Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số: 3012/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 10/7/2024

V/v tranh chấp về ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Lượng
  2. Ông Huỳnh Tiến Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Ngọc Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã xét xử công khai vụ án thụ lý số 2445/2023/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3117/2024/QĐXXST–HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 4070/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Hồ Thị H, sinh năm: 1987.

Địa chỉ: 3 đường số A, khu phố C, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Đức C, sinh năm: 1969.

Địa chỉ: 3 đường số A, khu phố C, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn, trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Hồ Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Đức C tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2008, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 86, quyển số 01/2008 do UBND phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 02/7/2008. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống khá hạnh phúc. Tuy nhiên, một thời gian sau thì thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, gây gổ, cãi vã. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, công việc và tình cảm. Rất nhiều lần, cả hai đã cùng nói chuyện với nhau để hàn gắn tình cảm, cùng nhau xây dựng cuộc sống gia đình và nuôi dạy con chung nhưng mâu thuẫn giữa hai bên vẫn không được cải thiện. Vợ chồng không còn tìm được tiếng nói chung, sự chia sẻ và cảm thông. Hiện nay, bà và ông C đã không còn sống chung với nhau. Bà lo sợ vợ chồng hay cãi vã sẽ ảnh hưởng đến con cái, đồng thời bà cũng xác định không còn tình cảm với ông C nên yêu cầu Tòa án giải quyết dứt khoát cho bà được ly hôn.

- Về con chung: Bà và ông Nguyễn Đức C có 02 con chung tên Nguyễn Hồ Ngọc Bảo T, sinh ngày: 17/9/2010 và Nguyễn Hồ Thảo M, sinh ngày: 19/11/2012. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung. Bà có nơi ở ổn định và có tiệm làm tóc nên có khả năng, thời gian nuôi dưỡng, chăm sóc các con chung. Hiện, các con chung đang ở với bà, thời gian qua, một mình bà nuôi con, ông C không đóng góp công sức tuy nhiên các con càng lớn cần thêm chi phí nên bà yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi mỗi con chung 2.500.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Bà không đồng ý với yêu cầu của ông C về việc yêu cầu nuôi con chung tên Nguyễn Hồ Ngọc Bảo T, sinh ngày: 17/9/2010, vì cả 02 cháu là đều con gái, cần sự chia sẻ với nhau và cần sự gần gũi, chăm sóc của mẹ.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có.

* Trong quá trình tố tụng, bị đơn ông Nguyễn Đức C trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông xác nhận lời trình bày của bà Hồ Thị H về thời điểm chung sống, về thời điểm kết hôn là sự thật. Do bà H tự ý cùng các con chuyển ra ngoài sống. Giữa cuộc sống vợ chồng chỉ phát sinh những mâu thuẫn nhỏ, thường ngày, ông vẫn còn tình cảm, thương yêu vợ con nên không đồng ý ly hôn.

- Về con chung: Ông và bà Hồ Thị H có 02 con chung tên Nguyễn Hồ Ngọc Bảo T, sinh ngày: 17/9/2010 và Nguyễn Hồ Thảo M, sinh ngày: 19/11/2012. Ông yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Hồ Ngọc Bảo T, sinh ngày: 17/9/2010 và giao con chung tên Nguyễn Hồ Thảo M, sinh ngày: 19/11/2012 cho bà H nuôi dưỡng. Không ai cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức trình bày quan điểm về giải quyết vụ án:

- Từ khi thụ lý cho đến khi xét xử, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã tuân thủ đúng theo các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp, đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hồ Thị H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại tòa, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức nhận định:

1. Về tố tụng:

Hồ Thị H xin ly hôn với ông Nguyễn Đức C, căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Ông C hiện đang cư trú tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ đối với bị đơn ông Nguyễn Đức C, yêu cầu ông C đến Tòa để tham gia phiên tòa xét xử vụ án. Phiên tòa được mở lần thứ 02 nhưng ông C vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn ông Nguyễn Đức C.

Nguyên đơn bà Hồ Thị H có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Hồ Thị H.

2. Về nội dung:

- Về hôn nhân: Bà Hồ Thị H và ông Nguyễn Đức C tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 86, quyển số 01/2008 do UBND phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 02/7/2008. Căn cứ vào khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình thì hôn nhân của bà H và ông C được công nhận là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.

Hội đồng xét xử xét thấy: Tòa án đã tạo điều kiện về thời gian, đồng thời tiến hành hòa giải, động viên để các bên có thể nhìn nhận lại tình cảm, bỏ qua cho nhau những mâu thuẫn trong cuộc sống, hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng bà Hồ Thị H vẫn cương quyết ly hôn. Ông C không đồng ý ly hôn vì còn tình cảm vợ chồng, không muốn gia đình tan vỡ. Xét thấy, bà H và ông C đã không còn chung sống với nhau, đến thời điểm hiện tại, tình cảm giữa bà H và ông C vẫn không có tiến triển tốt, cuộc sống hôn nhân mệt mỏi, gây nhiều áp lực về tinh thần. Như vậy, mặc dù ông C không đồng ý ly hôn nhưng từ phía bà H đã không còn tình cảm để hàn gắn, cuộc sống hôn nhân gây áp lực, mệt mỏi, chứng tỏ rằng mục đích hôn nhân đã không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài do đó yêu cầu xin ly hôn của bà H là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

- Về con chung: Bà Hồ Thị H và ông Nguyễn Đức C có 02 con chung tên Nguyễn Hồ Ngọc Bảo T, sinh ngày: 17/9/2010 và Nguyễn Hồ Thảo M, sinh ngày: 19/11/2012. Bà H yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con chung và yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi mỗi con chung 2.500.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Ông C yêu cầu được nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Hồ Ngọc Bảo T, sinh ngày: 17/9/2010 và giao con chung tên Nguyễn Hồ Thảo M, sinh ngày: 19/11/2012 cho bà H nuôi dưỡng; không ai cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét thấy, bà H và ông C đều có chỗ ở, công việc, thu nhập ổn định, có thời gian, khả năng chăm sóc các con chung. Tuy nhiên, các con chung là con gái, đang trong giai đoạn cần được sự chăm sóc, gần gũi của người mẹ và cần sự gắn kết, chia sẻ giữa chị em với nhau. Thời gian qua, các con chung sống chung với bà H, được nuôi dưỡng, giáo dục tốt; các con chung đều trình bày nguyện vọng muốn sống cùng mẹ. Do đó để đảm bảo điều kiện tốt và ổn định để con chung phát triển về thể chất, tinh thần nên giao 02 con chung cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng.

Về yêu cầu cấp dưỡng: Bà H yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi mỗi con chung 2.500.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Xét đây là yêu cầu cần thiết và phù hợp để nuôi dưỡng, chăm sóc các con chung nên buộc ông C có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà H và ông C xác định không có và không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Hồ Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Ông Nguyễn Đức C phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 9; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hồ Thị H.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Hồ Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Đức C (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 86, quyển số 01/2008 do UBND phường L, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 02/7/2008).
    • - Về con chung: Giao 02 con chung Nguyễn Hồ Ngọc Bảo T, sinh ngày: 17/9/2010 và Nguyễn Hồ Thảo M, sinh ngày: 19/11/2012 cho bà Hồ Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
    • Ông Nguyễn Đức C có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi 02 con chung tên Nguyễn Hồ Ngọc Bảo T, sinh ngày: 17/9/2010 và Nguyễn Hồ Thảo M, sinh ngày: 19/11/2012, mỗi con chung 2.500.000 (Hai triệu năm trăm nghìn) đồng/tháng cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi. Việc cấp dưỡng được thực hiện ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
    • Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án tương ứng với thời gian chậm thi hành tại thời điểm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
    • Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
    • Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi khi có lý do chính đáng.
    • - Về tài sản chung và nợ chung: Bà H và ông C xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Về án phí hôn nhân và gia đình:
    • Hồ Thị H phải chịu án phí ly hôn là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà H đã nộp là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu số AA/2023/0005717 ngày 16/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức. Bà H đã nộp đủ án phí.
    • Ông Nguyễn Đức C phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
    • Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cần thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  3. Quyền kháng cáo:

Hồ Thị H, ông Nguyễn Đức C được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hồng Nga

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - THA DS TP. Thủ Đức;
  • - TATP;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường Linh Trung, TP. Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh;
  • - Lưu.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 3012/2024/HNGĐ-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về ly hôn

  • Số bản án: 3012/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger