Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số: 3011/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 10/7/2024

V/v tranh chấp về ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Nga

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Nguyễn Thị Hương
  2. Ông Huỳnh Tiến Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Ngọc Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Võ Cao Hùng – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã xét xử công khai vụ án thụ lý số 2597/2023/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp về ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3088/2024/QĐXXST–HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 4069/2024/QÐST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Bích L, sinh năm: 1975.
  2. Địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang. (vắng mặt)

  3. Bị đơn: Ông Hồ Minh T, sinh năm: 1984.
  4. Địa chỉ: 3 đường số A, khu phố C, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn, trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Bích L trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Hồ Minh T tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2015, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 03/2015, quyển số 01/2015 do UBND xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 02/3/2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống khá hạnh phúc. Tuy nhiên, sau đó thì thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, gây gổ, cãi vã. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, công việc và tình cảm. Rất nhiều lần, cả hai đã cùng nói chuyện với nhau để hàn gắn tình cảm, cùng nhau xây dựng cuộc sống gia đình và nuôi dạy con chung nhưng mâu thuẫn giữa hai bên vẫn không được cải thiện. Vợ chồng không còn tìm được tiếng nói chung, sự chia sẻ và cảm thông. Hiện nay, bà và ông T đã không còn sống chung với nhau. Nay, bà xác định không còn tình cảm với ông T nên yêu cầu Tòa án giải quyết dứt khoát cho bà được ly hôn để ổn định cuộc sống.

- Về con chung: Bà và ông Hồ Minh T có 01 con chung tên Hồ Minh T1, sinh ngày: 12/4/2015. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có.

* Bị đơn ông Hồ Minh T đã vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ đến khi xét xử mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức trình bày quan điểm về giải quyết vụ án:

- Từ khi thụ lý cho đến khi xét xử, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức đã tuân thủ đúng theo các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp, đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Bích L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại tòa, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức nhận định:

1. Về tố tụng:

Nguyễn Bích L xin ly hôn với ông Hồ Minh T, căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Ông T hiện đang cư trú tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý và tiến hành triệu tập đối với bị đơn ông Hồ Minh T, yêu cầu ông T đến Tòa để cung cấp lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, xét xử vụ án. Phiên tòa được mở lần thứ 02 nhưng ông T vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị đơn ông Hồ Minh T.

Nguyên đơn bà Nguyễn Bích L có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa, căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn bà Nguyễn Bích L.

2. Về nội dung:

- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Bích L và ông Hồ Minh T tự nguyện chung sống với nhau, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 03/2015, quyển số 01/2015 do UBND xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 02/3/2015. Căn cứ vào khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình thì hôn nhân của bà L và ông T được công nhận là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.

Hội đồng xét xử xét thấy: Bà Nguyễn Bích L yêu cầu được ly hôn với ông Hồ Minh T vì vợ chồng không còn lòng tin và sự chia sẻ với nhau; bà và ông T đã nhiều lần cùng nói chuyện để giải quyết mâu thuẫn nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không có tiến triển tốt. Xét thấy, Tòa án đã tạo điều kiện để ông T đến Tòa làm việc, tiến hành hòa giải để hai bên đoàn tụ nhưng ông T đều vắng mặt không có lý do là đã không thể hiện ý chí muốn hàn gắn tình cảm. Bà L trình bày cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, rất mệt mỏi, gây nhiều áp lực về tinh thần, bà đã không còn tình cảm và cũng không còn chung sống với ông T. Như vậy, hôn nhân giữa bà L và ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó yêu cầu xin ly hôn của bà L là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

- Về con chung: Bà Nguyễn Bích L và ông Hồ Minh T có 01 con chung tên Hồ Minh T1, sinh ngày: 12/4/2015. Bà L yêu cầu được nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.

Xét thấy bà L có thu nhập, nơi ở ổn định, có thời gian và khả năng chăm sóc con chung; con chung trình bày nguyện vọng muốn sống với mẹ. Ông T không đến Tòa để trình bày ý kiến về việc nuôi dưỡng con chung. Do đó để bảo đảm môi trường sống ổn định và điều kiện tốt để con chung phát triển về thể chất, tinh thần nên giao con chung cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng.

L không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà L xác định không có và không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Bích L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 9; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Bích L.
    • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Bích L được ly hôn với ông Hồ Minh T (Theo Giấy chứng nhận kết hôn số 03/2015, quyển số 01/2015 do UBND xã P, huyện T, tỉnh Tiền Giang cấp ngày 02/3/2015).
    • - Về con chung: Giao con chung tên Hồ Minh T1, sinh ngày: 12/4/2015 cho bà Nguyễn Bích L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
    • Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Bích L về việc không yêu cầu ông Hồ Minh T cấp dưỡng nuôi con chung.
    • Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
    • Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con. Việc cấp dưỡng nuôi con có thể thay đổi khi có lý do chính đáng.
    • - Về tài sản chung và nợ chung: Bà L xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Về án phí hôn nhân và gia đình:
    • Nguyễn Bích L phải chịu án phí ly hôn là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà H đã nộp là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng theo biên lai thu số AA/2023/0006039 ngày 25/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức. Bà L đã nộp đủ án phí.
    • Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cần thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  3. Quyền kháng cáo:
    • Nguyễn Bích L, ông Hồ Minh T được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kê từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - THA DS TP. Thủ Đức;
  • - TATP;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Phú Tân,
  • huyện Tân Phú Đông, tỉnh Tiền Giang;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hồng Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 3011/2024/HNGĐ-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về ly hôn

  • Số bản án: 3011/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger