằng các thửa đất tranh chấp gồm thửa 414, 421 tờ bản đồ số 9 và thửa 205, 214 tờ bản đồ số 8 tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương có nguồn gốc của cụ Lê Văn N2 (chết năm 1978) và cụ Nguyễn Thị V (chết năm 1981) là ông và bà nội của ông H và ông E chết để lại. Năm 1985 ông Lê Văn N3 (chú của hai anh em ông H) có đứng ra chia toàn bộ di sản của ông bà nội để lại khoảng 9000m² đất thành 03 phần cho 03 người con của ông bà là: ông Lê Văn N1, ông Lê Văn N3 và bà Lê Thị T1, mỗi phần khoảng 3000m². Do ông Lê Văn N1 chết trước đó nên phần của ông N1 sẽ giao lại cho ông H và ông E quản lý và sử dụng. Từ lúc nhỏ đến năm 1995, ông H quản lý và sử dụng trên các thửa đất được ông N3 chia. Vào khoảng năm 1990, ông H làm nhà, sinh sống và trồng tràm, trồng điều trên thửa đất 421 (thửa đất này do ông H và ông nội cùng khai phá từ khoảng năm 1975 đến năm 1978) cuối đường G, đến khoảng năm 1995 thì ông H về xã B (nay là phường B) thành phố T, tỉnh Bình Dương sinh sống cho đến nay. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn yêu cầu Tòa án áp dụng tiểu mục 2.4 mục 2 phần I Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao để chia cho nguyên đơn các thửa đất số 414, 205 nêu trên.
Bị đơn ông Lê Văn E cho rằng năm 1985, ông Lê Văn N3 là chú của ông H, ông E có đứng ra chia toàn bộ phần đất của cụ N2, cụ V để lại khoảng 9000m² đất thành 03 phần cho 02 người con của cụ N2, cụ V là: ông Lê Văn N3 và bà Lê Thị T1 và hai cháu nội là ông H, ông E mỗi phần đất khoảng 3000m². Năm 1987, ông E đi nghĩa vụ về quản lý và sử dụng đất, cho đến năm 1999, ông E đăng ký và được Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00545 QSDĐ/TU diện tích 8.128m² gồm các thửa: Thửa 205, 214 tờ bản đồ số 8 tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương và các thửa 234, 235, 236, 290, 291, 414, 421, 335 tờ bản đồ số 9 tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Trong đó thửa 335 có nguồn gốc do cha, mẹ vợ cho; thửa 234, 235, 236, 290, 291, 205, 421, 214, 414 có nguồn gốc là của ông, bà nội để lại, trong đó các thửa 205, 421, 214, 414 mua lại của bà Lê Thị T1. Ông E xác định các thửa đất 234, 235, 236, 290, 291, 205, 421, 214, 414 là tài sản của ông, do ông quản lý, sử dụng từ năm 1987 đến nay.
Theo quy định tại điểm a tiểu mục 2.4 mục 2 phần I Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định: “Trường hợp trong thời hạn mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu Toà án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết”. Ông H và ông E không có văn bản cùng xác nhận hoặc văn bản đều thừa nhận phần đất đang tranh chấp là di sản do người chết để lại chưa chia, bị đơn không thừa nhận đất tranh chấp là tài sản chung và cũng không đồng ý phân chia nên di sản trên không chuyển thành tài sản chung của các thừa kế. Như vậy, đất tranh chấp thuộc quyền quản lý, sử dụng hợp pháp của nguyên đơn, nguyên đơn đã quản lý, sử dụng ổn định trên 30 năm và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm xử xác định các thửa đất 234, 235, 236, 290, 291 là tài sản chung và tuyên cho nguyên đơn được quyền quản lý, sử dụng thửa đất số 291 (diện tích 711,4m²) tờ bản đồ số 10 tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương là không đúng với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bị đơn ông Lê Văn E không kháng cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Từ phân tích trên Hội đồng xét xử xét thấy không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
- [3] Ý kiến của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là không có cơ sở để chấp nhận; ý kiến của bị đơn là có cơ sở để chấp nhận.
- [4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát không phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
- [5] Án phí phúc thẩm: Căn cứ vào Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Người kháng cáo phải chịu án phí phúc thẩm nhưng nguyên đơn ông Lê Văn H là người cao tuổi và có đơn xin miễn tiền án phí nên ông H được miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 144; khoản 1 Điều 148; khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 138, Điều 463, khoản 1, khoản 5 Điều 466, khoản 2 Điều 470 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Lê Văn H. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 184/2024/DS-ST ngày 31/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương như sau:
- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn H về việc: yêu cầu kiến nghị thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gồm: H00979 ngày 29/9/2008 do UBND thành phố T cấp cho ông Lê Nhất M, H00980 ngày 29/9/2008 do UBND thành phố T cấp cho bà Lê Hồng N và CS02648 ngày 18/5/2020 do Sở T cấp cho ông Lê Minh T.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn H với bị đơn ông Lê Văn E về việc “Tranh chấp tài sản chung là quyền sử dụng đất”.
Chia cho ông Lê Văn H được quyền sử dụng thửa đất số 291 (diện tích 711,4m2) tờ bản đồ số 10 tại phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
(Có sơ đồ bản vẽ kèm theo)
- Ông Lê Văn H được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án.
- Ông Lê Văn E có nghĩa vụ liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00545 QSDĐ/TU ngày 23/8/1999 theo quyết định của Tòa án.
- Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn phải chịu 9.000.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá. Bị đơn phải chịu 9.000.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá. Nguyên đơn đã tạm ứng xong, bị đơn ông Lê Văn E phải có trách nhiệm thanh toán cho nguyên đơn ông Lê Văn H số tiền 9.000.000 đồng (Chín triệu đồng).
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Nguyên đơn ông Lê Văn H được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- - Bị đơn ông Lê Văn E phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về án phí phúc thẩm: Nguyên đơn ông Lê Văn H được miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tùng |
SƠ ĐỒ
Kèm theo Bản án dân sự phúc thẩm số 302/2025/DS-PT ngày 03/6/2025
của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tùng |
Bản án số 302/2025/DS-PT ngày 03/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp tài sản chung là quyền sử dụng đất
- Số bản án: 302/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp tài sản chung là quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn H - Lê Văn E - Tranh chấp quyền sử dụng đất
