|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 301/2023/DS-ST
Ngày: 26/12/2023
Vụ án: “Tranh chấp đòi lại tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Từ Thanh Đào
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Hồ Thị Kim Luyến.
- Bà Nguyễn Thị Hoàng Oanh.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Diệp – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều tham gia phiên toà:
Ông (Bà): Lê Hoàng Dung.
Ngày 26 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 271/2023/TLST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2023 về “Tranh chấp đòi lại tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 956/2023/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: 1. Ông Nguyễn Văn L, sinh năm: 1964.
2. Bà Bùi Thị Em X, sinh năm 1963.
Địa chỉ: số E, khu V, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện ủy quyền của nguyên đơn: ông Bùi Việt D, sinh năm 1960. Địa chỉ: số B M, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. Theo văn bản ủy quyền ngày 08/03/2023.(có mặt)
- Bị đơn: Bà Bùi Thị Quỳnh T, sinh năm 1963.
Địa chỉ: số D, T, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ.(vắng mặt)
- Người làm chứng: ông Nguyễn Tấn T1, sinh năm 1951.
Địa chỉ: số C, đường số C, khu vực T, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Đại diện nguyên đơn ông Bùi Việt D trình bày:
Nguyên đơn trình bày ý kiến như sau: Vào năm 2004 bà Bùi Thị Quỳnh T có đứng tên chủ sở hữu 03 thửa đất, tổng diện tích là 2.909.6m², nguồn gốc đất này bà T nhận chuyển nhượng từ ông Lê Văn M, trong đó có phần diện tích 900m² (đất ĐM) tại thửa đất số 1246, tờ bản đồ số 01 (theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 000845 do Ủy ban nhân dân huyện C, thành phố Cần Thơ (cũ) cấp ngày 22/5/2002), ông L, bà X thỏa thuận với bà T mỗi người mua ½ diện tích = 450m² của ông Lê Văn M. Ông X, bà L mua của ông M với giá là 30 cây vàng 24k (giữa ông M và ông L, bà X có làm biên nhận giao số vàng này, nhưng hiện nay đã thất lạc biên nhận này nên không cung cấp cho Tòa án được), sau đó giữa ông L, bà X, bà T có thỏa thuận miệng để bà T đứng tên giấy đất. Phần đất này nằm trong khu quy hoạch dân cư 11D do Công ty L1.
Ngày 26/8/2007 bà T có làm biên nhận, nội dung là thỏa thuận là khi bà T nhận tiền bồi thường từ Công ty L1 thì sẽ hoàn trả tiền cho ông L, bà X theo giá Công ty L1 bồi thường cho ông Sáu T2. Tại Bản án số: 14/2016/DS-PT ngày 03/3/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ đã xử xong và có buộc Công ty L1 trả cho bà T số tiền 3.691.520.000 đồng, trong đó có một phần đất thỏa thuận nêu trên giữa ông L, bà X với bà T. Bà T đã được thi hành án và nhận tiền xong. Nay, ông L, bà X yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà T phải giao trả cho ông L, bà X giá trị quyền sử dụng đất, đất thửa 1246, tờ bản đồ số 1, diện tích 450m2 loại đất ĐM, toạ lạc khu vực T (nay là khu vực T) phường P, quận C thành phố Cần Thơ. Giá trị bằng tiền hiện nay là 2.250.000.000 đồng ( Hai tỷ hai trăm năm mươi triệu đồng). Đối với ông Lê Văn M là chủ đất, phần diện tích đất mà bà L, ông X hùn tiền để mua đất với bà T, nguyên đơn được biết hiện nay ông M đã chết.
Người làm chứng ông Nguyễn Tấn T1 trình bày: ông chỉ biết các thửa đất của ông Lê Văn M nằm cạnh phần đất của ông, giáp đất với đất ông M có đường rãnh mương thoát nước, còn việc vị trí thửa đất 1246 mà ông L, bà X, bà T của ông M nằm ở vị trí nào thì ông không biết. Phần đất của ông hiện chưa nhận bồi thường do chưa thỏa thuận được giá với bồi thường với Công ty L1. Theo ông được biết thì ông M đã chết cách nay 3 năm và không còn sinh sống ở phần đất các bên tranh chấp và phần đất nay đã được thu hồi, hiện do Công ty L1 quản lý.
Bị đơn vắng mặt.
Tại phiên tòa,
Đại diện nguyên đơn ông Bùi Việt D trình bày: Vẫn giữ nguyên yêu cầu buộc bị đơn là bà Bùi Thị Quỳnh T trả giá trị đất 450m² với giá là 2.250.000.000 đồng (tính theo giá thị trường 5.000.000 đồng/m²).
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều phát biểu quan điểm: Về thủ tục tố tụng: quá trình chuẩn bị xét xử Thẩm phán thực hiện đúng các quy định pháp luật về tố tụng, xác định đúng quan hệ tranh chấp, đúng thẩm quyền nhưng vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử; tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ quy định về quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại trả giá trị đất 450m² với giá là 2.250.000.000 đồng (tính theo giá thị trường 5.000.000 đồng/m²).
Nhận thấy, qua xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đề nghị chấp nhận một phần khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn trả cho nguyên đơn giá trị đất 450m² với giá là 540.000.000 đồng, căn cứ theo giá đất bồi thường tại Bản án số: 14/2016/DS-PT ngày 03/3/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ là 1.200.000 đồng/m² là phù hợp. Về án phí đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Nguyên đơn là ông Nguyễn Văn L, bà Bùi Thị Em X khởi kiện yêu cầu bị đơn là bà Bùi Thị Quỳnh T đòi lại số tiền mà bà T đã nợ ông L, bà X nên quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định là “Tranh chấp đòi lại tài sản” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
2]Về thủ tục tố tụng:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn L, bà Bùi Thị Em X yêu cầu bị đơn bà Bùi Thị Quỳnh T trả lại giá trị đất 450m² số tiền là 2.250.000.000 đồng.
Hội đồng xét xử xét thấy: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa có căn cứ xác định như sau: nguyên đơn căn cứ vào biên nhận ngày 26/8/2007 (bà T có ký nhận), nội dung thể hiện: “Tôi: Bùi Thị Quỳnh T, sinh năm 1963. Địa chỉ: D T, phường X, quận N, thành phố Cần Thơ còn nợ lại anh Nguyễn Văn L, chị Bùi Thị Em X là 450m² đất tại dự án L, đất không nằm mặt tiền lộ. Như anh L và chị X đã hùn. Khi nào Long T3 bồi hoàn cho những hộ khác giá bao nhiêu tôi sẽ trả cho anh L theo giá thỏa thuận như dự án bồi thường cho ông Sáu T2”. Điều này cho thấy, giữa nguyên đơn và bị đơn có giao dịch hùn mua đất với nhau. Và tại thửa đất 1246 mà nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả giá trị 450m² tại thửa 1246, hiện tại đã được thu hồi và bị đơn đã nhận tiền bồi hoàn, điều này được thể hiện tại Công văn số: 1106/CTHADS-NV ngày 10/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ đối với Bản án số: 14/2016/DS-PT ngày 03/3/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ đã được thi hành xong vào thời điểm ngày 20/10/2016. Do đó, ông L, bà X yêu cầu bị đơn trả giá trị 450m² tại thửa 1246 là hoàn toàn có cơ sở.
Tuy nhiên, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả giá trị đất 450m² với giá là 2.250.000.000 đồng (tính theo giá thị trường 5.000.000 đồng/m²). Hội đồng xét xử nhận thấy: Căn cứ vào Bản án số: 14/2016/DS-PT ngày 03/3/2016 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ giá bồi hoàn tại thửa đất 1246 đối với đất cây lâu năm cho bà T là 1.200.000 đồng/m² là có cơ sở nên việc nguyên đơn yêu cầu giá thị trường 5.000.000 đồng/m2 là không phù hợp.
[3]Về án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự chịu án phí đối với yêu cầu không được chấp nhận theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1] Căn cứ vào:
- Khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Khoản 166 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2] Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn L, bà Bùi Thị Em X đối với bị đơn bà Bùi Thị Quỳnh T.
Buộc bà Bùi Thị Huỳnh T4 trả cho ông Nguyễn Văn L, bà Bùi Thị Em X giá trị đất 450m² với số tiền là 540.000.000 đồng (Năm trăm bốn chục triệu đồng).
Kể từ khi nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị đơn chậm thi hành thì phải chịu thêm khoản tiền lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà Bùi Thị Em X, bà Bùi Thị Quỳnh T thuộc trường hợp người cao tuổi (trên 60 tuổi) nên được miễn nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm.
- Ông Nguyễn Văn L phải chịu 31.650.000 đồng tiền án phí. Khấu trừ số tiền 19.250.000 đồng tạm ứng án phí ông L đã nộp theo biên lai thu số 0000795 ngày 16/3/2023 tại Chi Cục thi hành án dân sự quận Ninh Kiều. Ông L phải nộp thêm số tiền án phí là 12.400.000 đồng.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án này kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
*Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Từ Thanh Đào |
Bản án số 301/2023/DS-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp đòi lại tài sản
- Số bản án: 301/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Lơ, bà Bùi Thị Em Xinh đối với bị đơn bà Bùi Thị Quỳnh Trâm. Buộc bà Bùi Thị Huỳnh Trâm trả cho ông Nguyễn Văn Lơ, bà Bùi Thị Em Xinh giá trị đất 450m2 với số tiền là 540.000.000 đồng (Năm trăm bốn chục triệu đồng).
