|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 302/2024/HSST |
Ngày: 14/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Ma Văn Nhất.
Các hội thẩm nhân dân:
- 1/ Bà Nguyễn Thị Vân
- 2/ Ông Nguyễn Văn Quản
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thống – Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12,Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Đô – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Tòa án nhân dân Quận 12 mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 368/2024/HSST ngày 03 tháng 10 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1714/2024/HSST-QĐ ngày 14/10/2024 đối với các bị cáo:
1/ Nguyễn Văn T, Giới tính: Nam. Sinh năm 1996; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi ĐKNKTT: 5 đường H, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi ở hiện tại: Không xác định. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 01/12; Nghề nghiệp: Không. Họ và tên cha: Nguyễn Văn C (chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T1; hoàn cảnh gia đình: vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 241/HSST ngày 08/8/2014 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội: “Cướp giật tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 25/4/2015. Nộp án phí ngày 04/3/2016.
- Bị bắt tạm giam ngày: 03/01/2024 (BL 109; 111- Tập HS của Công an Q) – (Có mặt).
2/ Nguyễn Văn H (Hùng C1), Giới tính: Nam. Sinh năm 1993; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi ĐKNKTT: 5 đường H, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi ở hiện tại: Không nơi cư trú nhất định. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 01/12; Nghề nghiệp:
2
Không. Họ và tên cha: Nguyễn Văn C (chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị T1; hoàn cảnh gia đình: vợ, con: Chưa có. tiền sự: Không.
Tiền án: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 34/2019/HSST ngày 19/6/2019 của Tòa án nhân dân Quận 10 xử phạt 03 năm 03 tháng tù về tội: “Cướp giật tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/9/2021. Nộp án phí ngày 23/4/2020.
Nhân thân:
- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 185/HSPT ngày 28/3/2011 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội: “Cướp giật tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/6/2013. Nộp án phí ngày.
- Tại bản án hình sự sơ thẩm số 241/HSST ngày 08/8/2014 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân xử phạt 03 năm tù về tội: “Cướp giật tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 16/8/2016. Nộp án phí ngày 30/9/2016.
- Ngày 02/4/2024, Công an quận B ban hành Quyết định xử phạt chính số BH00139/QĐ-XPHC đối với Nguyễn Văn H với số tiền 2.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản. Nguyễn Văn H chưa nộp phạt.
- Bị tạm giam từ ngày 02/4/2024 (BL 14-16; 20 tập HS của Công an B) - (Có mặt).
*Người bị hại:
- Chị Nguyễn Thị Thùy H1, sinh năm 1985. Trú tại: Căn hộ G, Lô B, chung cư H, phường T, Quận A, Tp . - (Vắng mặt).
- Anh Trương Văn C2, sinh năm 1992. HKTT: Ấp Long Hòa 2, xã Long Phú, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang Trú tại: Nhà trọ 132C/5, ấp 3, xã An Phú Tây, huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh- (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có việc làm, cần tiền tiêu xài nên Nguyễn Văn T rủ anh ruột là Nguyễn Văn H đi cùng người dân để sơ hở thì trộm cắp bán lấy tiền tiêu chia nhau xài thì H đồng ý. Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 08/9/2023, Nguyễn Văn H điều khiển xe mô tô biển số 70L1-007.21 đến phòng trọ của T tại địa chỉ số H đường H, phường T, quận B rồi giao xe cho T điều khiển chở H ngồi sau chạy trên nhiều tuyến đường ở quận B và Quận A để tìm người dân có tài sản để sơ hở thì trộm cắp.
Đến khoảng 13 giờ 30 phút, khi T điều khiển xe mô tô biển số 70L1-007.21 chở H chạy ngang quán cà phê không tên, địa chỉ 423/29 đường H, Tổ B, Khu phố B, phường T, Quận A thì H phát hiện chị Nguyễn Thị Thùy H1 nằm ngủ trong quán, kế bên có để 01 điện thoại di động nên kêu T quay xe lại để trộm điện thoại di động. T điều khiển xe mô tô biển số 70L1-007.21 quay lại dừng trước
3
quán, đầu xe hướng ra đường T và vẫn để xe máy nổ. T nhìn vào thấy chị H1 nằm ngủ trên ghế bố đặt giữa quán, bên phải chị H1 để 01 điện thoại di động Samsung A9 đang sạc pin trên bàn inox. Lúc này, H xuống xe đi bộ vào trong quán, rồi đi đến gần nơi chị H1 nằm ngủ rút dây sạc pin lấy trộm điện thoại di động của chị H1, cầm trên tay chạy ra lên ngồi sau xe do T đứng đợi sẵn thì bị chị H1 phát hiện nên từ trong nhà vừa chạy vừa đuổi theo T vừa tri hô. Lúc này T điều khiển xe nhanh chóng chạy tẩu thoát ra đường T, rồi rẽ ra đường Q chạy về hướng qận B. Nghe tiếng chị H1 tri hô, người dân phát hiện điều khiển xe mô tô chạy đuổi theo T và H, đồng thời tiếp tục tri hô. Khi đến trước địa chỉ 7 đường số B, tổ I, ấp T, xã B, huyện H thì anh Nguyễn Tấn T2 và anh Đào Duy H2 đuổi kịp nên tông xe mô tô vào xe mô tô biển số 70L1-007.21 do T điều khiển làm T và H ngã xe, T bị người dân bắt giữ lại cùng tang vật là điện thoại di động S và xe mô tô biển số 70L1-007.21 giao Công an phường T, Quận A lập hồ sơ xử lý. Riêng Nguyễn Văn H chạy bộ T3.
Ngày 10/11/2023, T bị Cơ quan điều tra Công an Q khởi tố vụ án, khởi tố bị can. Sau đó bắt tạm giam để điều tra.
Trong quá trình lẩn trốn, khoảng 11 giờ ngày 29/3/2024 khi đến quán nước tại địa chỉ số F Hồ V, phường B, quận B. H đã lén lút trộm cắp 02 điện thoại di động của chị Nguyễn Thị Huỳnh N rồi bỏ đi. Sau khi bị mất điện thoại, chị N đến công an phường B, Công an quận B trình báo sự việc.
Qua điều tra truy xét, Công an quận B tiến hành mời Nguyễn Văn H làm việc. Tại Cơ quan điều tra, H đã khai nhận trộm cắp 02 điện thoại di động của chị N tại phường B, quận B đem bán lấy tiền tiêu xài. Qua đầu tranh Hùng đã khai nhận vào lúc 11 giờ ngày 28/3/2024, H còn thực hiện hành vi trộm cắp 02 điện thoại di động của anh Trương Văn C2 tại xã A, huyện B. Công an quận B đưa H đi chỉ điểm nơi trộm cắp 02 điện thoại tại điểm bán chuối "Anh P” trên đường N, thuộc Tổ A, Ấp C, xã A, huyện B. Sau đó, Công an quận B chuyển giao H cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, cùng ngày anh Trương Văn C2 cũng đến Cơ quan Công an xã A trình báo sự việc bị mất trộm 02 điện thoại di động vào ngày 29/3/2024.
Nguyễn Văn H bị Công an huyện B bắt tạm giam về tội “Trộm cắp tài sản” nên Cơ quan CSĐT Công an Q phối hợp làm việc đối với H. Qua làm việc, H khai nhận toàn bộ nội dung sự việc cùng Nguyễn Văn T thực hiện hành vi “Trộm cắp tài sản”, ngày 08/9/2023, tại địa chỉ quán cà phê không tên, địa chỉ 4 đường H, tổ B, khu phố B, phường T, Quận A.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T và Nguyễn Văn H đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.
Bản cáo trạng 27A/CT-VKS.Q12, ngày 01/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, đã truy tố: Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa:
4
Bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn H khai nhận hành vi trộm cắp tài. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, người liên quan, người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội vẫn giữ nguyên nội dung truy tố đối với các bị cáo. Sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của các bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn H về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và đề nghị xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Văn T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Bị cáo Nguyễn Văn H từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Về vật chứng và trách nhiệm dân sự đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn H không tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Do lười lao động, cần tiền tiêu xài, Khoảng 11 giờ 30 ngày 08/9/2023, Nguyễn Văn T điều khiển xe mô tô biển số 71L1-007.21 chở Nguyễn Văn H chạy ngang quán cà phê không tên, địa chỉ: 4 đường H, Tổ B, Khu phố B, phường T, Quận A, phát hiện chị Nguyễn Thị Thùy H1 nằm ngủ trong quán nên đã quay xe lại để H xuống xe lấy trộm 01 điện thoại di động Samsung A9 đang sạc trên bàn inox.
Trong quá trình bỏ trốn, ngày 28/3/2024 Nguyễn Văn H đã lén lút trộm cắp 02 điện thoại di động của anh Trương Văn C2 tại vựa trái cây “Anh P" ven đường N, thuộc Tổ A, Ấp C, xã A, huyện B.
Ngày 06/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã chuyển toàn bộ hồ sơ vụ án Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q để nhập vụ án do Nguyễn Văn H và Nguyễn Văn T cùng thực hiện ngày 08/9/2023 tại Quận A để xử lý.
Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn H đã phạm tội Trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự
Về trách nhiệm hình sự:
5
- Tại Bản kết luận định giá tài sản số 284/KL-HĐĐGTS ngày 29/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận A kết luận: 01 điện thoại di dộng hiệu Samsung A9 màu hồng, số Imel 359933096364004/359934096364002. có trị giá 2.200.000 đồng.
-Tại Bản kết luận định giá tài sản số 1238/KL-HĐĐGTS ngày 08/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Vsmart khi bị mất trộm có giá trị là 990.000đồng; 01 điện thoại di động hiệu InFinix khi bị mất trộm có giá trị là 1.290.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị mất trộm là 2.280.000 đồng (bút lục số 34-36).
Bị cáo Nguyễn Văn T có hành vi trộm cắp tài sản có giá trị 2.200.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Văn H có hành vi trộm cắp tài sản với tổng giá trị 4.480.000 đồng (2.280.000 đồng + 2.200.000 đồng).
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 áp dụng khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự truy tố Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn H là có căn cứ pháp luật, đúng người, đúng tội
Ngày 19/6/2019 của Tòa án nhân dân Quận 10 xử phạt Nguyễn Văn H 03 năm 03 tháng tù về tội: “Cướp giật tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/9/2021. Nộp án phí ngày 23/4/2020. Bị cáo chưa được xóa án tích đến ngày 08/9/2023 lại phạm tội mới, lần này phạm tội thuộc trường hợp tái phạm. Ngoài ra bị cáo H còn phạm tội nhiều lần nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng theo các điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn H là nguy hiểm, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản, gây mất an ninh trật tự tại địa phương.
Các bị cáo có nhân thân xấu:
Năm 2014 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân xử phạt Nguyễn Văn T 01 năm 06 tháng tù về tội: “Cướp giật tài sản”.
Năm 2011 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Nguyễn Văn H 01 năm 06 tháng tù về tội: “Cướp giật tài sản”. Năm 2014 của Tòa án nhân dân quận Bình Tân xử phạt Nguyễn Văn T 03 năm tù về tội: “Cướp giật tài sản".
Các bị cáo đã được Nhà nước đưa đi giáo dục trong nhiều năm nhưng không sửa chữa thành người có ích cho xã hội. Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo để răn đe, phòng ngừa và chống tội phạm. Bản án xử các bị cáo phải có tác dụng cải tạo và giáo dục, đồng thời làm gương cho những người khác.
Tuy nhiên, khi lượng hình cũng xem xét các tình tiết: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối, tài sản được thu hồi để trả lại cho người bị hại, phạm tội nhưng gây hậu quả không lớn, bị cáo T chưa tiền án, tiền
6
sự ..... nên xem xét cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo các điểm h, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
- Đối với 01 điện thoại di dộng hiệu Samsung A9 màu hồng, số ImeI 359933096364004/359934096364002. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã trả cho người bị hại chị Nguyễn Thị Thùy H1 (Bút lục số 127).
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Vsmart màu trắng đen; 01 điện thoại di động hiệu InFinix màu cam đen. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã giao trả lại cho anh Trương Văn C2 (bút lục 41-45, 81, 99).
Trong quá trình điều tra, người bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Luvias màu đen, biển số 71L1-007.21.sm: 44S1025637; Sk: RLCL44S10AY025629, do chị Võ Thị Thúy H3 đứng tên chủ sở hữu. Khoảng tháng 8/2014 chị H3 bán xe mô tô trên cho người bạn tên C3 (không rõ lai lịch) chưa làm thủ tục sang tên. Nguyễn Văn H khai đã mua xe mô tô trên của một cửa hàng mua bán xe cũ trên địa bàn quận B. Ngày 08/9/2023 H và T sử dụng làm phương tiện gây án. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã đăng báo tìm chủ sở hữu nhưng chưa có kết quả.
Vì vậy cần giao cơ quan Thi hành án dân sự Quận 12 thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để xác định chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đối với xe mô tô nêu trên. Nếu xác định được chủ sở hữu, hoặc người quản lý hợp pháp thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì tịch thu, sung quỹ nhà nước.
-Đối với hành vi Nguyễn Văn H trộm cắp tài sản 02 điện thoại di động của chị Nguyễn Thị Huỳnh N vào ngày 29/3/2024, tại quán nước địa chỉ số F Hồ V, khu phố A, phường B, quận B. Qua khảo sát thị trường 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO màu xanh trắng có giá 400.000 đồng. 01 điện thoại hiệu Realme màu xanh có giá 300.000 đồng, tổng giá trị 02 điện thoại là 700.000 đồng. Ngày 19/6/2019 của Tòa án nhân dân Quận 10 xử phạt Nguyễn Văn H 03 năm 03 tháng tù về tội: “Cướp giật tài sản” theo bản án hình sự sơ thẩm số 34/2019/HSST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/9/2021, nộp án phí ngày 23/4/2020.
Tại điểm b khoản 2 Điều 70 Bộ luật hình sự quy định đương nhiên được xóa án tích 02 năm trong trường hợp bị phạt tù đến 05 năm. Bị cáo chấp hành xong hình phạt chính, chấp hành xong hình phạt bổ sung, đã đóng án phí nên đến ngày 01/10/2023 bị cáo đương nhiên được xóa tích. Vì vậy, hành vi trộm cắp tài sản 02 điện thoại di động ngày 28/3/2024 có tổng giá trị 700.000 chưa cấu thành phạm tội theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Ngày
7
02/4/2024, Công an quận B ban hành Quyết định xử phạt hành chính số BH00139/QĐ-XPHC (BL 143- 144 ) với số tiền 2.500.000 đồng về hành vi nêu trên đối với Nguyễn Văn H là đúng quy định.
-Đối với 01 USB là thiết bị lưu trữ hình ảnh liên quan vụ trộm cắp tài sản, tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
1/ Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/01/2024.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 Điều 51; các điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
2/ Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/4/2024.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Giao cơ quan Thi hành án dân sự Quận A: Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để xác định chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp đối với: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Luvias màu đen, biển số 71L1-007.21. SM: 44S1025637; SK: RLCL44S10AY025629 (xe đã qua sử dụng). Sau thời hạn 4 (bốn) tháng kể từ ngày đăng số báo đầu tiên, nếu xác định được chủ sở hữu, hoặc người quản lý hợp pháp thì trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, nếu không xác định được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì tịch thu, sung quỹ Nhà nước.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 180/QĐ-VKS ngày 24/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh).
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm mỗi người là 200.000 đồng.
Các bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ. Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 1 tháng, kể từ ngày tuyên án.
8
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ma Văn Nhất |
Bản án số 302/2024/HSST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 302/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
