Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 302/2024/DS-PT

Ngày 29-11-2024

V/v tranh chấp đòi lại tài sản

là quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Thăng

Các Thẩm phán:Bà Trương Thị Thảo

Bà Nguyễn Thị Lệ Trang

- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Tuấn Minh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Đình Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 234/2024/TLPT-DS ngày 11 tháng 10 năm 2024, về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 44/2024/DS-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 253/2024/QĐ-PT ngày 11 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 720/2024/QĐ-PT ngày 11 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Số nhà E, tổ A, khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện hợp pháp của ông H: Ông Mai Long Đ, sinh năm 1978. Địa chỉ: Số D, đường H, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai và ông Trần Quốc B, sinh năm 1976. Địa chỉ: Số nhà I, đường số D, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh (Theo văn bản ủy quyền ngày (05/6/2023).

- Bị đơn: Bà Phan Thị Mỹ T, sinh năm 1971.

Địa chỉ: Tổ D, ấp V, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện hợp pháp của bà T: Ông Phạm Đình Đ1, sinh năm 1956. Địa chỉ: Số G, đường H, khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Theo văn bản ủy quyền ngày 26/9/2023).

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà Phan Thị Mỹ T:

  1. Luật sư Nguyễn Đ2 – Đoàn luật sư tỉnh Đ.
  2. Luật sư Nguyễn Thành T1 – Đoàn luật sư thành phố H.
  3. Luật sư Nguyễn Duy T2 – Đoàn luật sư tỉnh Đ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Trần Thị Đ3, sinh năm 1947.
  2. Tổ 4, ấp V, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

    Người đại diện hợp pháp của bà Đ3: Ông Phạm Đình Đ1, sinh năm 1956. Địa chỉ: Số G, đường H, khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Theo văn bản ủy quyền ngày 26/9/2023).

  3. Ông Phạm Đức V, sinh năm 1975.
  4. Anh Phạm Thanh D, sinh năm 2002.
  5. Chị Phạm Phan Thị Kim T3, sinh năm 2003.
  6. Cùng địa chỉ: Tổ D, ấp V, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

  7. Bà La Ngọc T4, sinh năm 1985.
  8. Địa chỉ: Số nhà E, tổ A, khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

  9. Bà Trần Thị K, sinh năm 1953.
  10. Địa chỉ: Ấp V, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

    Địa chỉ hiện nay: 4006 W 5th St A S, CA 92703, USA (Hoa Kỳ).

    Người đại diện hợp pháp của bà K: Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1980. Địa chỉ: Số nhà E, tổ A, khu phố C, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (Theo văn bản ủy quyền ngày 29/11/2023).

Ông Mai Long Đ, ông Phạm Đình Đ1, anh Phạm Thanh D, chị Phạm Phan Thị Kim T3, ông Nguyễn Thanh H, bà La Ngọc T4, luật sư Nguyễn Đ2, luật sư Nguyễn Thành T1 có mặt; ông Trần Quốc B, luật sư Nguyễn Duy T2 vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo án sơ thẩm, phía nguyên đơn – ông Nguyễn Thanh H, trình bày:

Nguồn gốc thửa đất số 194, tờ bản đồ số 13, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai là của cha mẹ ông H - ông Nguyễn Văn T5 (chết năm 2020) và bà Trần Thị Kim . Ông T5, bà K được Ủy ban nhân dân huyện V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng số AÐ196874 ngày 11/9/2006 (cấp đổi từ giấy chứng nhận cũ số K 292675 ngày 27/6/1997).

Ngày 20/7/2017, ông T5, bà K ký hợp đồng tặng cho ông H quyền sử dụng đối với thửa đất này. Ngày 04/8/2017, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh V1 cập nhật biến động sang tên cho ông H.

Vào năm 2007, bà Phan Thị Mỹ T (là cháu ruột của bà K) có hoàn cảnh khó khăn nên được các mạnh thường quân hỗ trợ xây 01 căn nhà tình thương. Thời điểm đó, do bà T không có đất nên ông T5, bà K cho một phần đất có diện

tích dài 8m x ngang 4m trong thửa đất số 194 để các mạnh thường quân xây nhà tình thương cho bà T.

Khi cho đất, ông T5 và bà K có làm giấy xác nhận, nội dung: “cho cháu ở thời hạn 30 năm”. Trong quá trình quản lý, sử dụng nhà tình thương thì có hai lần vào năm 2012 và năm 2017, bà T xây dựng thêm mỗi lần khoảng 32m² đất. Khi bà T xây, bà K và ông H không biết. Khi bà T xây xong thì bà K, ông H nới biết nhưng không có ý kiến gì vì cũng muốn tạo điều kiện thuận lợi để họ hàng có cuộc sống tốt hơn.

Đến năm 2023, thời hạn cho đất 30 năm chưa hết, tuy nhiên cũng đã hơn 17 năm là quá một nửa thời hạn thỏa thuận. Trong khi đó, do có nhu cầu cấp bách sử dụng nên ông H khởi kiện, đòi bà T trả lại toàn bộ diện tích 198,3m² đất mà bà T đang sử dụng. Ông H tự nguyện hỗ trợ cho bà T số tiền 300.000.000₫ (ba trăm triệu đồng) tương ứng với giá trị tài sản gắn liền với phần diện tích đất này.

Phía bị đơn - bà Phan Thị Mỹ T, trình bày:

Bà Trần Thị Đ3 là mẹ của bà T, đã sinh sống trên thửa đất số 194, tờ bản đồ số 13, xã T, huyện V từ trước năm 1975. Do bà T có hoàn cảnh khó khăn nên bà Trần Thị K (là dì ruột của bà T) và ông Nguyễn Văn T5 đồng ý cho một phần đất có diện tích dài 8m x ngang 4m là một phần thửa đất để các mạnh thường quân xây dựng nhà tình thương. Việc cho đất xây nhà tình thương có lập văn bản, thời hạn cho đất là 30 năm.

Năm 2012, do nhà tình thương chật hẹp nên bà T xây dựng thêm 01 gian nhà kế bên nhà tình thương và đến năm 2017 tiếp tục xây dựng thêm vì bà K có cho bà Đ3 (theo giấy tay ngày 12/01/2017) một phần đất diện tích 40m², đồng thời bà Đ3 có đưa cho bà Kim 11.000.000đ (mười một triệu đồng) như là tiền mua thêm đất. Việc bà T xây dựng thêm các gian nhà thì bà K cũng như ông H có biết nhưng không phản đối.

Nay ông H khởi kiện, yêu cầu bà T trả lại phần đất có diện tích 198,3m² thì bà T không đồng ý vì thời hạn cho mượn đất còn 13 năm, đề nghị Tòa án đình chỉ giải quyết vụ án, trả lại đơn khởi kiện cho ông H.

Ngoài ra, bà Tiên đề N Tòa án xác định Ủy ban nhân dân xã T và Ủy ban nhân dân huyện V, tỉnh Đồng Nai là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án vì khi cập nhật biến động sang tên từ ông T5 và bà K cho ông H đã không trừ diện tích nhà tình thương của bà T là không phù hợp. Việc xây dựng nhà tình thương, Ủy ban nhân dân xã T có biết và chứng kiến việc bàn giao nhà.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Trần Thị Đ3, trình bày:

Nguồn gốc thửa đất số 194, tờ bản đồ số 13, xã T, huyện V là của cha mẹ bà K (mẹ ông H) và bà Đ3 (mẹ bà T), được bà K cùng chồng là ông T5 kê khai đăng ký quyền sử dụng.

Năm 2007, do hoàn cảnh bà T khó khăn, không có nhà ở nên các mạnh thường quân và Ủy ban nhân dân xã T, huyện V hỗ trợ xây nhà tình thương trên phần đất có diện tích khoảng dài 8m x ngang 4m tại thửa đất trên với sự đồng ý

bà K, ông T5. Sau hai lần xây dựng thêm thì hiện nay phần diện tích nhà là khoảng 96m². Hiện nay bà Đ3 cũng sinh sống trên phần đất đang có tranh chấp.

Bà Đ3 không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông H vì căn nhà gắn liền với thửa đất mà gia đình bà Đ3 đang sử dụng là nhà tình thương do Ủy ban nhân dân xã T, huyện V cấp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - ông Phạm Đức V, anh Phạm Thanh D và chị Phạm Phan Thị Kim T3, trình bày:

Ông Phạm Đức V (chồng T) cùng anh Phạm Thanh D, chị Phạm Phan Thị Kim T3 (các con bà T) hiện đang sinh sống trên phần đất có tranh chấp trong vụ án. Ông V, anh D và chị T3 đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của ông H, công nhận cho bà T được quyền sử dụng phần đất có nhà tình thương và phần đất mà bà Đ3 đã mua thêm của bà K.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà La Ngọc T4, trình bày:

Bà T4 là vợ của ông H, đăng ký kết hôn năm 2006. Thửa đất số 194, tờ bản đồ số 13, xã T, huyện V là tài sản do ông H được cha mẹ cho tặng cho riêng, bà T4 không có ý kiến gì. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông H, bà T4 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Trần Thị K, trình bày:

Bà K và ông T5 (chết năm 2020) trước đây là chủ sử dụng thửa đất số 194, tờ bản đồ số 13, xã T, đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Vào năm 2007, bà T (cháu gọi bà K bằng dì ruột) từ An Giang đến V lập nghiệp. Do bà T có hoàn cảnh khó khăn nên bà K, ông T5 đồng ý cho một phần diện tích dài 8m x ngang 4m thuộc thửa đất trên để được các mạnh thường quân xây dựng nhà tình thương.

Sau đó, khoảng năm 2012 và năm 2017, lợi dụng gia đình bà K không sinh sống trên đất, bà T đã tự ý xây dựng thêm hai gian nhà nối liền với phần nhà tình thương đã xây vào năm 2007. Bà K nhiều lần nhắc nhở thì bà T có hứa hẹn sẽ tháo dỡ phần nhà xây thêm này. Vì là chỗ quan hệ họ hàng nên bà K cũng không làm đơn đề nghị chính quyền địa phương giải quyết.

Ngày 20/7/2017, ông T5, bà K ký hợp đồng tặng cho ông H quyền sử dụng đối với thửa đất, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh V1 đã cập nhật biến động vào ngày 04/8/2017.

Giấy tờ, tài liệu viết tay phía bà Tiên cung C cho rằng bà K đã bán thêm đất là do bà T tạo lập, bà K không thừa nhận, đề nghị Tòa án xem xét.

Tại bản án sơ thẩm số 44/2024/DS-ST ngày 23-8-2024, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp kiện đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất” của nguyên đơn - ông Nguyễn Thanh H, đối với bị đơn - bà Phan Thị Mỹ T.

Buộc bị đơn - bà Phan Thị Mỹ T và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Trần Thị Đ3, ông Phạm Đức V, anh Phạm Thanh D, chị Phạm Phan Thị Kim T3 trả lại cho ông Nguyễn Thanh H diện tích 198,3m² là một phần thửa đất số 194, tờ bản đồ số 13, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai (được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 1 theo Trích lục và đo hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 2844/2023 ngày 28/11/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh V1.

2. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Thanh H về việc thanh toán cho bà Phan Thị Mỹ T số tiền 300.000.000đ (ba trăm triệu đồng).

3. Giao cho ông Nguyễn Thanh H toàn bộ tài sản, công trình gắn liền với diện tích 198,3m² là một phần thửa số 194, tờ bản đồ số 13, xã T, huyện V nói trên.

Ngoài ra, án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng khác và về quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 26/8/2024, bà Phan Thị Mỹ T có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm.

Nội dung kháng cáo: Đề nghị cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án, bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà T lập luật, cho rằng:

Trước khi tặng cho ông H thửa đất số 194, tờ bản đồ số 13, xã T thì vào năm 2007, ông T5, bà K đã đồng ý để xã tổ chức xây tặng nhà tình thương cho bà T trên một phần diện tích. Năm 2017, ông T5, bà Kim T6 cho ông H, luôn cả phần đất này.

Ủy ban nhân dân xã T ký chứng thực hợp đồng tặng cho. Tiếp đó, Ủy ban nhân dân huyện V ký chuyển tên người sử dụng đất cho ông H mà không kiểm tra hiện trạng sử dụng đất là vi phạm pháp luật, ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của bà T. Tòa án cấp sơ thẩm không triệu tập Ủy ban nhân dân xã T và Ủy ban nhân dân huyện V để làm rõ là vi phạm thủ tục tố tụng.

Việc giải quyết tranh chấp giữa ông H với bà T có liên quan đến bà K. Bà Tiên đề N triệu tập bà K tham gia tố tụng để đối chất về một số tình tiết của vụ án nhưng Tòa án không triệu tập là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Theo thỏa thuận của ông T5, bà K vào năm 2007 thì thời gian ông bà cho đất là 30 năm. Năm 2023 chưa hết thời hạn 30 năm nhưng ông H đã khởi kiện đòi bà T trả đất là trái với ý chí của ông T5, bà K1 và chưa đủ điều kiện khởi kiện, không có cơ sở chấp nhận.

Nhà tình thương trên đất tranh chấp là tài sản của bà T, do Ủy ban nhân dân xã T xây tặng. Khi giải quyết yêu cầu đòi lại đất của ông H, Tòa án cấp sơ thẩm giao cả căn nhà này cho ông H là không có căn cứ pháp luật, vượt quá yêu cầu khởi kiện của ông H, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Khi buộc bà T trả đất cho ông H, Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét cho bà T có thời gian lưu trú phù hợp, không buộc ông H hỗ trợ chi phí di dời cho bà T là chưa thỏa đáng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc chấp hành pháp luật tố tụng:

Từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử tại phiên tòa, Thẩm phán chủ tọa và Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của pháp luật. Các đương sự tham gia phiên tòa đảm bảo đúng thủ tục, quyền, nghĩa vụ theo quy định.

Về việc giải quyết vụ án:

Thửa đất số 194, tờ bản đồ số 13, xã T, huyện V có nguồn gốc là của cha mẹ ông H là ông Nguyễn Văn T5 (chết năm 2020) và bà Trần Thị Kim .

Năm 2007, ông T5, bà K cho cháu là Phan Thị Mỹ T mượn diện tích 32m² (dài 8m x ngang 4m) để các mạnh thường quân xây dựng nhà tình thương cho bà T. Ngoài ra, ông bà còn cho mượn thêm 5m² để bà T xây công trình phụ, nhà vệ sinh và nhà bếp. Thời hạn cho mượn là 30 năm.

Năm 2017, ông T5, bà Kim T6 cho con trai là ông H quyền sử dụng toàn bộ thửa đất này. Cơ quan có thẩm quyền đã chỉnh lý sang tên người sử dụng đất cho ông H.

Quá trình sử dụng đất, bà T lấn ra bên ngoài phần được cho mượn với diện tích khá lớn. Ngoài ra, do có nhu cầu bức thiết, năm 2023, ông H khởi kiện yêu cầu bà T trả lại toàn bộ diện tích đất đang sử dụng.

Việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H là có căn cứ, đúng pháp luật. Kháng cáo của bà T không có cơ sở chấp nhận, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng:

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Trần Quốc B, luật sư Nguyễn Duy T2 có đơn xin xét xử vắng mặt, ông Phạm Đức V đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, căn cứ quy định của pháp luật, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với luật sư T2 và ông B, ông V.

[2] Về kháng cáo của bà Phan Thị Mỹ T:

Hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa cho thấy, thửa đất số 194, tờ bản đồ số 13, xã T, huyện V có nguồn gốc là của ông Nguyễn Văn T5 (chết năm 2020) và bà Trần Thị K, đã được Ủy ban nhân dân huyện V cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng.

Ngày 19/01/2007, ông T5, bà Kim L “Giấy xác nhận”, cho cháu là Phan Thị Mỹ T một nền nhà có diện tích 32m² (dài 8m x ngang 4m) để các mạnh thường quân xây dựng nhà tình thương cho bà T. Ngoài ra, ông bà còn cho thêm

5m² để bà T xây công trình phụ, nhà vệ sinh và nhà bếp. Thời hạn cho ở là 30 năm. Như vậy, “Giấy xác nhận” này thể hiện ý chí của ông T5, bà K là cho bà T mượn đất có thời hạn. Chính bà T cũng cho rằng, đến nay thời hạn cho ở nhờ trên đất 30 năm vẫn chưa hết.

Ngày 20/7/2017, ông T5, bà K ký hợp đồng tặng cho con trai là ông H quyền sử dụng đối với toàn bộ thửa đất. Ngày 04/8/2017, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh V1 đã cập nhập biến động, sang tên cho ông H.

Do chỉ cho bà T mượn đất có thời hạn để Ủy ban nhân dân xã tổ chức xây tặng nhà tình thương nên ông T5, bà K làm “Giấy xác nhận” mà không làm thủ tục tách thửa, sang tên quyền sử dụng đất cho bà T. Ông T5, bà K vẫn là người có trọn quyền của người sử dụng đối với toàn bộ thửa đất. Sau khi được tặng cho, ông H kế thừa mọi quyền và nghĩa vụ của ông T5, bà K đối với thửa đất theo quy định của pháp luật.

Việc Ủy ban nhân dân xã T ký chứng thực hợp đồng tặng cho, sau đó cơ quan có thẩm quyền ký xác nhận sang tên người có quyền sử dụng đất cho ông H là thủ tục hành chính về đất đai. Thủ tục này được tiến hành đúng trình tự, thủ tục, không sai lệch với thực tế thửa đất, không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người thứ ba. Tòa án không đưa Ủy ban nhân dân xã T và Ủy ban nhân dân huyện V vào tham gia tố tụng là đúng quy định của pháp luật.

Trong vụ án này, bà K đã được Tòa án cấp sơ thẩm xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Bà K có văn bản trình bày ý kiến và ủy quyền cho ông H làm đại diện tham gia tố tụng. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận việc ủy quyền của bà K là đúng quy định của pháp luật, không vi phạm thủ tục tố tụng.

Sau khi được cho mượn đất, bà T sử dụng lấn ra bên ngoài với diện tích khá lớn. Năm 2023, do có nhu cầu cấp thiết, ông H yêu cầu bà T trả lại toàn bộ diện tích đất thực tế đang sử dụng là 198,3m². Đồng thời, ông H yêu cầu bà T tháo dỡ phần công trình lấn ra bên ngoài ranh cho mượn để trả đất cho ông H. Theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia ban hành kèm theo Thông tư số 12/2012/TT-BXD ngày 28/12/2012 của Bộ X thì công trình nhà ở cấp IV có niên hạn sử dụng dưới 20 năm. Đến ngày Tòa án cấp sơ thẩm xét xử vụ án, niên hạn sử dụng căn nhà tình thương của bà T cũng không còn nhiều. Căn cứ quy định tại Điều 499 của Bộ luật Dân sự, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H là có căn cứ. Pháp luật không quy định ông H phải chịu trách nhiệm về chi phí di dời của bà T.

Khởi kiện bà T, ông H đòi đất chứ không đòi căn nhà tình thương trên đất. Tuy nhiên, do thời hạn mượn đất chưa hết và căn nhà tình thương vẫn còn giá trị sử dụng nên khi chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H thì Tòa án cần buộc ông H nhận căn nhà, đồng thời, buộc ông H thanh toán giá trị căn nhà cho bà T. Do ông H tự nguyện nhận và thanh toán giá trị căn nhà cho bà T, Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận sự tự nguyện này là phù hợp quy định của pháp luật. Đối với những phần công trình xây cất lấn ra ngoài diện tích được cho mượn, lẽ ra bà T phải tự tháo dỡ để trả đất cho ông H. Tòa án cấp sơ thẩm ghi nhận sự tự nguyện

của ông H, nhận và thanh toán giá trị phần xây cất này cho bà T là tránh được lãng phí, có lợi cho bà T.

Như vậy, yêu cầu kháng cáo của bà T là không có cơ sở chấp nhận. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, qua ý kiến trình bày của các bên có thể xác định, ngoài chỗ ở hiện nay, phía bà T không còn chỗ ở nào khác tại địa phương. Để trả lại đất cho ông H, bà T cần có thời gian nhất định để tìm kiếm, tạo lập chỗ ở khác. Đây là tình tiết mới được làm rõ, vì vậy, Hội đồng xét xử sửa Bản án sơ thẩm, quyết định cho bà T và những người liên quan về phía bà T được quyền lưu cư trong một thời gian hợp lý.

[3] Về án phí

Bà Phan Thị Mỹ T phải chịu án phí sơ thẩm, không phải chịu án phí phúc thẩm, được hoàn trả tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp.

[4] Về chi phí tố tụng

Tổng số tiền chi phí tố tụng 36.434.880đ (ba mươi sáu triệu bốn trăm ba mươi bốn nghìn tám trăm tám mươi đồng), ông Nguyễn Thanh H tự nguyện chịu (ông H đã thanh toán đủ).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015,

Sửa Bản án sơ thẩm số 44/2024/DS-ST ngày 23-8-2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu vì cấp phúc thẩm xác định, làm rõ được tình tiết mới.

Căn cứ các điều 165, 166, 499 của Bộ luật dân sự; Điều 166 của Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh H.

Buộc bị đơn - bà Phan Thị Mỹ T và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - bà Trần Thị Đ3, ông Phạm Đức V, anh Phạm Thanh D, chị Phạm Phan Thị Kim T3, trả lại cho ông Nguyễn Thanh H diện tích 198,3m² đất là một phần của thửa số 194, tờ bản đồ số 13, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai. Đất được giới hạn bởi các điểm mốc: (1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 1), theo Trích lục và đo hiện trạng thửa đất bản đồ địa chính số 2844/2023 ngày 28/11/2023 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh V1.

Bà Phan Thị Mỹ T, bà Trần Thị Đ3, ông Phạm Đức V, anh Phạm Thanh D, chị Phạm Phan Thị Kim T3 được quyền lưu cư trong thời hạn 06 (sáu) tháng kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật để sắp xếp nơi ở mới.

2. Giao cho ông Nguyễn Thanh H được quyền sở hữu toàn bộ tài sản, công trình gắn liền với diện tích 198,3m² đất là một phần của thửa số 194, tờ bản

đồ số 13, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai nêu trên. Chi tiết tài sản, công trình trên đất được mô tả trong Chứng thư thẩm định giá số 100/2024/TĐG-CT ngày 09/4/2024 của Công ty cổ phần T7.

3. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Thanh H, thanh toán cho bà Phan Thị Mỹ T số tiền 300.000.000đ (Ba trăm triệu đồng).

Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thanh toán khoản tiền nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi trên số tiền chậm trả, theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

4. Về chi phí tố tụng:

Ghi nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Thanh H về việc chịu toàn bộ chi phí tố tụng, số tiền 36.434.880đ (ba mươi sáu triệu bốn trăm ba mươi bốn nghìn tám trăm tám mươi đồng). Ông Nguyễn Thanh H đã thanh toán xong.

5. Về án phí:

Bà Phan Thị Mỹ T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, không phải chịu án phí phúc thẩm. Hoàn trả bà Phan Thị Mỹ T số tiền 300.000₫ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0009936 ngày 23/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu.

Hoàn trả ông Nguyễn Thanh H số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu tiền số 0005460 ngày 18/8/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - TAND H. Vĩnh Cửu;
  • - Chi cục THADS H. Vĩnh Cửu;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Thăng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 302/2024/DS-PT ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 302/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hùng - Tiên - tranh chấp đòi lại tài sản là quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger