TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 302/2024/DS-PT Ngày: 11/6/2024 V/v: Tranh chấp về thừa kế tài sản và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Văn Cường;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Mạnh Tiến;
Bà Phan Thị Vân Hương.
Thư ký Toà án: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai, Thẩm tra viên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Bà Lã Thị Tú Anh, Kiểm sát viên cao cấp tham gia phiên tòa.
Ngày 11 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 38/2024/TLPT-DS ngày 12 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 50/2023/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân tỉnh NĐ bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5866/2024/QĐPT-DS ngày 22 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Mai Đức T1, sinh năm 1945; địa chỉ: Tổ 41, cụm 6, phường PT, quận TH, thành phố HN. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Mai Đức T2, sinh năm 1949. Có mặt.
Bị đơn: Ông Mai Đức H1, sinh năm 1933; địa chỉ: Thôn ĐL, xã VH, huyện VB, tỉnh NĐ. Có mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của ông H1: Ông Mai Đức T3, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn ĐL, xã VH, huyện VB, tỉnh NĐ. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) huyện VB, tỉnh NĐ.
Ông Vũ Công T4, sinh năm 1934, địa chỉ: Thôn ĐB, xã ĐT, huyện VB, tỉnh NĐ.
Ông Vũ Phương C, sinh năm 1959; địa chỉ: 3/13/81 đường THL, phường VM, thành phố NĐ, tỉnh NĐ.
Bà Vũ Thị H2, sinh năm 1962; địa chỉ: Thôn N, xã YP, huyện YY, tỉnh NĐ.
Bà Vũ Thị T5, sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn ĐLB, xã NV, thành phố NĐ, tỉnh NĐ.
Bà Vũ Thị T6, sinh năm 1966; địa chỉ: Thôn ĐB, xã ĐT, huyện VB, tỉnh NĐ.
Bà Vũ Thị P1, sinh năm 1968; địa chỉ: Thôn T, xã YP, huyện YY, tỉnh NĐ.
Bà Vũ Thị H3, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn T, xã YP, huyện YY, tỉnh NĐ.
Ông Vũ Xuân H4, sinh năm 1975; địa chỉ: Số nhà 5, ngách 322/90/42 đường MĐ, tổ dân phố số 12, phường MĐI, quận NTL2, thành phố HN.
Ông Vũ Xuân T7, sinh năm 1959; địa chỉ: Tổ dân phố số 6, thị trấn ED, huyện EH, tỉnh ĐL.
Bà Vũ Thị T8, sinh năm 1961; địa chỉ: Thôn LM, xã ĐT, huyện VB, tỉnh NĐ.
Ông Vũ Quốc H5, sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn PV, xã ĐT, huyện VB, tỉnh NĐ.
Bà Vũ Thị Q1, sinh năm 1967; địa chỉ: Tổ dân phố số 11, thị trấn ED, huyện EH, tỉnh ĐL.
Bà Vũ Thị P2, sinh năm 1970; địa chỉ: Thôn TA, xã ĐT, huyện VB, tỉnh NĐ.
Bà Vũ Thị S, sinh năm 1972; địa chỉ: Tổ dân phố số 1, thị trấn ED, huyện EH, tỉnh ĐL.
Ông Vũ Văn B1, sinh năm 1976; địa chỉ: 278 GP, tổ dân phố số 05, thị trấn ED, huyện EH, tỉnh ĐL.
Ông Vũ Xuân H6, sinh năm 1967; địa chỉ: Thôn N, xã YP, huyện YY, tỉnh NĐ.
Ông Vũ Đình Q2, sinh năm 1982; địa chỉ: 36/30B khu phố ĐC, phường T12 ĐH, thành phố DA, tỉnh BD.
Bà Vũ Thị M, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn N, xã YP, huyện YY, tỉnh NĐ.
Bà Phạm Thị Thu T9, sinh năm 1979; địa chỉ: 1014/43/4 Cách mạng tháng 8, phường 5, quận TB, thành phố HCM.
Bà Phạm Thị Trang N, sinh năm 1982; địa chỉ: 109/37 ĐT, phường 6, quận TB, thành phố HCM.
Ông Phạm Anh T10, sinh năm 1984; địa chỉ: 125/26 TBT, phường 2, quận 5, thành phố HCM.
Anh Mai Đức T11, sinh năm 1973;
Ông Phạm Văn L1, sinh năm 1960;
Cùng địa chỉ: Thôn ĐL, xã VH, huyện VB, tỉnh NĐ.
Người làm chứng:
Ông Nguyễn Công L2; Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị Hợp tác xã nông nghiệp xã VH.
Ông Nguyễn Xuân T12; Chức vụ: Nguyên cán bộ địa chính xã VH.
Ông Hoàng Văn I, sinh năm 1946; địa chỉ: Thôn ĐL, xã VH, huyện VB, tỉnh NĐ.
Ông Mai Văn K1, sinh năm 1946; địa chỉ: Thôn ĐL, xã VH, huyện VB, tỉnh NĐ.
(Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt ông Vũ Công T4, anh Mai Đức T11, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác đều vắng mặt. Những người làm chứng đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện đề ngày 13-3-2023; đơn khởi kiện sửa đổi, bổ sung ngày 30-3-2023; quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn là ông Mai Đức T1 và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông T1 là luật sư Hà Đức B2 trình bày: Bố ông là cụ Mai Đức T13 (chết ngày 24-7-1998) và mẹ ông là cụ Nguyễn Thị B3 (chết ngày 27-3-1993) sinh được 07 người con gồm:
Bà Mai Thị G (chết năm 2011). Bà Mai Thị G có chồng là ông Vũ Công T4 và 07 người con gồm: Ông Vũ P1 C, bà Vũ Thị H2, bà Vũ Thị T5, bà Vũ Thị T6, bà Vũ Thị P1, bà Vũ Thị H3, ông Vũ Xuân H4.
Ông Mai Đức H1.
Bà Mai Thị K2 (chết năm 1979). Bà Mai Thị K2 07 người con là: Ông Vũ Xuân T7, bà Vũ Thị T8, ông Vũ Văn H5, bà Vũ Thị Q1, bà Vũ Thị P2, bà Vũ Thị S và ông Vũ Văn B1.
Bà Mai Thị L2 (chết năm 2006). Bà Mai Thị L2 có chồng là ông Vũ Thanh Q3 (chết năm 1998) và 03 người con là: Ông Vũ Xuân H6, ông Vũ Đình Q2 và bà Vũ Thị M.
Ông Mai Đức T1.
Bà Mai Thị T14 (chết năm 1992). Bà Mai Thị T14 có 03 người con là: Bà Phạm Thị Thu T9, bà Phạm Thị Trang N và ông Phạm Anh T10.
Ông Mai Đức B4 (là liệt sỹ hy sinh năm 1973). Ông Mai Đức B4 chưa có vợ, con.
Ngoài 07 người con có tên nêu trên thì bố mẹ ông không có người con riêng, con nuôi nào khác.
Tài sản bố mẹ ông để lại là mảnh đất với diện tích là 390m² (gồm 175m² đất ở và 215m² đất vườn) thuộc thửa đất số 3644, tờ bản đồ số 05, bản đồ giải thửa xã VH năm 1988; địa chỉ thửa đất: Thôn ĐL, xã VH, huyện VB, tỉnh NĐ (nay là thửa đất số 35, tờ bản đồ số 5PL2, bản đồ địa chính xã VH năm 2004, huyện VB, tỉnh NĐ).
Năm 1993, mẹ ông mất rồi đến năm 1998 bố ông mất. Trước khi qua đời, bố mẹ ông không lập di chúc gì cũng như chưa lập bất kỳ một văn bản nào để định đoạt đối với thửa đất số 3644, tờ bản đồ số 05 (gọi tắt là thửa đất số 3644). Sau khi bố mẹ ông qua đời thì các anh chị em ông cũng chưa lập bất kỳ một văn bản thỏa T15 nào để phân chia thửa đất số 3644 nêu trên mà bố mẹ ông để lại. Ngày 08-3-2004, ông Mai Đức H1 đã có đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất đối với 1025m² đất thuộc thửa đất số 35, tờ bản đồ số 5PL2 xã VH, huyện VB, tỉnh NĐ cho một mình ông H1. Trong hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông H1 đã giả mạo chữ ký của ông trong Biên bản phân chia thừa kế quyền sử dụng đất ngày 10-10-2005. Trên cơ sở biên bản phân chia thừa kế quyền sử dụng đất giả mạo nêu trên thì Ủy ban nhân dân huyện VB đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG604240 ngày 16-12-2005 cho ông Mai Đức H1 cùng với vợ ông H1 là bà Trần Thị B5. Việc Ủy ban nhân dân huyện VB cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông H1 khi chưa có ý kiến của ông và các chị em ông là không đúng quy định của pháp luật. Đầu năm 2023, ông H1 đã xây dựng nhà thờ, sân lát đá và đổ bê tông ngõ đi vào nhà ông H1, việc ông H1 xây dựng trên thửa đất đang tranh chấp là trái phép.
Vì vậy, ông khởi kiện và yêu cầu Toà án quyết những vấn đề như sau:
Huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG604240 ngày 16-12-2005 đứng tên ông Mai Đức H1 và bà Trần Thị B5 của Ủy ban nhân dân huyện VB, tỉnh NĐ.
Chia di sản thừa kế là quyền sử dụng 390m² đất (gồm 175m² đất ở và 215m² đất vườn) thuộc thửa đất số 3644, tờ bản đồ số 05, bản đồ giải thửa xã VH năm 1988; địa chỉ thửa đất: Thôn ĐL, xã VH, huyện VB, tỉnh NĐ (nay là thửa đất số 35, tờ bản đồ số 5PL2, bản đồ địa chính xã VH năm 2004, huyện VB, tỉnh NĐ) mà cụ T13 và cụ B3 để lại theo quy định của pháp luật. Ông xin được nhận kỷ phần thừa kế bằng hiện vật (Quyền sử dụng đất) để ông làm nơi thờ cúng bố mẹ.
Buộc ông H1 phải tháo dỡ toàn bộ các công trình đã xây dựng trên thửa đất số 3644.
* Tại bản tự khai, các biên bản hòa giải và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Mai Đức H1 và người đại diện theo ủy quyền của ông H1 là ông Mai Đức T3 trình bày: Về mối quan hệ gia đình, ngày tháng năm mất của cụ T13, cụ B3, bà G, bà K2, bà L2, bà T14, ông B4 cũng như tài sản mà cụ T13, cụ B3 để lại là thửa đất số 3644 và những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ T13 và cụ B3, những người thừa kế của các bà G, K2, L2, T14 thống nhất như nguyên đơn đã trình bày ở trên.
Khi bố, mẹ ông còn sống bố, mẹ ông có khối tài sản chung là thửa đất số 3644, tờ bản đồ số 05, bản đồ xã VH lập năm 1983, chỉnh lý năm 1988, diện tích 390m², trong đó đất thổ cư là 175m², đất thổ canh là 215m²; địa chỉ của thửa đất: Thôn ĐL, xã VH, huyện VB, tỉnh NĐ; tài sản gắn liền trên thửa đất có 03 gian nhà ở tường đắp đất, mái lợp rạ.
Ông là con trai cả trong gia đình và gia đình ông cũng có 01 thửa đất số 3645, tờ bản đồ số 05, bản đồ xã VH lập năm 1983, chỉnh lý năm 1988, diện tích 410m², trong đó đất thổ cư là 210m², đất thổ canh là 200m² ở liền kề với thửa đất số 3644 của bố, mẹ ông.
Vì ông là con trai cả trong gia đình nên khi bố, mẹ ông còn sống mặc dù bố, mẹ ông có thửa đất riêng và nhà ở riêng nhưng không có bếp riêng mà ông, bà dùng chung bếp với gia đình ông và trên thực tế thì bố, mẹ ông đã ở chung, sống chung cùng với gia đình ông và gia đình ông đã chăm sóc, nuôi dưỡng, phụng dưỡng bố, mẹ cho đến khi bố, mẹ ông qua đời và khi bố, mẹ ông già yếu hết tuổi lao động thì bố, mẹ ông đã giao cho ông phải đóng góp nghĩa vụ thuế đất cho Nhà nước về thửa đất nêu trên của bố, mẹ ông suốt từ khi ông, bà hết tuổi lao động cho đến nay.
Khi bố, mẹ ông mất ông, bà không có để lại di chúc hoặc văn bản giấy tờ gì về thửa đất số 3644 mà ông bà chỉ có dặn ông là thửa đất của các cụ sau này để làm nơi thờ tự ông, bà tổ tiên và thờ cúng liệt sỹ Mai Đức B4.
Sau khi bố, mẹ ông mất đi thì gia đình ông đã quản lý, sử dụng toàn bộ thửa đất số 3644 của bố, mẹ ông để lại và đến khoảng năm 2008 thì ngôi nhà 03 gian tường đất, mái lợp rạ của bố, mẹ ông để lại bị bão làm sập nên gia đình ông đã tháo dỡ ngôi nhà đó đi để làm vườn. Đến năm 2003, chủ trương chung của Nhà nước, của chính quyền địa phương xã VH về việc đo đạc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình đang sử dụng đất và dồn các thửa đất của các hộ gia đình đang sử dụng tại thời điểm lúc bấy giờ để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và thời điểm đó chính quyền địa phương thôn ĐL cũng như xã VH đã thiết lập hồ sơ dồn gộp thửa đất của gia đình ông và thửa đất của bố, mẹ ông để lại thành 01 thửa đất rồi gọi ông đến ký hồ sơ và sau đó gia đình ông đã được Nhà nước dồn gộp 02 thửa đất thành 01 thửa đất là thửa đất số 35, tờ bản đồ số 5-II, bản đồ xã VH lập năm 2004, diện tích 1025m², trong đó đất thổ cư là 300m², đất thổ canh là 725m² và ngày 16-12-2005, UBND huyện VB đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho thửa đất số 35 nêu trên của gia đình ông (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số 35 có số là AG604240, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: H/1397/1834/2005/QĐ-UBND, đứng tên người sử dụng đất là ông Mai Đức H1, bà Trần Thị B5) và gia đình ông đã quản lý, sử dụng ổn định thửa đất số 35 cho đến cuối năm 2022 thì ông Mai Đức T1 đã về tranh chấp thửa đất số 35 với gia đình ông. Trong quá trình gia đình ông quản lý, sử dụng thửa đất của bố mẹ ông để lại thì năm 2019 ông có cho con trai là Mai Đức T11 xây dựng 01 ngôi nhà mái bằng, diện tích khoảng 80-100m² tại phần diện tích đất của bố, mẹ để lại. Thời điểm ông cho anh T11 xây dựng ngôi nhà tại phần diện tích đất của bố, mẹ ông để lại thì ông Mai Đức T1 có nhiều lần về quê và chứng kiến việc anh T11 xây dựng nhà trên phần diện tích đất của bố, mẹ ông để lại nhưng cũng không thấy ông T1 có bất kỳ ý kiến gì.
Nay ông T1 khởi kiện yêu cầu Tòa án phân chia thừa kế thửa đất số 3644 của bố, mẹ ông để lại thì quan điểm của ông về việc giải quyết vụ án như sau:
Ông đề nghị Tòa án xem xét về việc bản đồ địa chính xã VH lập năm 1983, chỉnh lý năm 1988 và hồ sơ địa chính qua các thời kỳ mà cho đến nay ông mới được biết thì bản đồ thể hiện vị trí của thửa đất số 3645 của gia đình ông và thửa đất số 3644 của bố mẹ ông là hoàn toàn không đúng, không chính xác so với thực trạng vị trí của các thửa đất mà bố mẹ ông và gia đình ông đã quản lý, sử dụng qua các thời kỳ. Vì vậy, đề nghị Tòa án xác minh làm rõ vị trí của các thửa đất số 3644 và 3645 cho đúng với thực trạng vị trí của các thửa đất.
Đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết phân chia thừa kế thửa đất số 3644 của cụ T13 và cụ B3 để lại theo quy định của pháp luật và cắt lại một phần diện tích theo kỷ phần thừa kế của liệt sỹ Mai Đức B4 để cho gia đình ông làm nơi thờ cúng liệt sỹ Mai Đức B4.
Đề nghị Tòa án thanh toán cho ông B2 hiện vật (bằng đất) về công sức ông đã trông coi, cải tạo thửa đất và các khoản tiền thuế đất ông đã đóng góp cho nhà nước theo đúng quy định của pháp luật.
Nếu ai tặng cho ông phần di sản thừa kế của họ để ông làm nơi thờ cúng thì ông xin nhận. Trường hợp nếu có ai yêu cầu ông phải thanh toán giá trị thừa kế của họ bằng tiền thì ông cũng đồng ý thanh toán giá trị thừa kế của họ bằng tiền theo đúng quy định của pháp luật.
Đề nghị Tòa án cho ông được tiếp tục sử dụng toàn bộ các công trình gồm nhà thờ, sân lát đá và cổng vào nhà thờ mà ông vừa xây dựng xong. Nếu phần diện tích ông đã xây dựng nhiều hơn phần diện tích đất ông được thừa kế thì ông tự nguyện trả tiền chênh lệch giá trị đất cho phía nguyên đơn.
Đề nghị Tòa án mở một lối đi vào diện tích đất bên trong của gia đình ông vì trước đây khi hai cụ T13, cụ B3 còn sống thì ông và bố mẹ ông đã mở 01 ngõ đi ở đúng vị trí ngay cạnh nhà thờ, mà hiện nay ông đã đổ bê tông.
* Tại Biên bản hòa giải ngày 05-7-2023, người đại diện theo ủy quyền của Ủy ban nhân dân huyện VB là ông Nguyễn Minh T15 trình bày: Biên bản phân chia thừa kế quyền sử dụng đất của cụ Mai Đức T13 lập ngày 10-10-2005 thiếu ý kiến và chữ ký của những người được hưởng thừa kế của cụ T13, cụ B3, không đủ điều kiện được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của luật đất đai. Do đó, Ủy ban nhân dân huyện VB sẽ thu thập thêm tài liệu, chứng cứ để kiểm tra, xác định lại việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông H1 và sẽ có văn bản ý kiến gửi về Tòa án sau.
Tại Thông báo số 96/TB-UBND ngày 17-8-2023 của Ủy ban nhân dân huyện VB đã thông báo cho hộ ông Mai Đức H1 biết về việc lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thời điểm năm 2005 không đảm bảo quy định của pháp luật đất đai.
Ngày 08-9-2023, Ủy ban nhân dân huyện VB đã ban hành Quyết định số 1982 thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG604240 do Uỷ ban nhân dân huyện VB cấp ngày 16-12-2005 đứng tên ông Mai Đức H1 và bà Trần Thị B5 với diện tích 1025m², vị trí thửa đất số 35, tờ bản đồ số 5-II Bản đồ địa chính xã VH. Lý do thu hồi: Không đủ điều kiện được cấp theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai năm 2013, xác định sai nguồn gốc sử dụng đất.
* Tại bản tự khai và bản tự khai bổ sung những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông T4, ông C, bà H2, bà T5, bà T6, bà P1, bà H3, ông H4, ông T7, bà T8, ông H5, bà Q1, bà P2, bà S, ông B1, ông H6, ông Q2, bà M, bà T9, bà N và ông T10 trình bày: Về mối quan hệ gia đình, ngày tháng năm chết của cụ T13, cụ B3, bà G, bà K2, bà L2, bà T14; di sản thừa kế và những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ T13 và cụ B3 cũng như những người thừa kế của bà G, bà K2, bà L2, bà T14 thống nhất như nguyên đơn, bị đơn đã trình bày ở trên. Ngoài ra, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trên còn trình bày quan điểm về việc phân chia di sản thừa kế. Trong đó:
Quan điểm của bà P2 và ông Q2 là từ chối nhận di sản thừa kế.
Quan điểm của ông T4, bà H2, bà T5, bà T6, bà P1, bà H3, ông H4, ông H6, bà M, bà N, ông T10, bà T9, ông T7, bà Q1 là tặng cho toàn bộ di sản thừa kế được hưởng cho ông T1.
Quan điểm của ông C, bà T8, ông H5, bà S, ông B1 là tặng cho toàn bộ di sản thừa kế được hưởng cho ông H1.
* Tại Buổi hòa giải ngày 05-9-2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Văn L1 trình bày: Về tường bao giáp với thửa đất số 3644 là do ông xây từ năm 2019, Tường bao được xây dựng trên đất của ông, có chiều dài từ đường làng vào bên trong cột điện khoảng 18m, phần Tường bao còn lại đến chân móng nhà anh T11 là do anh T11 xây. Nếu Tòa án giao cho ai sử dụng phần đất giáp với tường bao ông đã xây thì ông đề nghị Tòa án giữ nguyên tường bao ông đã xây trên đất của ông, phần trụ cổng xây sang phần thửa đất số 3644 thì ông tự nguyện tháo dỡ.
* Tại Buổi hòa giải ngày 05-9-2023 và tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Mai Đức T11 trình bày: Năm 2019, bố anh có cho anh một phần đất để xây nhà ở. Vì vậy, anh đã mở một ngõ đi ở phần đất giáp với tường bao nhà ông Phạm Văn L1, ngõ đổ bê tông, xây trụ cổng, cánh cổng bằng sắt. Ngoài ra, anh còn lắp đặt 01 đoạn ống nhựa PVC D110, dài khoảng 20m phía dưới ngõ bê tông và trồng một số cây cảnh, cây ăn quả. Nếu Tòa án giao cho ai vị trí đất đó thì anh đề nghị thanh toán giá trị của các tài sản nêu trên cho anh. Anh thấy giá mà Hội đồng định giá đã kết luận là thấp nhưng anh chỉ căn cứ vào thực tế chứ anh không có tài liệu nào để cung cấp cho Tòa án.
* Tại biên bản lấy lời khai người làm chứng ông Mai Văn K1, ông Hoàng Văn I trình bày: Về nguồn gốc đất ông H1 đang sử dụng có nguồn gốc cha ông để lại. Sau này, cụ T13 và ông H1 cùng sử dụng. Phía bên trong, cụ T13 xây nhà, ở vị trí mà hiện nay anh Mai Đức T11 đã xây nhà ở, phía trước nhà thì cụ T13 có xây bếp, công trình phụ và để đống rơm rạ ở phần đất mà anh T11 đổ ngõ bê tông giáp đất hộ ông L1, còn phía ngoài của thửa đất số 3644 cụ T13 trồng chè và trồng cây ăn quả.
* Tại biên bản lấy lời khai người làm chứng ông Nguyễn Xuân T12 trình bày: Ông T12 giữ chức vụ cán bộ địa chính xã VH từ năm 2002 đến năm 2010. Vì thời gian đã lâu nên ông không thể nhớ chính xác vị trí đất thổ cư và thổ canh của hai thửa đất số 3644 và 3645.
* Tại biên bản lấy lời khai người làm chứng ông Nguyễn Công L2 trình bày: Hiện nay các tài liệu về việc nộp thuế đất theo kg lợn hơi từ những năm 1993 trở về trước không còn lưu trữ nên Hợp tác xã không có thông tin để cung cấp cho Tòa án.
* Tại các Biên bản thu thập chứng cứ ở Ủy ban nhân dân xã VH ngày 04-8-2023; Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện VB ngày 18-8-2023; Văn phòng đăng ký đất đai - Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh NĐ ngày 18-8-2023 và Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện VB ngày 06-9-2023 thể hiện:
Hiện nay các cơ quan chỉ có lưu trữ Bản đồ địa chính xã VH lập từ năm 1988 cho đến nay gồm có: Bản đồ giải thửa xã VH năm 1988; Bản đồ địa chính xã VH năm 2004; Bản đồ kiểm kê năm 2005 xã VH; Bản đồ kiểm kê năm 2010 xã VH; Sổ mục kê đất xã VH ngày 25-5-2004; Sổ thống kê thửa đất năm 2005;
Căn cứ vào Bản đồ giải thửa xã VH năm 1988 thể hiện: Thửa đất số 3644 diện tích 390m², trong đó đất ở là 175m², đất thổ canh là 215m² đứng tên người sử dụng đất là T13 ở bên ngoài còn thửa đất số 3645 diện tích 410m², trong đó đất ở là 200m², đất thổ canh là 210m² đứng tên người sử dụng đất là H1 ở bên trong, không thể hiện vị trí đất ở, đất thổ canh của cả hai thửa 3644 và 3645.
Căn cứ vào Bản đồ địa chính xã VH năm 2004; Bản đồ kiểm kê năm 2005 xã VH thể hiện: Các thửa đất số 3644 và 3645 được gộp thành 01 thửa là thửa số 35, tờ bản đồ số 5PL2 có diện tích là 1025m², trong đó đất ở là 300m² và đất vườn là 725m² và thửa đất số 35 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên người sử dụng đất là ông Mai Đức H1 và bà Trần Thị B5.
Bản đồ giải thửa năm 1988 cũng như Bản đồ địa chính xã VHn ăm 2005 không thể hiện có lối đi vào thửa đất số 3645 bên trong của hộ ông H1. Vì vậy, nếu Tòa án phân chia thửa đất số 3644 cho các hàng thừa kế của cụ T13, cụ B3 thì cần thiết phải mở một lối đi vào thửa đất số 3645 cho hộ ông H1.
Việc số hóa Bản đồ địa chính xã VH lập năm 1988 về các cạnh của các thửa đất tranh chấp thì số liệu số hóa sẽ không được chính xác, vì lý do trước đây khi lập Bản đồ việc đo đạc thủ công nên không có độ chính xác như đo bằng kỹ thuật số hiện nay và Bản đồ đề nghị số hóa được vẽ trên giấy can nên có độ co giãn và đã qua nhiều năm sử dụng. Vì vậy, quá trình Scan ảnh và số hóa sẽ có sự sai số. Do vậy Văn phòng đăng ký đất đai Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh NĐ không số hóa các cạnh của các thửa đất số 3644 và 3645 tờ bản đồ số 05, bản đồ địa chính xã VH lập năm 1988 cho Tòa án được.
* Hội đồng định giá tài sản đã định giá về đất: Định giá theo đơn giá Nhà nước quy định đối với đất ở là: 1.500.000đồng/m²; đất vườn là 75.000đồng/m²; định giá theo đơn giá chuyển nhượng tại thị trường, tại thời điểm định giá, tại khu vực đất tranh chấp đối với đất ở là: 3.000.000đồng/m² và đất vườn là 1.000.000đồng/m². Ngoài ra còn định giá về các tài sản hiện có gắn liền trên thửa đất số 3644 như sau:
Nhà thờ: 1.022.597.400đồng;
Cổng vào nhà thờ (gồm 02 trụ cổng và mái): 14.817.000đồng;
Tường Bao xây gạch chỉ dày 110 (đoạn tường bao của cổng đi vào nhà thờ): 9.909.000đồng;
Sân lát đá trước nhà thờ: 61.464.000đồng;
tường bao xây gạch chỉ dày 110, cao 2,7m, dài 14m (giáp đất ông Đ): 28.312.000đồng;
02 trụ cổng phụ số 1 (giáp nhà thờ): 1.820.000đồng;
02 trụ cổng phụ số 2 (giáp đất ông L1): 882.000đồng;
02 cánh cổng sắt của cổng phụ số 2: 1.218.000 đồng;
Lối đi ra cổng phụ 2, sân đổ bê tông, anh T11 xây dựng năm 2019: 9.354.000đồng;
Đoạn tường bao từ trụ cổng phụ số 1 đến trụ cổng phụ số 2 dài 2,9m, có diện tích là (1,5 x 2,9) = 4,35m², trị giá 4,35m² x 579.000đồng/m² x 0,6 (khấu hao) = 1.511.190 đồng.
Đoạn tường bao giáp đất ông L1 dài 20,3m, có diện tích (1,5 x 20,3) = 30,45m², trị giá 30,45m² x 579.000đồng/m² x 0,6 (khấu hao) = 10.578.330 đồng;
03 cây Na Đài Loan Ø 10 x 150.000đồng/cây = 450.000đồng;
01 cây hồng xiêm xoài Ø7: 150.000đồng;
03 cây cau lùn Ø15 x 311.000đồng/cây = 933.000đồng;
04 cây cau ăn quả x 60.000đồng/cây = 240.000đồng;
03 cây cau lùn cao trên 5m x 300.000đồng/cây = 900.000đồng;
01 cây mít Ø15: 350.000đồng;
01 cây lộc vừng Ø60: 1.405.000đồng;
Phía nguyên đơn không có ý kiến gì về giá đất ở và giá của các tài sản trên đất đã được định giá nhưng có ý kiến là giá đất vườn thấp và cho rằng căn cứ theo điểm a khoản 1 của quyết định số 07/2003/QĐ-UBND ngày 10-3-2023 của UBND tỉnh NĐ thì giá đất vườn theo giá thị trường bằng 50% giá đất ở và đề nghị định giá lại. Còn phía bị đơn và anh T11 cho rằng giá đất ở 3.000.000đồng/m² và giá trị của các tài sản trên đất là thấp. Hiện nay giá đất ở giao dịch trên thị trường ở khu vực có đất tranh chấp là 5.500.000đồng/m² nhưng phía bị đơn và anh T11 không xuất trình được tài liệu nào để chứng minh và không yêu cầu định giá lại.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 50/2023/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023, Tòa án nhân dân tỉnh NĐ, quyết định:
Căn cứ các Điều 26, 34, 37, 39, 74, 92, 227 và 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 32 Luật Tố tụng hành chính;
Căn cứ các Điều 634, 635, 636, 637, 638, 645, 677, 678, 679, 680 Bộ luật Dân sự năm 1995;
Căn cứ các Điều 254, 357, 468, 609, 610, 611, 612, 613, 618, 620, 623, 649, 650, 651, 652, 660 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ các Điều 106; 166, 167, 170 Luật Đất đai năm 2013.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và Điều 2 Luật Người cao tuổi;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là ông Mai Đức T1 về việc chia di sản thừa kế theo pháp luật:
Xác định di sản thừa kế của cụ Mai Đức T13 và cụ Nguyễn Thị B3 là diện tích đất 390m² thuộc thửa đất số 3644, tờ bản đồ số 05, bản đồ giải thửa xã VH năm 1988; địa chỉ thửa đất: Thôn ĐL, xã VH, huyện VB, tỉnh NĐ. Nay diện tích đất này nằm trong thửa đất số 35, tờ đồ số 5PL2, bản đồ địa chính xã VH năm 2004.
Chia cho ông Mai Đức T1 được quyền sử dụng và các quyền khác theo quy định của pháp luật diện tích đất là 139,9m² thuộc phần phía Bắc của thửa đất số 3644; tờ bản đồ số 05, bản đồ giải thửa xã VH năm 1988; địa chỉ thửa đất tại thôn ĐL, xã VH, huyện VB, tỉnh NĐ (trong đó có 60,9m² đất ở và 79m² đất vườn). Trị giá 261.700.000 đồng, có các Chiều, các cạnh cụ thể như sau:
- Cạnh phía Đông tiếp giáp với đường làng dài 7,38m (cạnh 4-5);
- Cạnh phía Tây tiếp giáp với thửa đất số 3645 dài 7,75m (cạnh 13-14);
- Cạnh phía Nam tiếp giáp phần đất cắt làm ngõ đi chung dài 18,78m (cạnh 5-13);
- Cạnh phía Bắc tiếp giáp với tường bao hộ ông L1 dài 18,95m, được chia thành 04 đoạn tính từ Đông sang Tây lần lượt (4-3) là 0,88m; (3-2) là 14,23m; (1-2) là 0,15 và (1-14) là 3,69m.
Trên đất có các công trình, cây trồng sau:
- 01 trụ cổng của cổng phụ số 1: 910.000đồng;
- 01 trụ cổng của cổng phụ số 2: 441.000đồng;
- 02 cánh cổng sắt của cổng phụ số 2: 1.218.000 đồng;
- Lối đi ra cổng phụ 2, sân đổ bê tông, diện tích 60,9m², xây dựng năm 2019: 9.354.000đồng;
- Đoạn tường bao từ trụ cổng phụ số 1 đến trụ cổng phụ số 2 dài 2,9m 1.511.190đồng;
- 01 đường ống thoát nước PVC D110, chôn ngầm, chiều dài 21,8m, xây dựng năm 2019, giá trị còn lại là 807.000đồng.
- 03 cây Na Đài Loan Ø 10: 450.000đồng;
- 01 cây hồng xiêm xoài Ø7: 150.000đồng;
- 03 cây cau lùn Ø15: 933.000đồng;
- 04 cây cau ăn quả: 240.000đồng;
- 03 cây cau lùn cao trên 5m: 900.000đồng;
- 01 cây mít Ø15: 350.000đồng;
- 01 cây lộc vừng Ø60: 1.405.000đồng;
Trị giá tài sản và cây cối trên đất là: 18.669.190đồng.
Chia cho ông Mai Đức H1 được quyền sử dụng và các quyền khác theo quy định của pháp luật diện tích đất là 212,5m² thuộc phần phía Nam của thửa đất số 3644; tờ bản đồ số 05, bản đồ giải thửa xã VH năm 1988; địa chỉ thửa đất tại thôn ĐL, xã VH, huyện VB, tỉnh NĐ (trong đó có 97,9m² đất ở và 114,6m² đất vườn). Trị giá 408.300.000đồng, có các chiều, các cạnh như sau:
- Cạnh phía Đông tiếp giáp với đường làng dài 10,0m (cạnh 6-7);
- Cạnh phía Tây tiếp giáp với thửa đất số 3645 dài 12,75m (cạnh 11-12);
- Cạnh phía Nam tiếp giáp thửa đất hộ ông Đ dài 19,11m, được chia thành 04 đoạn tính từ Đông sang Tây lần lượt (7-8) là 0,29m; (8-9) là 13,5m; (9-10) là 0,32m; (10-11) là 5m.
- Cạnh phía Bắc tiếp giáp với phần đất cắt làm ngõ đi chung dài 18,78m (cạnh 6-12).
Trên đất có các công trình sau:
- Nhà thờ: 1.022.597.400đồng;
- Cổng vào nhà thờ: 14.817.000đồng;
- Sân lát đá trước nhà thờ: 61.464.000đồng;
- Tường bao xây gạch chỉ dày 110 (Giáp đất ông Đ): 28.312.000đồng;
- Tường bao xây gạch chỉ dày 110 (Đoạn tường bao của cổng đi vào nhà thờ): 9.909.000đồng;
- 01 trụ cổng phụ số 1 (giáp nhà thờ): 910.000đồng.
Trị giá các tài sản trên đất là 1.138.009.400 đồng.
Cắt 37,6m² đất của thửa đất số 3644; tờ bản đồ số 05, bản đồ giải thửa xã VH năm 1988; địa chỉ thửa đất tại thôn ĐL, xã VH, huyện VB, tỉnh NĐ để làm lối đi chung cho hai thửa đất số 3644 và 3645 (trong đó có 16,2m² đất ở và 21,4m² đất vườn). Diện tích cắt làm lối đi chung có các chiều, các cạnh cụ thể như sau:
- Cạnh phía Đông tiếp giáp với đường làng dài 2m (tính từ mép ngoài tường bao sân nhà thờ đến phần đất chia cho ông T1) (cạnh 5-6);
- Cạnh phía Tây tiếp giáp với thửa đất số 3645 dài 2m (tính từ mép ngoài tường bao sân nhà thờ đến phần đất chia cho ông T1) (cạnh 12-13);
- Cạnh phía Nam tiếp giáp phần đất chia cho ông H1 dài 18,78m (cạnh 6-12);
- Cạnh phía Bắc tiếp giáp với phần đất chia cho ông T1 dài 18,78m (cạnh 5-13). (Có sơ đồ phân chia đất kèm theo).
Các đương sự có trách nhiệm liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm các thủ tục tách diện tích đất được giao theo quy định của pháp luật và theo quyết định của bản án.
Buộc ông Mai Đức H1 có trách nhiệm thanh toán cho ông Mai Đức T1 số tiền chênh lệch tài sản là 141.097.619 đồng.
Buộc ông Mai Đức T1 phải trả giá trị của các tài sản trên đất và cây cối cho anh Mai Đức T11 với số tiền là 18.699.190 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Buộc ông Mai Đức H1 phải tháo dỡ một phần lối đi đã đổ bê tông và công trình khác đã xây dựng sau ngày Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ trên phần đất chia cho ông T1.
Giao cho ông Phạm Văn L1 tiếp tục sử dụng đoạn tường bao dài 18,95m được xây dựng trên đất của ông Phạm Văn L1. Buộc ông L1 phải tháo dỡ phần trụ cổng xây trên phần đất phân chia cho ông Mai Đức T1.
Giữ nguyên quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 162 ngày 04-8-2023 của Tòa án nhân dân tỉnh NĐ cho đến khi thi hành án xong.
Bác yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 604240 do Ủy ban nhân dân huyện VB, tỉnh NĐ cấp ngày 16-12-2005 đứng tên người sử dụng đất Mai Đức H1 cùng với Trần Thị B5 của ông Mai Đức T1.
Án phí: Ông Mai Đức T1, ông Mai Đức H1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Cường |
Bản án số 302/2024/DS-PT ngày 11/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp về thừa kế tài sản và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 302/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về thừa kế tài sản và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
