|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 302/2023/HS-ST Ngày 26-12-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG – TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Bình.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Lê Thu Thuý
- Ông Nguyễn Xuân Lập
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Ngọc, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Phương Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 256/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 316/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đối với bị cáo:
Họ và tên: Đặng Hùng V; tên gọi khác: không; giới tính: Nam; sinh ngày 15/4/1997, tại Q, tỉnh Quảng Ninh; Nơi cư trú: Thôn C, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: Lớp 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Đặng Văn M và bà Đàm Thị C; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: chưa có; bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh đến khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm; hiện tại ngoại tại nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
- Người đại diện của bị hại: Anh Giàng A C1, sinh năm 2001;
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh
Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Sùng A C2, sinh năm 1999;
Địa chỉ: thôn P, Làng A, xã T, huyện T, tỉnh Điện Biên.
Vắng mặt tại phiên tòa.
2. Anh Nguyễn Đức B, sinh năm 2000;
Địa chỉ: Tổ A, khu B, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh;
Vắng mặt tại phiên tòa
- Người làm chứng:
Ông Lê Xuân M1, sinh năm 1941;
Địa chỉ: Tổ D, khu F, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 40 phút ngày 21/5/2023, Đặng Hùng V (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe môtô biển kiểm soát (BKS)14Y1-237.52 đi từ Quảng trường 30/10, phường H, thành phố H về nhà tại thị xã Q. Bị cáo điều khiển xe môtô đi trên Quốc lộ A, hướng từ ngã tư L đi ngã tư A, thành phố H. Khi V điều khiển xe đến Km115+300, quốc lộ A (qua cầu B) đoạn hết dải phân cách cứng bê tông phân chia giữa làn đường xe ôtô với làn đường dành cho xe máy, xe đạp, đến vạch sơn liền nét phân chia giữa hai làn đường. V điều khiển xe môtô chuyển làn, đi sang làn đường dành cho xe ôtô. Đến khoảng 22 giờ 10 phút cùng ngày, V điều khiển xe đến đoạn Km 114 + 600, thuộc tổ H, khu A, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh. Do V điều khiển xe môtô không chú ý quan sát, đi không đúng làn đường quy định, nên xe môtô do V điều khiển đã đâm vào phần phía sau bên trái xe môtô BKS 27B1-852.70 do anh Giàng A C1 (sinh năm: 1997, trú tại: thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Điện Biên), không có giấy phép lái xe, phía sau chở vợ là chị Chang Thị L (sinh năm: 1998, trú cùng điạ chỉ) đang sang đường, từ phải sang trái theo hướng V điều khiển xe môtô. Hậu quả: Chị Chang Thị L và V bị thương được đưa đi cấp cứu, anh C1 bị thương nhẹ. Đến ngày 22/05/2023 chị L tử vong, hai xe mô tô bị hư hỏng.
Khám nghiệm hiện trường và xác minh hệ thống biển báo giao thông thể hiện:
Tai nạn xảy ra tại đường Quốc lộ 18 là đường đôi, có dải phân cách giữa, phân chia hai chiều đường riêng biệt, mặt đường bê tông nhựa, thẳng, có ánh sáng đèn điện đường. Phía trước nơi xảy ra tai nạn theo hướng từ ngã tư L về phía ngã tư A có đặt giá long môn treo các biển báo “Đường dành cho xe ô tô”, biển số R.403a; biển báo “Đường dành cho xe máy và xe đạp”, biển số R.403f; trên lề đường bên phải theo hướng đi ngã tư A có cắm biển báo “Đường dành cho xe máy và xe đạp”, biển số R.403f. Tai nạn xảy ra trên chiều đường hướng từ phía cầu B về ngã tư A, rộng 23 mét, được chia thành 04 làn đường bằng các vạch kẻ đường, trong đó vạch sơn phân chia giữa làn đường xe đạp, xe thô sơ là vạch liền nét màu trắng, kéo dài về phía cầu B. Tại nơi xảy ra tai nạn, dải phân cách giữa ngắt quãng, khoảng cách giữa hai đầu dải phân cách ngắt quãng là 39,6 mét, trên mỗi đầu ngắt quãng của dải phân cách có cắm biển báo P.102 “Cấm đi ngược chiều”; biển báo R.302 “Hướng phải đi vòng chướng ngại vật”. Tại vị trí đầu dải phân cách ngắt quãng có các vạch sơn dành cho người đi bộ qua đường. Trên mặt đường có vết tỳ miết màu đen, kí hiệu vết (1), kích thước (1,8x0,1) mét, hướng cầu B về ngã tư A, phải sang trái, đầu và cuối vết đo đến mép đường bên trái theo hướng từ cầu B về ngã tư A (chọn làm mép đường chuẩn) lần lượt là 4 mét và 3 mét. Từ điểm đầu vết (1) đo về phía cầu B chiếu vuông góc với cột Km H6/114 trên dải phân cách giữa (chọn làm mốc cố định) và đo đến đầu dải phân cách giữa ngắt quãng gần nhất lần lượt là 3 mét và 3,5 mét. Cách điểm cuối vết (1) đo về ngã tư A 2,75 mét là điểm đầu đám vết trượt xước trên mặt đường và dải phân cách giữa, kí hiệu vết (2), kích thước (4,6x1,1) mét, có hướng cầu B về ngã tư A, gần nhất của vết (2) đo đến mép đường chuẩn là 0,5 mét, cuối trùng với vị trí xe môtô BKS 27B1-852.70 nằm đổ trên dải phân cách giữa. Xe môtô BKS 27B1-852.70 bị đổ nghiêng sang trái, đầu xe hướng về cầu B và chếch sang phải, trục bánh trước và trục bánh sau xe môtô đo đến mép đường chuẩn lần lượt là 0,9 mét và 0,3 mét. Cách điểm đầu vết tỳ miết màu đen về ngã tư A 5,3 mét là điểm đầu vết trượt xước không liên tục có tổng chiều dài là 30,1 mét, chỗ rộng nhất 1,1 mét, có hướng từ cầu B về ngã tư A, đầu vết cách mép đường chuẩn là 5,1 mét, cuối trùng với vị trí xe môtô BKS 14Y1-237.52 bị đổ trên mặt đường. Xe môtô BKS 14Y1-237.52 bị đổ nghiêng sang phải, đầu xe hướng về dải phân cách giữa, trục bánh trước và trục bánh sau xe mô tô đo đến mép đường chuẩn lần lượt là 4,85 mét và 5,85 mét. Cách trục bánh sau xe môtô BKS 27B1-852.70 về ngã tư A 4,8 mét có đám máu không rõ hình, kích thước (2,4x1,6) mét, từ tâm đo đến mép đường chuẩn là 0,8 mét. Cách tâm đám máu về ngã tư A 18,8 mét có đám máu không rõ hình thứ hai, kích thước (1x0,6) mét, từ tâm đo đến mép đường chuẩn là 3,7 mét. Từ vị trí xe môtô BKS 27B1-852.70 nằm đổ đến vị trí xe mô tô BKS 14Y1-237.52 nằm đổ có đám mảnh nhựa vỡ rải rác, diện (25,8x3,5) mét (Bút lục số: 27, 28, 77).
Khám nghiệm xe môtô BKS 14Y1-237.52 có dấu vết: Chắn bùn bánh trước, mặt nạ xe, cụm đèn chiếu sáng, xi nhan trước hai bên, ốp nhựa đầu xe bị vỡ hỏng, bật rời khỏi vị trí. 02 càng giảm xóc trước bị cong hướng trước sau, phải trái. Mặt trước ốc hãm vai giảm xóc trước với khung xe có vết tỳ xước kim loại bám dính chất màu xanh, kích thước (14x4)cm, hướng trước sau, thấp nhất cách đất 62cm. Phía bên phải mặt lăn, má bên phải lốp bánh trước có đám vết tỳ xước cao su, kích thước (16x4)cm, hướng ngoài vào tâm, ngược chiều kim đồng hồ. Thẳng hướng vết này vào phía trong, cạnh bên phải vành bánh trước bị tỳ xước, bẹp lõm kim loại dài 16cm, hướng ngoài vào tâm, điểm lõm sâu nhất cách đĩa phanh bánh trước 5cm. Mặt ngoài phía bên phải đĩa phanh có vết tỳ xước kim loại, kích thước (3x0,5)cm, hướng ngoài vào tâm. Khung bắt mặt nạ bị cong gập hướng trước sau. Cạnh bên trái vành bánh trước có vết cong lõm kim loại dài 6cm, hướng ngoài vào tâm. Hệ thống lái còn liên kết chắc chắn. Phanh bánh trước có đủ các bộ phận, không kiểm tra được do bánh bị kẹt, bóp tay phanh thấy có lực đàn hồi. Phanh sau có đầy đủ các bộ phận, kiểm tra có tác dụng. (Bút lục số: 29, 30)
Khám nghiệm xe môtô BKS 27B1-852.70 có dấu vết: Mặt lăn lốp bánh trước có vết mài xước cao su trên 1/2 cung tròn của lốp, rộng nhất là 5cm. Cụm đồng hồ bị nứt vỡ mặt kính, ốp nhựa. Cạnh phía trên bên trái mặt nạ xe và cánh yếm phía dưới liền kề bị mài xước nhựa, diện (25x5)cm, hướng trước sau, trên dưới. Phía bên trái tay ghi đông bị cong hướng trước sau, trên dưới, điểm cong gập cách đầu cùng bên trái tay ghi đông 25cm. Đầu giá để chân trước trái bị mài xước dính chất bột mầu trắng, kích thước (1x1)cm. T kim loại lắp thêm trên khung bắt giá để chân sau bên trái bị cong gập, trên dưới, đầu ngoài bị mài xước kim loại dính chất bột màu trắng, kích thước (2x5)cm. Ở tư thế gập vào, mặt ngoài giá để chân sau trái bị mài xước kim loại trên diện (8x1,5)cm, hướng trước sau. Khung xe phía sau bên trái bị tỳ xước, bẹp lõm kim loại, kích thước (26x6)cm, hướng trái phải làm xích xe bị tuột khỏi vị trí. Đầu bên trái bu lông trục bánh sau và mặt ngoài phần phía sau khung xe bên trái bị mài xước kim loại, kích thước (7x2)cm. Xi nhan sau bên trái bị bật rời khỏi vị trí còn liên kết với xe bằng dây điện. (Bút lục số: 31, 32)
Bản kết luận giám định pháp y số: 132 ngày 23/5/2023 của Trung tâm pháp y, Sở Y, kết luận: Nguyên nhân chết của chị Chang Thị L là do: Chấn thương sọ não kín, tụ máu ngoài màng cứng, chảy máu khoang dưới nhện, phù não, chết não - Chấn thương hàm mặt + Chấn thương ngực kín. (Bút lục số: 108 – 115)
Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 442 ngày 23/6/2023 của Trung tâm pháp y, Sở Y, kết luận: Đặng Hùng V bị tổn thương 58% (năm mươi tám phần trăm) cơ thể. (Bút lục số: 122 – 128).
Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể ngày 22/5/2023, xác định anh Giàng A C1 có các thương tích do tai nạn ngày 21/5/2023 gây ra gồm: xây xước da mặt trước cổ tay phải trên diện (3x1) cm; xây xước da mặt trước cổ chân trái trên diện (10x0,5) cm. (Bút lục số: 91 - 95).
Kết luận định giá tài sản số 99/KLĐGTS ngày 09/6/2023, của Hội đồng định giá tài sản thành phố H, kết luận: Giá trị thiệt hại của 01 (một) chiếc xe môtô BKS 27B1-852.70 là 2.801.000 đồng (Hai triệu tám trăm linh một nghìn đồng); của 01 (một) chiếc xe môtô BKS 14Y1-237.52 là 2.783.000 đồng (Hai triệu bảy trăm tám mươi ba nghìn đồng). (Bút lục số: 143, 144)
Tại Bản kết luận giám định số 897/KL-KTHS ngày 30/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh Q, kết luận: Xe mô tô biển số 14Y1-237.52 và xe môtô biển số 27B1-852.70 có va chạm với nhau. Vị trí va chạm giữa hai xe tại mặt trước bánh lốp trước xe môtô biển số 14Y1-237.52 với mặt ngoài khung càng sau bên trái xe môtô biển số 27B1-852.70. Dấu vết trượt xước cao su mặt lăn; trượt xước, biến dạng, rách kim loại mất sơn vành ở bánh lốp trước xe môtô biển số 14Y1-237.52 có chiều từ mặt lăn vào tâm trục. Dấu vết trượt xước kim loại bám dính chất màu đen (dạng sơn) ở đầu ngoài bulong đầu trục bánh sau bên trái; dấu vết cong vênh, biến dạng kim loại ở mặt ngoài khung càng sau bên trái xe môtô biển số 27B1-852.70 có chiều hướng từ trái sang phải. Khi va chạm hai xe đang di chuyển trên đường. Xe mô tô biển số 27B1-852.70 di chuyển phía trước tương đối vuông góc so với hướng di chuyển của xe mô tô 14Y1-237.52. (Bút lục số: 134)
Kết quả rà soát camera: Trước trụ sở đội Cảnh sát giao thông số B1, phòng C3, đường sắt Công an tỉnh Q nằm bên phải Quốc lộ A theo hướng từ phía ngã tư A về phía ngã tư L thuộc tổ H, khu A, phường B, thành phố H có lắp Camera an ninh hướng ra Quốc lộ A, ghi lại được diễn biến vụ tai nạn, cụ thể: Có 01 (một) xe mô tô đi trên chiều đường hướng cầu B đi ngã tư A Cá đâm vào 01 (một) xe mô tô đi sang đường (từ phải sang trái theo chiều đi của xe mô tô liên quan). Thời gian trên camera trùng với thời gian thực tế. (Bút lục số: 96 - 104).
Người làm chứng Lê Xuân M1 có lời khai chứng kiến hậu quả tai nạn xảy ra sau khi nghe thấy tiếng động do va chạm xe vào lúc 22 giờ 10 phút tại khu vực tổ H, khu A, phường B, thành phố H.
Tại bản Cáo trạng số 258/CT-VKS-ĐT ngày 20 tháng 11 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Đặng Hùng V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung bản Cáo trạng; đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Đặng Hùng V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Hùng V 15 đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 đến 36 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã S, thị xã Q cùng gia đình có trách nhiệm phối hợp trong việc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: trả 01 giấy phép lái xe cho bị cáo.
Trong quá trình điều tra, người đại diện của bị hại anh Giàng A C1 có lời khai thể hiện quan điểm: giữa bị cáo Đặng Hùng V với gia đình bị hại đã giải quyết dứt điểm vấn đề bồi thường dân sự; đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng miễn giảm trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và không còn yêu cầu hay đề nghị gì khác đối với Đặng Hùng V.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Sùng A C2 trình bày: chiếc xe mô tô biển kiểm soát 27B1-852.70 là của anh cho anh Giàng A C1 mượn để đi đón vợ là chị Chang Thị L. Khi hỏi mượn, anh Giàng A C1 có nói là có giấy phép lái xe rồi nên anh đã cho mượn. Anh đã được nhận lại xe và không có yêu cầu bồi thường đối với thiệt hại về tài sản.
Anh Nguyễn Đức B trình bày: chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại WINER biển kiểm soát 14Y1-23752 anh mua lại của anh Bùi Minh H (Q, U) vào khoảng tháng 01/2023. Ngày 18/5/2023, anh đã bán lại cho Đặng Hùng V với giá 19.000.000 đồng nên hiện tại anh T1 không còn quản lý, sử dụng chiếc xe mô tô trên.
Quá trình điều tra và tại phiên toà, Đặng Hùng V khai nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng truy tố. Bị cáo không tranh luận và không trình bày lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an thành phố H và điều tra viên; của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long và kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra và truy tố, cơ quan Điều tra Công an thành phố H và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra và truy tố. Vì vậy, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về đánh giá chứng cứ:
Tại phiên tòa, bị cáo Đặng Hùng V khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời khai này phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của những người làm chứng. Lời khai của bị cáo còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ thể hiện trong hồ sơ vụ án như: biên bản, sơ đồ, bản ảnh khám nghiệm hiện trường; biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông ... Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 22 giờ 10 phút ngày 21/5/2023, tại đoạn đường tại Km 114+600, quốc lộ A, thuộc tổ H, khu A, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Đặng Hùng V (có giấy phép lái xe hợp lệ) điều khiển xe môtô BKS 14Y1-237.52. Do không chú ý quan sát, không chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ, đi không đúng làn đường quy định, dẫn đến xe môtô do V điều khiển đã đâm vào phần phía sau bên trái xe môtô BKS 27B1-852.70 do anh Giàng A C1 điều khiển, phía sau chở vợ là chị Chang Thị L đang đi sang ngang đường (từ phải sang trái theo hướng đi của xe mô tô BKS 14Y1-237.52). Hậu quả: Chị Chang Thị L tử vong, xe môtô BKS 27B1-852.70 bị hư hỏng thiệt hại 2.801.000 đồng (Hai triệu tám trăm linh một nghìn đồng).
[3] Hành vi nêu trên của bị cáo Đặng Hùng V đã vi phạm khoản 1 Điều 9 và khoản 1 Điều 11 Luật Giao thông đường bộ; trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ - là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Bị cáo là người đã trưởng thành, được đào tạo và cấp giấy phép lái xe ô tô theo quy định, nên bị cáo là người hiểu rất rõ những quy định của Luật giao thông đường bộ và trách nhiệm của người tham gia giao thông là phải nghiêm chỉnh chấp hành các quy định đó. Hậu quả: Chị Chang Thị L bị tử vong, xe mô tô 27B1-852.70 bị hư hỏng thiệt hại 2.801.000 đồng (Hai triệu tám trăm linh một nghìn đồng). Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
[4] Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long và quan điểm của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước tại phiên tòa theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là hoàn toàn có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan. Việc đưa bị cáo ra xét xử công khai và áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra là cần thiết.
[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: không có.
Tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn; chủ động bồi thường thiệt hại cho người bị hại; gia đình người bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên được hường các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Về quyết định hình phạt:
Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như trên nên có thể xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt. Mặt khác, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, căn cứ vào khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự và theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 (sửa đổi, bổ sung Nghị quyết 01/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018) của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo, có thể cho bị cáo được hưởng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện.
[7] Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8]Về trách nhiệm dân sự:
Thiệt hại về người và tài sản đã được bị cáo và gia đình người bị hại giải quyết xong, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập xử lý; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu giải quyết thiệt hại về tài sản, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[9]Về vật chứng vụ án:
Vật chứng vụ án là xe mô tô biển kiểm soát 27B1-852.70 là tài sản hợp pháp của anh Sùng A C2 và xe mô tô biển kiểm soát 14Y1-237.52 là tài sản của bị cáo. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã trả lại cho các chủ sở hữu hợp pháp, Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
[10]Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[11]Về quyền kháng cáo: bị cáo, đại diện hợp pháp người bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[12]Các vấn đề khác:
Đối với hành vi điều khiển xe môtô không có giấy phép theo quy định định của anh Giàng A C1, Công an thành phố H đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Giàng A C1.
Đối với hành vi giao xe mô tô cho Giàng A C1 điều khiển của anh Sùng A C2: khi mượn xe, anh C1 có nói mình có giấy phép lái xe nên anh đã cho mượn. Hành vi này không có lỗi nên không có căn cứ giải quyết.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Đặng Hùng V phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt: bị cáo Đặng Hùng V 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách; gia đình bị cáo Đặng Hùng V có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Đặng Hùng V;
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Áp dụng: Khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Đặng Hùng V phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Báo cho anh G A C1 và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Bình |
Bản án số 302/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG – TỈNH QUẢNG NINH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 302/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG – TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 22 giờ 10 phút ngày 21/5/2023, tại đoạn đường tại Km 114+600, quốc lộ A, thuộc tổ H, khu A, phường B, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Đặng Hùng V (có giấy phép lái xe hợp lệ) điều khiển xe môtô BKS 14Y1-237.52. Do không chú ý quan sát, không chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ, đi không đúng làn đường quy định, dẫn đến xe môtô do V điều khiển đã đâm vào phần phía sau bên trái xe môtô BKS 27B1-852.70 do anh Giàng A C1 điều khiển, phía sau chở vợ là chị Chang Thị L đang đi sang ngang đường (từ phải sang trái theo hướng đi của xe mô tô BKS 14Y1-237.52). Hậu quả: Chị Chang Thị L tử vong, xe môtô BKS 27B1-852.70 bị hư hỏng thiệt hại 2.801.000 đồng (Hai triệu tám trăm linh một nghìn đồng).
