Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÓC MÔN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 301/2023/HS-ST

Ngày : 21 - 12 - 2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Phụng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Văn Sơn

Ông Huỳnh Văn Đẹp

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hà Kim Thông - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 12 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 309/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 312/2023/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Thanh H, sinh năm 1992 tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Nơi cư trú: số G đường C, phưởng T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Nhà không số, tổ I. ấp C, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Q và bà Nguyễn Thị Thanh V; vợ, con: chưa có; tiền án: không có; tiền sự: không có; bị bắt, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H ngày 28/7/2023; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Đoàn Văn H1, sinh năm 1995. (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp P, xã P, thị xã C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 07 giờ 30 phút, ngày 28/7/2023 Phạm Thanh H đến chơi game tại tiệm internet 101 GAMING, địa chỉ 1 đường P, ấp E, xã X, huyện H của anh Đoàn Văn H1. Đến khoảng 08 giờ 00 phút cùng ngày, Phạm Thanh H thấy phòng ngủ của anh H1 đang mở cửa nên nảy sinh ý định đi vào trong phòng ngủ này tìm kiếm tài sản để lấy trộm, Phạm Thanh H lén lút đi vào trong phòng ngủ thì thấy có 01 điện thoại di dộng hiệu Iphone 7 màu G và 01 cái ví của anh H1 để trên nền gạch cạnh tấm nệm Phạm Thanh H lấy các tài sản này bỏ vào túi quần bên phải phía trước rồi đi ra ngoài. Sau đó, Phạm Thanh H thuê xe ôm về nhà tại địa chỉ nhà không số, tổ I, ấp C, xã X, huyện H, Tại đây, Phạm Thanh H kiểm tra trong ví thì phát hiện bên trong có số tiền 11.000.000 đồng cùng 01 thẻ căn cước công dân mang tên Đoàn Văn H1, 01 giấy đăng ký xe gắn máy biển số 59K2-595.08 do Trần Thị Lưu M đứng tên, 01 thẻ Ngân hàng TMCP Q1 mang tên Đoàn Văn H1. Phạm Thanh H lấy số tiền 11.000.000 đồng cất vào ví của Phạm Thanh H, còn tất cả giấy tờ và cái ví vừa trộm được thì Phạm Thanh H mang đi vứt bỏ tại bãi đất trống đối diện nhà số F ấp C, xã X, huyện H.

Sau đó, Phạm Thanh H đến tiệm tạp hóa của ông Nguyễn Tuấn L tại địa chỉ E ấp D, xã X, huyện H nhờ ông L chuyển số tiền 5.000.000 đồng vào số tài khoản 1032878689 tên “NGUYEN THANH TUAN” mở tại Ngân hàng TMCP N với nội dung chuyển khoản “89J1” để quy đổi ra tiền ảo trong game. Phạm Thanh H đưa số tiền 5.000.000 đồng cho ông L. Đồng thời, Phạm Thanh H nhờ ông L đổi giùm 200.000 đồng tiền lẻ thành tờ 200.000 đồng tiền chẵn và đến 01 tiệm internet gần nhà Phạm Thanh H để chơi game. Đến khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày Phạm Thanh H bị anh Đoàn Văn H1 đến giữ lại rồi báo Công an xã X, huyện H đưa về trụ sở đề làm việc.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • 01 điện thoại di dộng hiệu Iphone 7 màu Gold dung lượng 32 GB, IMEI: 352987097120929;
  • Tiền Việt Nam: 5.700.000 đồng;
  • 01 điện thoại di dộng hiệu N1 và 01 điện thoại di động hiệu S A02S;
  • 01 áp thun ngắn tay màu đen, 01 quần jean ngắn màu đen túi sau có dòng chữ “Fashion”;
  • 01 USB;

Tại Kết luận định giá tài sản số 120/KL-HĐĐGTS ngày 17/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, kết luận: 01 điện thoại di dộng hiệu Iphone 7 màu Gold dung lượng 32 GB có giá trị 1.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị mất trộm là 13.100.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 293/VKS-HS ngày 03/11/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn truy tố bị cáo Phạm Thanh H về tội “Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố đề nghị giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Thanh H từ 01 năm tù giam đến 02 năm tù giam.

Về dân sự: Gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại và bị hại không yêu cầu gì khác nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

- 01 điện thoại di dộng hiệu Iphone 7 màu Gold dung lượng 32 GB, IMEI: 352987097120929. Qua xác minh đây là tài sản hợp pháp của bị hại nên cơ quan điều tra đã trả cho bị hại nên không đề nghị xem xét;

- Tiền Việt Nam: 5.700.000 đồng, đây là số tiền còn lại mà bị cáo lấy trộm được của bị hại nên cơ quan điều tra đã trả cho bị hại nên không đề nghị xem xét;

- 01 điện thoại di dộng hiệu N1 và 01 điện thoại di động hiệu S A02S; đây là điện thoại của bị cáo không sử dụng vào hành vi phạm tội nên đề nghị giao trả lại cho bị hại;

- 01 áp thun ngắn tay màu đen, 01 quần jean ngắn màu đen túi sau có dòng chữ “Fashion”; là vật dụng cá nhân của bị cáo và không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy;

- 01 USB thu giữ tại tiệm internet ghi hình lại quá trình bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên đề nghị lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

Đối với Nguyễn Thanh T là người nhận chuyển khoản 5.000.000 đồng từ bị cáo H, không biết tiền do bị cáo phạm tội mà có. Qua xác minh, T có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ ấp L, xã L, huyện P, tỉnh An Giang. Tại thời điểm kiểm tra, T không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được. Đồng thời, gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại nên không có căn cứ xử lý đối với T. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn. Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất để bị cáo có cơ hội phấn đấu trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa qua phần xét hỏi và tranh tụng công khai, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo thừa nhận vào khoảng 07 giờ 30 ngày 28/7/2023 tại tiệm internet 101 GAMING, địa chỉ 1 đường P, ấp E, xã X, huyện H bị cáo có hành vi trộm cắp tài sản là 01 điện thoại di dộng hiệu Iphone 7 màu Gold và 01 cái ví bên trong có 11.000.000 đồng, một số giấy tờ cá nhân của bị hại Đoàn Văn H1.

Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập tại hồ sơ vụ án, phù hợp với nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn nên Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Phạm Thanh H đã thực hiện hành vi lén lút trộm cắp 01 điện thoại di dộng hiệu Iphone 7 màu Gold và 01 cái ví bên trong có 11.000.000 đồng, kết luận định giá tổng giá trị tài sản bị trộm là 13.100.000 đồng, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

“Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”

[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bằng hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang lo lắng cho người bị hại, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương và tạo ra một dư luận không tốt trong nhân dân. Bản thân các bị cáo nhận thức rất rõ hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi cho bản thân, bị cáo đã bất chấp pháp luật thực hiện hành vi phạm tội. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi trái pháp luật do mình gây ra.

[4] Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét thêm về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo để có hình phạt tương xứng.

Bị cáo không có tiền án, không có tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng: Không có

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phạm Thanh H thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Với các tình tiết nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung, bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng và có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ như đã nêu để giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt nhằm thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định của khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ cho thấy bị cáo không nghề nghiệp, không có thu nhập, điều kiện kinh tế khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về dân sự: Bị hại không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về vật chứng:

  • 01 điện thoại di dộng hiệu Iphone 7 màu Gold dung lượng 32 GB, IMEI: 352987097120929 là tài sản hợp pháp của bị hại và cơ quan điều tra đã trả cho bị hại nên Hội đồng không xem xét;
  • Tiền Việt Nam 5.700.000 đồng là số tiền còn lại mà bị cáo lấy trộm của bị hại và cơ quan điều tra đã trả cho bị hại nên Hội đồng không xem xét;
  • 01 điện thoại di dộng hiệu N1 và 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A02S, là điện thoại của bị cáo không sử dụng vào hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo;
  • 01 áp thun ngắn tay màu đen, 01 quần jean ngắn màu đen túi sau có dòng chữ “Fashion”, là vật dụng cá nhân của bị cáo và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy;
  • 01 USB có chứa dữ liệu ghi hình lại quá trình bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nên cần lưu giữ theo hồ sơ vụ án.

[9] Đối với Nguyễn Thanh T là người nhận chuyển khoản 5.000.000 đồng từ bị cáo H, không biết tiền do bị cáo phạm tội mà có. Qua xác minh, T có hộ khẩu thường trú tại địa chỉ ấp L, xã L, huyện P, tỉnh An Giang. Tại thời điểm kiểm tra, T không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra chưa làm việc được. Đồng thời, gia đình bị cáo đã bồi thường cho bị hại nên không có căn cứ xử lý đối với T. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

[9] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Phạm Thanh H phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

1. Xử phạt bị cáo Phạm Thanh H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 28/07/2023.

2. Về xử lý vật chứng

  • - Trả lại cho bị cáo Phạm Thanh H 01 điện thoại di dộng hiệu Nokia và 01 điện thoại di động hiệu S A02S.
  • - Tịch thu tiêu hủy 01 áp thun ngắn tay màu đen, 01 quần jean ngắn màu đen túi sau có dòng chữ “Fashion”.
  • - Lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 USB.

(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 235/QĐ-VKS-HS ngày 26/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn và biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/11/2023).

2. Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Phạm Thanh H phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - VKSND huyện Hóc Môn;
  • - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - CQĐT Công an huyện Hóc Môn;
  • - Chi cục THADS huyện Hóc Môn;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Hóc Môn;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Kim Phụng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 301/2023/HS-ST ngày 21/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 301/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: trộm cắp điện thoại
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger