Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TP. VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 302/2024/HS-ST

Ngày 19/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hồ Sỹ Tiến

Ông Đặng Song Hoàn

- Thư ký phiên toà: Ông Khuất Cao Hoàng – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thu Hương – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 233/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 328/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

TÔN ĐỨC THANH, sinh năm 2001 tại Bà Rịa - Vũng Tàu;

Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: 1000/24 đường C, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Cha: Tôn Thất B, sinh năm 1969 (đã mất); Mẹ: Lương Thị Đ, sinh năm 1978; Có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai;

- Tiền án, tiền sự: không.

- Bị bắt ngày 13/11/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V (có mặt).

Bị hại: Anh Phạm Thanh P, sinh năm 1990; Địa chỉ: số C T, phường H, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Dương Phú P1, sinh năm 1992; Địa chỉ: Ấp K, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Người làm chứng: Anh Đỗ Dũng A, sinh năm 1995; Địa chỉ: Ấp L, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

2

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Từ ngày 28/10/2023 đến ngày 02/11/2023, Tôn Đức T thuê xe ô tô HYUNDAI ACCENT biển số 65A-293.48 của anh Phạm Thanh P, sinh năm 1990, trú tại: số C T, phường H, thành phồ V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) để đi lại với giá 700.000 đồng trong một ngày. Khi hết hợp đồng thuê xe, do cần tiền nên Tôn Đức T nảy sinh ý định tiếp tục thuê xe ô tô HYUNDAI ACCENT biển số 65A-293.48 của anh Phạm Thanh P mục đích đem đi cầm cố lấy tiền tiêu xài. Vào ngày 02/11/2023, sau khi trả tiền thuê xe trước đó, đồng thời T xin tiếp tục thuê xe dài ngày thì được anh Phạm Thanh P đồng ý và ký kết hợp đồng cho thuê xe với T trong thời gian từ ngày 02/11/2023 đến ngày 22/11/2023 với giá thuê là 10.000.000 đồng. Sau khi anh Phạm Thanh P giao xe thì ngày 03/11/2023, T chạy xe đến xã B, huyện X gặp Đỗ Dũng A (sinh năm 1995, là con dì ruột của T, hiện đang làm công nhân tại cửa hàng X), nói bản thân đang cần tiền để giải quyết công việc riêng nên hỏi Đỗ Dũng A để vay số tiền 100.000.000 đồng, do Dũng A không có tiền nên giới thiệu người quen cho T vay tiền. Đến trưa cùng ngày Đỗ Dũng A và Tôn Đức T đến gặp anh Dương Phú P1 (sinh năm 1992; HKTT: Ấp K, xã B, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu) thì anh P1 nói do mới biết Tôn Đức T nên anh P1 không dám cho Tôn Đức T vay số tiền như trên, nên Đỗ Dũng A nói sẽ đứng ra lấy uy tín bảo lãnh để anh P1 cho Tôn Đức T vay tiền. Tôn Đức T nói với anh Dương Phú P1 hiện có chiếc xe ô tô HYUNDAI ACCENT biển số 65A-293.48 Thanh đang đi là xe của công ty nơi Tôn Đức T đang làm việc, T sẽ để lại cho anh Dương Phú P1 làm tin thì anh P1 đồng ý cho Tôn Đức T vay số tiền 100.000.000 đồng. Anh P1 nói sẽ đưa tiền mặt 10.000.000đ và chuyển số tiền 90.000.000₫ qua tài khoản số 0691000404271 của Đỗ Dũng A để Đỗ Dũng A đưa cho Tôn Đức T. Sau khi đã nhận đủ số tiền 100.000.000 đồng từ anh Dương Phú P1, Tôn Đức T đã sử dụng hết số tiền trên.

Đến thời gian như đã hứa mà Tôn Đức T không có tiền trả lại anh Dương Phú P1, anh Phú P1 liên hệ với anh Thanh P để hỏi về chiếc xe nên anh Thanh P mới biết về việc T đã cầm chiếc xe của mình. Liên lạc với T yêu cầu T đem xe về trả nhưng T báo không có tiền để chuộc, anh Thanh P báo cơ quan chức năng. Biết không thể có tiền để trả cho anh Phú P1, chuộc xe để trả xe cho anh Thanh P, Tôn Đức T đã đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đầu thú về hành vi phạm tội của mình.

Bản kết luận định giá tài sản số: 178/KL – HĐĐG – TTHS ngày 24/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản Tố tụng Hình sự thành phố V, kết luận: 01 (một) chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai biển số 65A-293.48; Số khung; RLUA 741BBMN057066; Số máy: G4LCLLF723225 có giá trị: 410.200.460₫ (Bốn trăm mười triệu, hai trăm ngàn bốn trăm sáu mươi đồng).

* Việc thu giữ và xử lý vật chứng bao gồm:

- Vật chứng đã thu và xử lý:

+ 01 (một) chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai biển số 65A – 293.48; Số khung; RLUA 741BBMN057066; Số máy: G4LCLLF723225 do chị Phạm Lê Huỳnh A1, sinh năm 1996; HKTT: số C T, phường H, Thành phố V là chủ xe, cũng là em ruột

3

của anh Phạm Thanh P. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố V đã ra quyết định trả lại xe trên cho chị Huỳnh A1 (Theo quyết định xử lý đồ vật, tài liệu số 182/QĐ-Đ3 ngày 18/12/2023);

* Về trách nhiệm dân sự:

- Anh Phạm Thanh P yêu cầu bị cáo Tôn Đức T có trách nhiệm bồi thường số tiền 10.000.000 đồng (tiền hợp đồng thuê xe). Tuy nhiên, sau đó anh Thanh P đã có đơn xin bãi nại, rút toàn bộ yêu cầu đối với Tôn Đức T do các bên đã thống nhất thỏa thuận và đã giải quyết xong với nhau về việc bồi thường thiệt hại nên không yêu cầu gì thêm.

- Anh Dương Phú P1 yêu cầu bị cáo Tôn Đức T có trách nhiệm trả lại số tiền 100.000.000 đồng đã cho bị cáo T vay.

* Bản cáo trạng số 206/CT-VKSVT ngày 18/7/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu đã truy tố bị cáo Tôn Đức T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vũng Tàu giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Tôn Đức T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, đồng thời đề nghị:

Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 10 (mười) đến 11 (mười một) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong nên đề xuất không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự:

- Chiếc xe bị cáo chiếm đoạt đã thu hồi, anh Thanh P không yêu cầu bồi thường, không yêu cầu bị cáo trả tiền thuê xe do đã giải quyết xong (tại tòa mẹ bị cáo và bị cáo cho biết đã thực hiện bồi thường cho anh Thanh P 05 triệu đồng, được anh Thanh P làm đơn bãi nại, nên không đề xuất xem xét.

- Buộc bị cáo Tôn Đức T có trách nhiệm trả lại cho anh Dương Phú P1 số tiền 100.000.000 đồng.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng và ý kiến luận tội của Viện kiểm sát. Không có ý kiến tranh luận, bào chữa cho hành vi phạm tội của mình, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

4

[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tòa án đã triệu tập nhưng anh Phạm Thanh P, Dương Phú P1, Đỗ Dũng A nhưng những người này vắng mặt – có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, đã có lời khai của những người tham gia tố tụng này trong hồ sơ vụ án. Việc vắng mặt những người trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự, xét xử vắng mặt anh Phạm Thanh P, Dương Phú P1, Đỗ Dũng A.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Căn cứ lời khai của bị cáo tại phiên tòa, đối chiếu lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận định giá và các chứng cứ, tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa là phù hợp, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Từ ngày 28/10/2023 đến ngày 02/11/2023 Tôn Đức T thuê xe ô tô HYUNDAI ACCENT biển số 65A-293.48 của anh Phạm Thanh P để đi lại. Sau khi hết hợp đồng thuê xe, do cần tiền, T đã nảy sinh ý định tiếp tục thuê xe ô tô HYUNDAI ACCENT biển số 65A-293.48 của anh Phạm Thanh P để đem đi cầm cố lấy tiền xử lý công việc riêng. Thực hiện ý định, ngày 02/11/2023, T báo anh Thanh P để tiếp tục thuê xe, sau đó đem xe cầm cố cho anh Dương Phú P1 để lấy số tiền 100.000.000 đồng tiêu xài cá nhân. Trước đây, quá trình điều tra, bị cáo có khai dùng số tiền 100 triệu đồng này để tiêu xài ăn chơi với Đỗ Dũng A. Nhưng tại phiên tòa, bị cáo xác định và khẳng định, dùng 100 triệu đồng này để trả nợ cho Đỗ Dũng A.

Ngày 13/11/2023, Tôn Đức T không có tiền trả lại anh Dương Phú P1 để chuộc lấy lại chiếc xe đã thuê của anh Phạm Thanh P, anh Thanh P đã trình báo sự việc đến cơ quan chức năng. Biết mình không có khả năng trả tiền cho anh Phú P1 để chuộc xe trả cho anh Thanh P, ngày 13/11/2023 Tôn Đức T và anh Thanh P đã đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V đầu thú, trình báo về sự việc, hành vi phạm tội.

Xét thấy, do cần tiền tiêu xài xử lý công việc riêng, bị cáo đã tạo ra những điều kiện không đúng để anh Phạm Thanh P tin tưởng mà giao chiếc xe ô tô HYUNDAI ACCENT biển số 65A-293.48 cho bị cáo như: bị cáo đã nói dối về nhu cầu cần xe để di chuyển nhưng thực chất thuê xe để cầm cố. Bị cáo đã biết rõ quyền và nghĩa vụ của mình đối với chiếc xe (người thuê xe), không phải là chủ sở hữu chiếc xe, biết rõ bản thân không có nguồn tiền nào để có thể khắc phục các nghĩa vụ dân sự nếu có phát sinh như đã cam kết với anh Phú P1 và anh Thanh P nhưng đã mang cầm cố xe thuê cho anh Phú P1 để vay số tiền 100 triệu đồng. Sau khi có tiền đã tiêu xài hết, cho đến nay vẫn không có khả năng thanh toán tiền vay và các nghĩa vụ cho anh Phú P1 và Thanh P. Tuy chiếc xe mà bị cáo thuê rồi đem cầm cố, chiếm đoạt, nay anh Thanh P đã nhận được nhưng là do các cơ quan chức năng đi xác minh và thu hồi. Xét tài sản mà bị cáo chiếc đoạt là giá trị chiếc xe theo định giá là 410.200.460đ của anh Phạm Thanh P. Hành vi đã thực hiện này của bị cáo, đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo điểm a khoản 3 Điều 174 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố.

Ngoài hành vi lừa đảo để chiếm đoạt giá trị chiếc xe của anh Thanh P như đã đánh giá ở trên, bị cáo còn thực hiện hành vi cầm cố chiếc xe này cho anh Phú P1 để

5

lấy số tiền 100 triệu đồng đến nay cũng chưa hoàn trả. Tuy nhiên, do vào thời điểm bị cáo cầm chiếc xe này cho anh Dương Phú P1, bị cáo đã nói rõ và anh Phú P1 biết rõ tài sản này không phải của bị cáo. Nên không xác định hành vi này của bị cáo có dấu hiệu của vi phạm về hình sự, bị cáo phải thực hiện nghĩa vụ dân sự đối với anh Phú P1.

Các vấn đề khác của bị cáo có liên quan đến Đỗ Dũng A, đến Dương Phú P1, quan hệ giao dịch vay tiền lập với nhau, quá trình điều tra chưa rõ nhưng tại phiên tòa, bị cáo đã trình bày và khẳng định: mọi hành vi của bị cáo (thuê xe, cầm cố xe) là do chính bị cáo thực hiện, không liên quan đến ai, không liên quan đến Dũng A, không do ai tác động ép buộc. Số tiền có được sau khi cầm cố xe, bị cáo đã sử dụng cho mình hết và theo ý chí của chính bị cáo. Các giao dịch dân sự với anh Dương Phú P1 và Đỗ Dũng A không liên quan đến hành vi tội phạm này hoặc hành vi vi phạm nào, bị cáo không có ý kiến, không đề nghị xem xét về các giao dịch này nên không xem xét.

[3] Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội; bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối để người bị hại tin tưởng giao tài sản sau đó chiếm đoạt. Số tiền chiếm đoạt lớn. Do đó, cần tuyên một hình phạt tương xứng, phù hợp với hành vi, mức độ phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời bảo đảm phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú; bị hại là anh Phạm Thanh P có đơn đề nghị không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Do gia đình, bị cáo và anh Thanh P đã thỏa thuận được với nhau về bồi thường (tại phiên tòa, gia đình và bị cáo xác nhận đã thương lượng và đã bồi thường 05 triệu đồng cho anh Thanh P). Ngoài ra, trong thời gian là Chiến sĩ, Đại đội 1, Tiểu đội 1, Trung đoàn C, Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động, bị cáo Tôn Đức T đã được Giám đốc Công an tỉnh B tặng Giấy khen đã có thành tích xuất sắc trong công tác phối hợp đảm bảo an ninh trật tự trước, trong và sau Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022 trên địa bàn tỉnh Bình Dương (theo Quyết định số 56/QĐ-CAT-PX03 ngày 15/3/2022). Do đó áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5] Về vật chứng: Đã giải quyết xong, không ai có ý kiến yêu cầu gì nên không xem xét.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

- Chiếc xe bị cáo chiếm đoạt đã thu hồi, anh Phạm Thanh P không yêu cầu bồi thường gì về xe, không yêu cầu bị cáo trả tiền thuê xe là 10.000.000đ, xác định đã giải quyết xong với nhau về trách nhiệm dân sự, bồi thường. Tại phiên tòa, gia đình và bị cáo xác nhận đã thương lượng và đã bồi thường 05 triệu đồng cho anh Thanh P (BL 110), nên không xem xét.

- Buộc bị cáo Tôn Đức T có trách nhiệm trả lại cho anh Dương Phú P1 số tiền 100.000.000 đồng.

6

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Tôn Đức T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

1. Về hình phạt:

- Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt Tôn Đức T 07 (bảy) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

2. Về trách nhiệm dân sự:

Buộc bị cáo Tôn Đức T có trách nhiệm trả lại cho anh Dương Phú P1 số tiền 100.000.000₫ (một trăm triệu đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chưa thực hiện xong nghĩa vụ bồi thường khoản tiền trên, thì bên phải thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

3. Vật chứng: đã giải quyết xong, không ai có ý kiến yêu cầu gì nên không xem xét.

4. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 5.000.000đ (năm triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

5. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm. Riêng bị hại, những người có quyền kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Sĩ Tiến Đặng Song Hoàn Nguyễn Thị Thanh H

7

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - VKSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu;
  • - Công an tỉnh BR-VT (PV06, PC10);
  • - VKSND thành phố Vũng Tàu;
  • - Công an thành phố Vũng Tàu;
  • - Chi cục THADS thành phố Vũng Tàu;
  • - Nhà tạm giữ Công an thành phố Vũng Tàu;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Văn thư, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 302/2024/HS-ST ngày 19/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về hình sự: lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 302/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VŨNG TÀU, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LỪA DẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger