Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số:302/2023/HSST

Ngày 20/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phương Thanh.

Thẩm phán: Bà Lê Thị Tân

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Huấn; Bà Trịnh Thị Yên; Bà Nguyễn Thị Hương.

Thư ký phiên tòa:Ông Dương Xuân Tú - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn Bình- Kiểm sát viên

Ngày 20 tháng 12năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 257/2023/TLST-HS ngày 16 tháng 11năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 325/2023/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 12 năm2023 đối với bị cáo:

Đặng Anh T;Tên gọi khác: Tuấn L;Sinh ngày 19 tháng 9 năm 1989, tại:Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa;

Nơi thường trú: 185 Bà T, phường H, thành phố T;

Nơi ở hiện tại: P404 nhà D1, chung cư M, phường Đ, TP ., tỉnh Thanh Hóa;Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do;Con ông: Đặng Văn H(đã chết) và bà: Nguyễn Thị T1, sinh năm 1959;Vợ, con: chưa.

Tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân:

  • - Ngày 06/5/2008, bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa tuyên phạt 06 năm tù giam về tội Cố ý gây thương tích;
  • - Ngày 07/5/2015, bị Công an Thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Xâm hại trực tiếp đến sức khỏe của người khác”.
  • - Ngày 16/6/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa tuyên phạt 06 tháng tù giam về tội Hủy hoại tài sản. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 24/2/2023; đến ngày 24/8/2023 chấp hành xong hình phạt;
  • Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/8/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Công an tỉnh T. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo : Luật sư Lê Thị H1, Văn phòng L4 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T. Có mặt.

Địa chỉ : Số I, N, phường T, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa

- Bị hại: Nguyễn Văn S, sinh năm 1986.

Địa chỉ: số B B, phường N, thành phốThanh Hóa. Hiện đang thi hành án tại Trại giam T5, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

- Người làm chứng:

  • + Anh Nguyễn Thanh C, sinh năm 1989.
  • Địa chỉ: 2 N, C, phường Đ, thành phố T.
  • + Anh Phạm Thế A, sinh năm 1983.
  • Địa chỉ: khu phố X, thị trấn R, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa.
  • + Anh Lê Văn M, sinh năm 1977.
  • Địa chỉ: A L, phường L, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
  • + Anh Nguyễn Tuấn A1, sinh năm 1995.
  • Địa chỉ: thôn T, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
  • + Anh Nguyễn Hoàng L1, sinh năm 1988.
  • Địa chỉ: xóm B Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa.
  • + Anh Hoàng Văn D, sinh năm 1999.
  • Địa chỉ: tiểu khu G thị trấn V, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
  • + Anh Trần Xuân C1, sinh năm 1984.
  • Địa chỉ: A Bà T, phường H, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
  • + Anh Chu Văn T2, sinh năm 1987.
  • Địa chỉ: thôn F xã Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
  • + Anh Nguyễn Đình T3, sinh năm 1996.
  • Địa chỉ: khu phố X, thị trấn R, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa.
  • + Anh Nguyễn Mạnh H2, sinh năm 1996.
  • Địa chỉ: 5 N, phường Đ, thành phố T, tỉnhThanh Hóa.
  • + Anh Nguyễn Viết V, sinh năm 1987.
  • Địa chỉ: thôn B, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa.
  • + Anh Đàm Cảnh M1, sinh năm 2000.
  • Địa chỉ: phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Những người làm chứng đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 2/2018, Nguyễn Thanh C (C), sinh năm 1989 trú tại 2 N, C, phường Đ, TP . trong một lần đi ăn uống cùng bạn bè tại phường Q, TP . đã xảy ra

mâu thuẫn với Nguyễn Văn S (Bơ L2), sinh năm 1986 trú tại T, phường N, TP . nhưng được mọi người can ngăn nên chưa xảy ra đánh nhau. Kể từ đó, C thù tức với S và đã nhiều lần tìm gặp S để giải quyết mâu thuẫn nhưng chưa được.

Tối ngày 27/5/2018, C cùng Đặng anh T2 (Tuấn L), sinh năm 1989 trú tại phòng 404, nhà D, chung cư M, P. Đ, TP . và Phạm Thế A (Anh L3), sinh năm 1983 trú tại khu phố X, thị trấn R, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa đi dự đám đầy năm con một người bạn tại phường T, TP .. Sau khi ăn và uống rượu xong, C nghe tin Nguyễn Văn S đang hát Karaoke cùng bạn bè tại quán P1 ở địa chỉ lô E MBQH B T, P. Đ, TP .. Do đã uống rượu ngà ngà say, lại đang có thù tức với S nên C lấy xe máy rủ T2 Lì đến quán P1 tìm S giải quyết mâu thuẫn. Khi đi, C mang theo một khẩu súng côn quay tự chế, bằng kim loại màu bạc, bên trong có 06 viên đạn. Trong lúc T2 và C đang trên đường đi đến quán P1 thì Phạm Thế A cũng ăn uống xong, A gọi điện thoại cho T2 và C rủ đi hát karaoke thì T2 bảo Thế A đến quán P1. T2, C và Thế A cùng đến quán P tìm S ở các phòng hát thì xác định được S đang hát cùng bạn bè ở phòng VIP4 ở tầng 3. Tại đây, T2 và C đi vào phòng hát, T2 quàng tay ghì cổ S, C rút súng mang theo trong người ra bắn một phát để uy hiếp. Sau đó, C dí súng vào người S ép S ra ngoài để giải quyết mâu thuẫn. T2 và C đưa S ra ngoài phòng hát rồi vật lộn với S làm S bị ngã, lăn từ cầu thang xuống chiếu nghỉ giữa tầng 3 và tầng 2, ngay sau đó cả 2 tiếp tục ép S xuống phía dưới. Khi xuống đến hành lang tầng 2, S thoát ra được khỏi tay T2 và C rồi S dùng M2 cầm theo trước đó từ phòng hát đánh C. Thấy S bị uy hiếp, nhóm bạn trong phòng hát của S cũng chạy theo, trong số đó, Đàm Cảnh M1 (Minh D1), sinh năm 1999 trú tại số nhà B, phố T, P. A, TP . và Nguyễn Mạnh H2 (H), sinh năm 1996 trú tại 5 N, P. Đ, TP . dùng chân, tay đấm, đá C. Phạm Thế A vào can ngăn cũng bị nhóm S tấn công gây thương tích nhẹ.

Trong lúc nhóm S đánh nhau với C và Thế A, T2 đã lấy khẩu súng từ tay C rồi đi xuống tầng 1, vừa đi vừa chửi bới, thách thức S. Lúc này, S dừng đánh C và Thế A rồi đi theo T2, giữa T2 và S tiếp tục lời qua tiếng lại. Khi xuống đến khu vực tầng A, S đi vào gian bếp ở phía trong, còn T2 đi ra khu vực tiếp khách ở phía ngoài của quán. Cùng lúc này, anh Lê Văn M, sinh năm 1977 trú tại A L, P. L, TP . là bạn cùng nhóm hát với S, đi theo ngay phía sau S, đẩy S về phía gian bếp để can ngăn việc đánh nhau. Giữa S và T2 vẫn tiếp tục lời qua tiếng lại. Khi T2 đi cách vị trí cách anh M 5,1m và cách S 6,1m, bất ngờ T2 quay lại chửi S: “Đ... mẹ Bơ L2” rồi dùng súng vừa lấy từ C chĩa hướng về phía người S bắn một phát nhưng không trúng, đồng thời T2 cầm súng tiến lại vị trí S đứng rồi chửi bới, xô đẩy vào người S, thách thức đánh nhau với S nhưng T2 được mọi người can ngăn đẩy ra ngoài.

Do S và T2 không có mâu thuẫn với nhau từ trước, nên khi bị T2 tấn công bằng súng, S bức xúc và lấy một con dao nhọn (dạng dao gọt hoa quả) dài khoảng 20cm, lưỡi dao bằng inox dài khoảng 10cm, bản rộng khoảng 3,5cm có trên bàn bếp đuổi theo đánh nhau với T2. Bị S lùa đánh, T2 lùi ra ngoài, vừa lùi vừa chĩa súng về phía người S (hình ảnh camera thể hiện) thì vấp phải bàn uống nước kê ở khu vực tiếp khách làm T2 bị ngã. S cầm dao nhọn lao đến tấn công T2, T2 giằng

co để thoát thân nhưng bị S tấn công liên tiếp vào người làm súng bị văng ra, trong đó, S dùng dao cứa mạnh vào cổ T2 02 nhát, đâm thốc mạnh một phát trúng vào vùng bụng của T2, cú đâm mạnh làm văng con dao xuống khu vực vỉa hè trước quán. Trong lúc S dùng dao nhọn tấn công T2 thì Minh D1 cũng lao đến dùng cốc chén, gạt tàn thuốc lá có trên bàn uống nước ném vào người T2 và dùng chân tay liên tục đấm đá T2; Hiếu H3 dùng chân đạp nhiều phát vào người T2; Nguyễn Viết V (V quỷ), sinh năm 1987 trú tại thôn B, xã Đ, huyện Đ (bạn cùng nhóm hát với S) dùng điếu cày đập 02 phát trúng vào đầu và lưng T2. Cả 4 liên tục đuổi đánh T2 từ trong nhà ra đường T, liên tục dùng chân tay đánh T2, V dùng điếu cày đập thêm 02 phát vào người T2. Sau đó, T2 chạy thoát rồi được mọi người đưa đi cấp cứu (Bút lục 256-273; 278-290; 293-309; 314-395; 398-425).

Sau khi vụ án xảy ra, Cơ quan điều tra Công an T đã, tiến hành khám nghiệm hiện trường và tổ chức điều tra theo quy định. Quá trình điều tra vụ án, ngày 31/5/2018, Cơ quan Cơ quan điều tra Công an T đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự Giết người và chuyển hồ sơ vụ án đến Cơ quan điều tra Công an tỉnh T để điều tra theo thẩm quyền (Bút lục 29-30).

Kết quả khám nghiệm hiện trường, xác định định hiện trường (Bút lục: 154-183).

Hiện trường nơi vụ án xảy ra tại quán P1 lô 05 MBQH B T, P. Đ, TP T. Đây là ngôi nhà 04 tầng, phía Đông tiếp giáp với lô 06 MBQH 2334; phía Tây tiếp giáp với lô 04 MBQH 2334;phía Nam tiếp giáp đường T; phía Bắc tiếp giáp với khu dân cư. Ngôi nhà có diện tích (5x25)m, cửa chính là cửa cuốn điện. Tầng một, phía ngoài cùng sử dụng làm sảnh tiếp khách, phía trong là quầy lễ tân,tiếp đến là cầu thang bộ, phía sau là khu vực bếp có kê 01 bàn Bi-a và sau cùng là nhà vệ sinh. Tầng 2, tầng 3 ngôi nhà được sử dụng kinh doanh phòng hát (từ VIP1 đến VIP6).

Tiến hành khám nghiệm hiện trường, kết quả như sau:

Tại tầng 1 (hiện trường chính vụ án Giết người):

Trên nền nhà sảnh tiếp khách, mặt trên bàn, ghế, mặt ngoài lục bình bằng gỗ, mặt trong tường nhà phía Đông bám dính nhiều chất màu đỏ (nghi máu) dạng bệt, nhỏ giọt, trong diện (400x480)cm. Điểm gần nhất của vết cách tường phía Nam 107cm (Số C).Lẫn trong vết nghỉ máu tại sảnh phía trước có nhiều mảnh thủy tinh màu trắng (dạng mảnh vỡ gạt tàn thuốc lá), trong diện (300x370)cm. Điểm gần nhất của vết cách tường phía Đông 172cm, cách tường phía Nam 190cm (Số D), các mảnh vỡ có nhiều kích thước khác nhau. Vị trí ngay góc Đông Nam sảnh tiếp khách (Số E) có 01 điếu cày dài 60cm, đường kính 05cm, phần đầu điếu đan 01 vòng nhựa màu trắng, nâu dài 11cm; phần cuối đan 03 vòng nhựa màu trắng, nâu dài lần lượt 7cm, 4cm, 3,5cm; thân điếu bị vỡ, bung bật chân điếu, điếu không còn nỏ. Tại vị trí cách tường phía Nam lần lượt là 130cm, 150cm, cách phần cuối của điếu lần lượt 29cm, 57cm về phía T, trên nền nhà có 02 viên đạn, mỗi viên dài 2,5cm, vỏ bằng kim loại màu vàng dài 1,5cm, đầu đạn bằng kim loại màu đen dài 1,5cm, đường kính 0,5cm. Phần đáy cả 02 viên có kí hiệu “C” và không có vết núng ở đít đạn. Tại vị trí cách trụ bên trái cầu thang bộ A2cm về phía Bắc, cách tường phía Đông

119cm, trên nền nhà có 01 mảnh kim loại, KT(1,2x1,2)cm màu xám (nghi đầu đạn) (Số G).Vị trí cách tường phía Bắc 660cm, cách tường phía Đông 280cm, trên nền nhà có 01 vật bằng kim loại màu trắng (dạng ổ đạn súng côn quay) hình trụ, đường kính 3cm, cao 2,5cm. Trên vật này có 06 lỗ hình trụ tròn, mỗi lỗ đường kính 0,5cm, cao 2,5cm. Trong đó, 04 lỗ rỗng, 01 lỗ có gắn 01 vỏ đạn có kí hiệu “C” ở đít đạn, đít vỏ đạn này có vết núng kim loại, KT(0,1x0,1)cm; 01 lỗ có gắn 01 viên đạn kí hiệu “R” ở đít đạn và không có vết núng kim loại. Tại vị trí cách ổ đạn 60cm về phía Đông, cách tường phía Đông 220cm trên nền nhà có 01 viên đạn bằng kim loại dài 2,5cm, vỏ đạn dài 1,5cm, đầu đạn dài 1,5cm, đường kính 0,5cm, phần đít đạn có kí hiệu “R” và không có vết núng kim loại. Vị trí có vật dạng ổ đạn và viên đạn kí hiệu (Số F) trong sơ đồ hiện trường.

Tại tầng 2:

Trên nền nhà, ngay trước cửa phòng Vip 2 có đám chất màu nâu đỏ (nghi máu), trong diện (120x80)cm. Vị trí cách vết này 125cm về phía Tây Nam, cách tường phía Đông 115cm, trên nền nhà ngay trước cửa nhà vệ sinh có 01 viên đạn dài 2,5cm, vỏ bằng kim loại màu vàng, phần đầu đạn 1cm, đường kính 0,5cm. Phần đít viên đạn này kí hiệu “C” và không có vết núng kim loại(Số A).Cách vị trí Số 1203cm về phía Nam có:01 điếu cày dài 67cm, đường kính 5cm, phần đầu bọc nhựa màu trắng nâu dài 6cm; phần cuối bị vỡ KT(12x4)cm, hiện tại không còn nỏ điếu; 02 chiếc dép màu vàng, phần đáy quai dép có kí hiệu “101/2”. Trên chiếu nghỉ cầu thang giữa tầng 2 với tầng 3 có 02 chiếc dép nhựa màu trắng, đế và quai màu xanh, phần đáy dép có kí hiệu “40R” (SỐ B).

Tại phòng Vip 4 tầng 3:

Mặt ngoài ốp nhựa đèn nháy góc Tây Nam có vết thủng nhựa KT(2x1,5)cm, chiều hướng vết Đông Bắc-T, vết cao so với mặt đất 131cm, cách tường phía Nam phòng hát 12cm. Tương ứng với vết này, mặt ngoài ốp gỗ phía trong có vết lún gỗ KT(1x0,7)cm, chiều hướng vết Đông Bắc - T. Kiểm tra trong hộp ốp nhựa đèn nháy phát hiện có 01 mảnh kim loại dạng đầu đạn bằng kim loại màu xám, KT(1x0,3)cm.

Kết quả trưng cầu giám định

Tại bản kết luận giám định số 1075/PC54 ngày 21/6/2018 của Phòng KTHS - Công an tỉnh T, kết luận (Bút lục 233-234):

05 (năm) viên đạn bằng kim loại, trong đó: 03 viên đạn có ký hiệu “C” ở đít đạn; 02 viên đạn có kí hiệu “R” ở đít đạn và 01 vỏ đạn hình trụ tròn màu vàng, dài 15,5mm, có kí hiệu “C” ở đít vỏ đạn trong vụ trên gửi đến giám định là đạn và vỏ đạn của loại đạn thể thao cỡ 5,6×15,5mm. Loại đạn này sử dụng cho súng thể thao có cỡ nòng 5,6mm hoặc các loại súng tự chế như: súng kiểu hình bút, súng ngắn kiểu ổ quay... nếu súng thể thao bị cưa ngắn nòng, cắt cụt báng hoặc súng tự chế kiểu hình bút, kiểu ổ quay... sử dụng bắn loại đạn này đều có tính năng tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng.

01 mảnh kim loại màu xám bị móp méo biến dạng không rõ hình, KT(16,7×16×3)mm và 01 mảnh kim lọai hình trụ tròn màu xám, dài 12mm, đường kính ngoài 5,9mm trong vụ trên gửi giám định là mảnh kim loại của đầu đạn và là đầu đạn của loại đạn thể thao cỡ 5,6mm. Loại đạn này sử dụng cho súng thể thao có cỡ nòng 5,6mm hoặc các loại súng tự chế như: súng kiểu hình bút, súng ngắn

kiểu ổ quay... nếu súng thể thao bị cưa ngắn nòng, cắt cụt báng hoặc súng tự chế kiểu hình bút, kiểu ổ quay... sử dụng bắn loại đạn này đều có tính năng tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng.

01 vật hình trụ tròn bằng kim loại màu xám, dài 2,8cm; đường kính ngoài 3cm trong vụ trên gửi giám định là buồng đạn (ổ quay) của súng tự chế kiểu súng ngắn ổ quay. Loại súng này có tính năng tác dụng tương tự vũ khí quân dụng.

Tại bản kết luận giám định số 4136/C54(P3) của V1 Bộ C2 kết luận (Bút lục 244):

Khẩu súng (thiếu ổ quay) và ổ quay gửi giám định khi lắp ráp lại thành một khẩu súng tự chế kiểu ổ quay, bắn đạn cỡ 5,6×15,5mm, có tính năng tác dụng tương tự vũ khí quân dụng. Hiện tại khẩu súng này còn dùng để bắn được.

Khẩu súng sau khi lắp ráp bắn được 05 viên đạn gửi giám định. Khẩu súng này bắn ra 01 vỏ đạn và 01 mẫu kim loại dạng hình trụ gửi giám định. Dấu vết trên mẫu kim loại dạng dẹp gửi giám định không đủ để truy nguyên ra khẩu súng đã bắn.

Khi sử dụng khẩu súng gửi giám định bắn vào cơ thể người ở khoảng cách 6,1m gây chết hoặc bị thương.

Không phát hiện thấy có dấu vết tác động của kim hỏa khẩu súng gửi đến giám định lên 05 viên đạn gửi giám định.

Kết quả giám định kỹ thuật số:

Tại bản kết luận giám định số 3284/KL-KTHS ngày 18/9/2023 của phòng K Công an tỉnh T kết luận (Bút lục 196-222; 229): Quá trình điều tra vụ án, anh Trần Xuân C1 là chủ quán karaoke P đã giao nộp cho Cơ quan điều tra 07 (bảy) tệp video là hình ảnh thu được từ Camera của quán có liên quan đến vụ án. Kết quả giám định của Phòng PC09 Công an tỉnh T xác định: Không phát hiện dấu hiệu chỉnh sửa, cắt ghép nội dung hình ảnh trong 07 (bảy) tệp video gửi giám định.

Vật chứng của vụ án:

05 mẫu vật dạng viên đạn dài 2,5cm, trong đó 2 viên phần đít kí hiệu “R”, 3 viên phần đít kí hiệu “C”; 01 vật dạng ổ đạn súng côn quay, đường kính 3cm, cao 2,5cm, trên vật có 6 lỗ trụ tròn cao 2,5cm, đường kính mỗi lỗ 0,5cm; 01 vỏ đạn màu vàng dài 1,5cm, đường kính 0,5cm, phần đít đạn có kí hiệu “C”; 02 chiếc dép màu vàng; 02 chiếc dép màu trắng, đế quai màu xanh; 01 điếu dài 60cm, đường kính 5cm bọc nhựa 2 đầu, điếu không còn nỏ; 01 điếu dài 67cm, đường kính 5cm bọc nhựa phần đầu, phần cuối bị vỡ, không còn nỏ; Khẩu súng tự chế thiếu ổ đạn mà Đặng Anh T làm rơi tại hiện trường do Nguyễn Văn S giao nộp; 01 dao nhọn (dạng dao gọt hoa quả) dài 20,5cm, lưỡi sắc nhọn dài 10,5cm, bản rộng nhất 3,5cm, cán bằng nhựa màu đen dài 10cm; 01 bình cứu hỏa thu trong quá trình xác định lại hiện trường vụ án.

Đối với các vật chứng là 01 khẩu súng tự chế thiếu ổ đạn mà Đặng Anh T làm rơi tại hiện trường do Nguyễn Văn S giao nộp; 05 mẫu vật dạng viên đạn dài 2,5cm, trong đó 2 viên phần đít kí hiệu “R”, 3 viên phần đít kí hiệu “C”; 01 vật dạng ổ đạn súng côn quay, đường kính 3cm, cao 2,5cm, trên vật có 6 lỗ trụ tròn cao 2,5cm, đường kính mỗi lỗ 0,5cm; 01 vỏ đạn màu vàng dài 1,5cm, đường kính

0,5cm, phần đít đạn có kí hiệu “C” theo biên bản giao nhận vật chứng số 42 ngày 05/01/2029 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T và Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.

Các vật chứng khác đã được giải quyết tại bản án hình sự sơ thẩm số 42/2019/HSST ngày 17/4/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa bằng hình thức tịch thu tiêu hủy (Bút lục 127-136).

Về phần dân sự:

Bị hại Nguyễn Văn S đề nghị xử lý nghiêm minh và yêu cầu bị can Đặng Anh T bồi thường dân sự theo quy định pháp luật. Đến nay bị can Đặng Anh T chưa bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn S được bất kỳ khoản nào (Bút lục 426).

Quá trình xác định lại hiện trường, thực nghiệm điều tra xác định lời khai của bị can Đặng Anh T phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ của vụ án quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã thu thập.

Bản cáo trạng số 161/CT-VKS-P2 ngày 15/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Đặng Anh T tội "Giết người" theo điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS;

Tại phiên tòa:

  • + Người thân của bị cáo là Nguyễn Thị Huyền T4 đã nộp số tiền 10.000.000₫ theo biên lai thu số 0000026 ngày 20/12/2023 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa với nội dung bồi thường thiệt hại cho Nguyễn Văn S. Người bị hại không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự của bị cáo;
  • + Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa vẫn giữ nguyên cáo trạng và đề nghị HĐXX căn cứ: Điểm n Khoản 1 Điều 123 BLHS, điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, khoản 3 Điều 57, Khoản 1 Điều 54, Điều 38 BLHS: Tuyên bố bị cáo Đặng Anh T phạm tội Giết người, xử phạt bị cáo từ 06 đến 07 năm tù.
  • Về trách nhiệm dân sự: Công nhận bị cáo đã bồi thường xong cho bị hại;
  • Về xử lý vật chứng: Đã được xem xét xử lý tại bản án số 42 ngày 17/2/2019;
  • Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật;
  • + Luật sư bào chữa cho bị cáo có ý kiến: Đồng ý với tội danh và điều luật áp dụng mà Viện kiểm sát truy tố tại Bản cáo trạng và nội dung luận tội. Tại quá trình điều tra, truy tố và xet xử bị cáo thể hiện sự thành khẩn, ăn năn hối cải, gia đình và người thân đã hỗ trợ nộp số tiền 10 triệu đồng khắc phục hậu quả cho bị hại. Bị hại không có yêu cầu gì đối với bị cáo. Đề nghị HĐXX áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin HĐXX cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt;

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

[1] Về thủ tục tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa,bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại đều không có khiếu nại gì về hành vi, về quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Đặng Anh T thành khẩn khai nhận: Tối ngày 27/5/2018 bị cáo cùng với Nguyễn Thanh C dự đám đầy năm con một người bạn, sau khi ăn cơm xong C rủ bị cáo đi đến quán P1 để tìm Nguyễn Văn S(B) là người mà C đang thù tức để giải quyết mâu thuẫn. Tại đây, bị cáo cùng với C đã có mâu thuẫn, xô sát vật lộn, đánh nhau với S từ tầng 4 xuống tầng 1. Khi ở khu vực của tầng 1 ở quán P1, bị cáo chửi bới, thách thức đánh nhau với S và đã dùng súng bắn về phía S, lúc này khoảng cách giữa bị cáo và S là 6,1m với tầm nhìn không bị che khuất, ánh sáng đèn điện đủ để quan sát, bị cáo đã chĩa súng ngang, song song mặt đất, vuông góc với bị hại và nổ súng về phía bị hại.

Với tư thế và khoảng cách này tại Kết luận số 67/C09(P3) ngày 10/01/2023 của V1- Bộ C2 thì: khi bắn vào cơ thể người sẽ gây chết hoặc bị thương.

Như vậy, với khoảng cách như trên bị cáo sẽ không có khả năng kiểm soát được đường đạn do mình bắn ra; nên anh S không trúng đạn, không chết, không có vết thương nào là nằm ngoài ý thức của bị cáo.

Do đó, HĐXX đủ căn cứ để kết luận: Bị cáo Đặng Anh T đã phạm tội Giết người theo điểm n, khoản 1 Điều 123 BLHS và cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất của vụ án: Vụ án có tính chất đặc biệt nghiêm trọng. Mâu thuẫn giữa Chung M3S(Bơ L2) không liên quan đến bị cáo nhưng khi được rủ đi giải quyết mâu thuẫn cùng bị cáo đã đi và dùng súng tấn công S. S không trúng đạn là nằm ngoài ý thức chủ quan của bị cáo. Hành vi của bị cáo là coi thường tính mạng của người khác, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội, làm cho quần chúng nhân dân hoang mang lo sợ khi hiện nay đã manh nha một bộ phận thanh niên có hành vi dùng súng, hung khí nguy hiểm để giải quyết mâu thuẫn. Do đó cần xử phạt nghiêm bị cáo, để răn đe phòng ngừa, làm gương trong xã hội và bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có thương tích, không xuát trình tài liệu thể hiện có thiệt hại cụ thể cũng không yêu cầu bị cáo bồi thường tuy nhiên hành vi của bị cáo phần nào ảnh hưởng đến tinh thần, tư tưởng bị hại. Tại phiên tòa người thân và gia đình bị cáo đã nộp vào Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa số tiền 10.000.000đ để bồi thường cho bị hại, bị hại hoàn toàn đồng ý và không có ý kiến gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo nên công nhận về bồi thường dân sự đã xong, không xét.

[5] Nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ:

  • + Bị cáo không chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;
  • + Bị cáo thành khẩn khai nhận tội, tỏ rõ sự ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả nên được hưởng hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS;

Bị cáo phạm tội trong trường hợp chưa đạt, có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS nên căn cứ Điều 50, Điều 54, Điều 57 để xem xét về hình phạt cho bị cáo được công bằng, khách quan, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta, cũng phù hợp với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá.

[6] Các tình tiết khác:

Nguyễn Thanh C có hành vi sử dụng súng có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí quân dụng bắn 01 phát nhằm uy hiếp Nguyễn Văn S chưa đến mức xử lý hình sự, Phòng CSHS Công an tỉnh T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với C về hành vi này.

Đối với việc Đặng Anh T dùng súng bắn về phía Nguyễn Văn S tại tầng 1 quán karaoke P thì lúc này Nguyễn Thanh CPhạm Thế A đang trốn trong phòng hát tại tầng 2 của quán nên không biết sự việc. Tài liệu điều tra xác định C và Thế A không có hành vi xúi giục, kích động Đặng Anh T bắn Nguyễn Văn S. Do vậy, không có căn cứ xử lý Nguyễn Thanh CPhạm Thế A đồng phạm với Đặng Anh T.

Đối vớicác đối tượng Nguyễn Văn S; Nguyễn Viết V; Nguyễn Mạnh H2Đàm Cảnh M1 đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa xét xử tại bản án hình sự sơ thẩm số 42/2019/HSST ngày 17/4/2019 và tuyên phạt Nguyễn Văn S 11 tháng tù giam; Nguyễn Viết VNguyễn Mạnh H2 cùng 10 tháng tù giam; Đàm Cảnh M1 9 tháng tù giam cùng về tội Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, Bản án đã có hiệu lực pháp luật. Do vậy không xem xét.

[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Toàn bộ các vật chứng trong vụ án đã được xử lý tại bản án số 42/2019/HSST ngày 17/4/2019 của TAND Tỉnh Thanh Hoá.

[8]Về án phí: Áp dụng Điều 21, điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Đặng Anh T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1]Căn cứ: Điểm n Khoản 1 Điều 123 BLHS; điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 15, Điều 50, Điều 54, khoản 3 Điều 57 BLHS:

Tuyên bố: Bị cáo Đặng Anh T phạm tội “Giết người”

Xử phạt: Bị cáo Đặng Anh T: 6 năm (sáu ) năm tù, Thời hạn tù được tính từ ngày 24 tháng 8 năm 2023. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo việc thi hành án.

[2] Về trách nhiệm dân sự : Công nhận bị cáo đã thi hành xong bồi thường dân sự cho bị hại số tiền 10.000.000đ(mười triệu đồng) theo biên lai thu số 0000026 ngày 20/12/2023 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa ;

[3]Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Toàn bộ các vật chứng trong vụ án đã được xử lý tại bản án số 42/2019/HSST ngày 17/4/2019 của TAND Tỉnh Thanh Hoá.

[4] Về án phí: Áp dụng Điều 21, điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án:Buộc bị cáo Đặng Anh T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm

[5] Quyền kháng cáo: Bị cáo Đặng Anh T và bị hại anh Nguyễn Văn S được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND cấp cao tại HN;
  • - VKSND, Cục THA Dân sự tỉnh Thanh Hoá;
  • - CQCSĐT CA tỉnh Thanh Hoá;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo, Bị hại; Người bào chữa;
  • - Lưu HSVA;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Phương Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 302/2023/HSST ngày 20/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về giết người

  • Số bản án: 302/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Giết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Anh T "Tội giết người"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger