Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KIÊN GIANG

Bản án số: 301/2024/DS-PT

Ngày 06 – 12 - 2024

V/v tranh chấp hợp đồng

dân sự vay tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhiên

Các Thẩm phán:

Ông Lê Quang Tấn

Ông Trần Bá Kha

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Xương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Trương Văn Chi - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 183/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 10 năm 2024, về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 161/2024/DS-ST ngày 13 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 259/2024/QĐ-PT ngày 10 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1983; địa chỉ: tổ A, ấp V, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
  • - Bị đơn:
    1. Anh Nguyễn Văn Á, sinh năm 1988; địa chỉ: tổ A, ấp V, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
    2. Người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Văn Á: Luật sự Nguyễn Thành N - Văn phòng luật sự Nguyễn Văn L, thuộc đoàn luật sư tỉnh K; địa chỉ: Khu phố N, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
    3. Chị Đào Thị K, sinh năm 1988; địa chỉ: ấp V, xã N, huyện G, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt).
  • - Người kháng cáo: Bị đơn anh Nguyễn Văn Á.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 27/09/2023, nguyên đơn anh Nguyễn Văn T trình bày:

Vào ngày 24 tháng 05 năm 2023 (âm lịch), vợ chồng anh Ánh, chị K có đến hỏi vay của anh số tiền là 560.000.000 đồng để đáo hạn Ngân hàng. Vì anh Ánh, chị K là chỗ quen biết, người hàng xóm, có điều kiện kinh tế ổn định, có uy tín. Nên anh tin tưởng cho anh Ánh, chị K vay số tiền là 560.000.000đ (năm trăm sáu mươi triệu đồng) với lãi suất theo Ngân hàng N1 quy định. Khi nhận tiền anh Ánh ký giấy nhận nợ cho anh vào ngày 24/05/2023 (âm lịch).

Nhưng sau khi vay xong vợ chồng anh Ánh, chị K không thực hiện theo thoả thuận, không có đóng lãi cho anh, đồng thời sau khi vay tiền cũng không hoàn trả lại số tiền gốc cho anh. Mặc dù đã rất nhiều lần anh gặp vợ chồng anh Ánh, chị K yêu cầu phải đóng tiền lãi và thanh toán nợ gốc nhưng vợ chồng anh Ánh, chị K chỉ hẹn lần hẹn lựa kéo dài đến nay không trả tiền cho anh.

Nay anh yêu cầu Toà án giải quyết: Buộc vợ chồng anh Ánh, chị K phải có trách nhiệm thanh toán số tiền nợ cho anh tổng cộng số tiền là 560.000.000 đồng (năm trăm sáu mươi triệu đồng) tiền gốc và yêu cầu tính lãi cho anh theo lãi suất Ngân hàng N1 quy định, thời gian tính lãi từ ngày 24/05/2023 (âm lịch) đến ngày Toà án xét xử sơ thẩm.

* Tại biên bản hoà giải ngày 19/4/2014 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Văn Á trình bày:

Anh có vay tiền của anh T 02 lần:

  • - Lần thứ nhất: Vay 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng).
  • - Lần thứ hai: Vay 50.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng), cả hai lần vay tiền nói trên anh không nhớ ngày tháng năm nhưng anh T có ghi trong giấy tờ của anh T. Lãi suất thỏa thuận là 5.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày, đóng lãi 20 ngày là 8.000.000 đồng.
  • - Lần thứ 3: Vay khoảng 50.000.000 đồng trở lại, thời gian cách lần vay trước khoảng 7 đến 8 tháng. Sau đó anh tiếp tục đóng lãi và anh T kê tiền lãi lần sau cùng là 120.000.000 đồng.

Đến ngày 24/05/2023 âm lịch, anh có ký nhận nợ với anh T tổng cộng số tiền là 560.000.000 đồng nhưng anh không số tiền gốc bao nhiêu và số tiền lãi là bao nhiêu và anh không tính ra được vì anh T có ghi đầy đủ trong giấy tờ. Nay anh thừa nhận anh có ký tên vào biên nhận vay tiền là 560.000.000 đồng của anh Nguyễn Văn T, việc anh ký tên là do anh T đe doạ “một là anh T chết, hai là anh Ánh chết”. Số tiền này anh có vay nhiều lần nhưng không nhớ mỗi lần vay là bao nhiêu tiền.

Theo biên bản hoà giải ngày 30/08/2023, tại trụ sở ấp V, xã N, huyện G anh có ký tên và cam kết trả dần số nợ nói trên cho anh T và anh đã nhận giấy triệu tập của Toà án nhiều lần nhưng vì bận công việc gia đình nên không thể đến Toà án để giải quyết được.

Ngày 06/5/2024 anh Ánh trình bày: Anh thừa nhận anh có hỏi vay tiền của anh T tổng cộng số tiền gốc là 225.000.000 đồng (hai trăm hai mươi lăm triệu đồng). Anh xin được trả dần số tiền gốc nói trên cho anh T mỗi tháng là 5.000.000 đồng đến khi hết nợ.

Đối với số tiền 335.000.000 đồng là tiền lãi anh T tính cho anh, phần này anh yêu cầu anh T miễn giảm cho anh. Vì trước đây anh cũng đã đóng lãi cho anh T rất nhiều lần và hiện nay anh không còn khả năng để đóng lãi cho anh T nữa.

* Tại biên bản hòa giải ngày 19/3/2024 bị đơn chị Đào Thị K trình bày:

Chị là vợ của anh Ánh, chị hoàn toàn không biết gì đến số tiền mà anh Á thiếu anh T, chị không nghe anh Ánh nói lại sự việc anh Ánh đã vay tiền của anh T.

Tại phiên toà sơ thẩm:

  • - Nguyên đơn anh Nguyễn Văn T yêu cầu vợ chồng anh Ánh, chị K phải có trách nhiệm trả cho anh số tiền nợ gốc là 560.000.000 đồng (năm trăm sáu mươi triệu đồng), không yêu cầu tính lãi.
  • - Bị đơn anh Nguyễn Văn Á thừa nhận có hỏi vay tiền của anh T tổng cộng số tiền là là 225.000.000 đồng (hai trăm hai mươi lăm triệu đồng) tiền gốc. Anh xin được trả dần số tiền gốc cho anh T mỗi tháng là 5.000.000 đồng đến khi hết nợ.

Trước đây anh có đóng lãi cho anh T rất nhiều lần, vào khoảng năm 2022 - 2023 khoảng 20 ngày đóng cho anh T số tiền là 8.000.000 đồng, đóng bằng hình thức chuyển khoản, nội dung chuyển khoản không có ghi là đóng lãi, thông qua tài khoản của cha vợ anh, đóng khoảng hơn 01 năm nhưng không nhớ số tiền đóng lãi là bao nhiêu. Anh thừa nhận tại trụ ở ấp T anh có ký vào biên bản và cam kết trả nợ cho anh T, anh có trình bày nợ còn thiếu nợ gốc của anh T tổng cộng số tiền gốc là 225.000.0000 đồng, còn lại là lãi nhưng cán bộ ấp không ghi vào biên bản. Ngoài ra, anh không có chứng cứ gì để chứng minh được tại thời điểm nào nợ anh nợ anh T là 80.000.000 đồng và hiện nay anh còn nợ anh T số tiền là 225.000.000 đồng.

* Tại bản án dân sự sơ thẩm số 161/2024/DS-ST ngày 13/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang đã quyết định:

  • - Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T do anh T rút lại yêu cầu tính tiền lãi.
  • - Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T đối với anh Nguyễn Văn Á và chị Đào Thị Kiều .
  • Buộc anh Nguyễn Văn Á và chị Đào Thị K có nghĩa vụ trả cho anh T số tiền vay gốc còn nợ là 560.000.000 (năm trăm sáu mươi triệu đồng).

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

Ngày 01/7/2024, bị đơn anh Nguyễn Văn Á có đơn kháng cáo trong hạn luật định với nội dung: Yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm số 161/2024/DS-ST ngày 13/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang. Theo hướng chấp nhận cho anh Ánh được trả số tiền gốc cho anh T là 225.000.000 đồng và tính lãi theo lãi suất Ngân hàng; không buộc vợ anh Ánh là chị Đào Thị K có nghĩa vụ trả nợ anh anh T; Chấp nhận cho anh Ánh được khấu trừ số tiền mà anh Ánh đã đóng lãi cho anh T là 120.000.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Nguyên đơn yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • - Bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo.
  • - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn yêu cầu Hội đồng xét xử phúc thẩm không buộc bà Đào Thị K cùng với anh anh Á trả nợ cho anh T. Vì số nợ này một mình anh Ánh ký nhận nợ với anh T và yêu cầu anh T giảm cho anh Ánh phần lãi mà anh Ánh đã đóng cho anh T là 120.000.000 đồng trước đây.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tại phiên tòa phát biểu:

  • - Về tố tụng: Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của các bên đương sự, từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án đã thực hiện và chấp hành đúng theo các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa và ý kiến của đương sự, đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Xét đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn Á về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo đã đúng quy định tại Điều 271, 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.

Đối với chị Đào Thị K Tòa án đã tống đạt hợp lệ nhưng chị K vắng mặt, nên Hội đồng xét xử xử phúc thẩm thống nhất xét xử vắng mặt đối với chị K theo đúng quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án:

Nguyên đơn anh Nguyễn Văn T yêu cầu vợ chồng anh Ánh, chị K phải có trách nhiệm trả cho anh số tiền vay gốc là 560.000.000 đồng (năm trăm sáu mươi triệu đồng), không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn anh Nguyễn Văn Á thừa nhận có vay tiền của anh T tổng cộng số tiền là 225.000.000 đồng (hai trăm hai mươi lăm triệu đồng) tiền gốc. Anh xin được trả dần số tiền gốc cho anh T mỗi tháng là 5.000.000 đồng đến khi hết nợ, anh Ánh yêu cầu không buộc chị K vợ anh cùng với anh trả nợ cho anh T, vì số nợ này là nợ riêng của anh, chị K không liên quan trong số nợ này.

[3] Xét nội dung kháng cáo:

[3.1] Hội đồng xét xử xét thấy, giữa anh T và anh Ánh có xác lập hợp đồng vay tài sản, cụ thể anh Ánh có làm biên nhận vay tiền và thừa nhận có ký nợ số tiền là 560.000.000 đồng ngày 24/5/2023 âm lịch (BL75) và tại phiên hòa giải ngày 30/8/2023 tại ấp V, xã N, huyện G thì anh Ánh không có ý kiến phản đối gì mà anh Ánh cam kết sẽ trả cho anh T bằng nhiều lần cụ như sau: Vụ lúa đông xuân năm 2023 trả 200.000.000 đồng; Vụ lúa đông xuân năm 2023 - 2024 trả 100.000.000 đồng; còn lại 260.000.000 đồng trả theo mỗi vụ lúa là 50.000.000 đồng đến khi hết nợ (BL77). Do đó, cấp sơ thẩm xác định anh Ánh có nợ anh T số tiền 560.000.000 đồng là có căn cứ phù hợp với khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự (tình tiết không phải chứng minh). Xét thấy, quá trình thực hiện hợp đồng, anh Ánh và chị K chưa thanh toán nợ cho anh T là vi phạm nghĩa vụ của bên vay tài sản được quy định tại khoản 1 Điều 353, Điều 463, khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015.

[3.2] Xét lời trình bày của anh Ánh: Anh Á1 thừa nhận anh có vay của anh T số tiền gốc là 225.000.000 đồng (hai trăm hai mươi lăm triệu đồng), còn lại số tiền 335.000.000đ (ba trăm ba mươi lăm triệu đồng) là anh T tính tiền lãi trên số nợ gốc 225.000.000 đồng rồi cộng vào mới thành số tiền là 560.000.000 đồng mà anh đã viết biên nhận cho anh T, nhưng trong suốt quá trình giải quyết vụ án anh Ánh không có cung cấp được chứng cứ gì để chứng minh lời trình bày của anh là có cơ sở. Ngoài ra, anh Ánh còn cho rằng trong năm 2022 đến 2023 anh có trả lãi cho anh T 20 ngày anh chuyển khoản 8.000.000 đồng thông qua tài khoản của cha vợ anh, nhưng trong nội dung chuyển khoản anh không có ghi nội dung là trả lãi cho anh T. Ngoài ra, trong nội dung đơn kháng cáo anh Ánh còn yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét khấu trừ số tiền lãi 120.000.000 đồng mà anh đã trả tiền lãi cho anh T để trừ vào số nợ gốc 225.000.000 đồng. Xét thấy, anh Ánh yêu cầu nhưng không có cung cấp chứng cứ gì mới để Hội đồng xét xử xem xét nên không có cơ sở chấp nhận.

[3.3] Xét về trách nhiệm trả nợ:

Xét việc anh Ánh yêu cầu không buộc chị K cùng với anh Ánh trả nợ cho anh T. Xét thấy, anh Ánh và chị K là vợ chồng hợp pháp, số tiền mà anh Ánh vay của anh T phát sinh trong thời kỳ hôn nhân. Mặc dù, đến ngày 05 tháng 04 năm 2024 có Quyết định số: 148/2024/QĐST-HNGĐ về việc công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự giữa anh Ánh và chị K của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang. Theo quyết định nói trên thì ánh Á1 và chị K không có yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung của vợ chồng. Vì vậy, theo quy định tại khoản 2 Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định: “ Nghĩa vụ chung về tài sản của vợ chồng” nên buộc chị K phải có nghĩa vụ cùng với anh Ánh trả số nợ này cho anh T là phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, cấp sơ thẩm buộc chị K có trách nhiệm cùng với anh Ánh trả số tiền nợ vay gốc cho anh T là có căn cứ.

Ngoài ra, tại cấp phúc thẩm anh Ánh cũng không có cung cấp thêm chứng cứ gì mới để chứng minh cho việc kháng cáo của mình là có căn cứ. Do đó, đó Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở để chấp nhận nội dung kháng cáo của anh Ánh như Hội đồng xét xử đã nhận định ở phần trên.

[4] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, trong thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn anh Nguyễn Văn Á, sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 161/2024/DS-ST ngày 13/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm:

Bị đơn anh Nguyễn Văn Á kháng cáo không được chấp nhận nên anh Anh Á1 phải chịu án phí số tiền là 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002976 ngày 01/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Không chấp nhận nội dung kháng cáo của bị đơn anh Nguyễn Văn Á. Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số thẩm số 161/2024/DS-ST ngày 13/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

- Áp dụng Điều 463, khoản 1 Điều 466, khoản 2 Điều 468, Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 27 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn T về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản” đối với bị đơn anh Nguyễn Văn Á và chị Đào Thị Kiều .

    Buộc anh Nguyễn Văn Á và chị Đào Thị K có nghĩa vụ trả cho anh Nguyễn Văn T số tiền vay gốc còn nợ là 560.000.000 (năm trăm sáu mươi triệu đồng).

    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành khoản tiền nêu trên thì hàng tháng phải chịu lãi suất chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

  2. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn T do anh T rút lại yêu cầu tính tiền lãi đối với bị đơn.
  3. Về án phí:
    1. Vế án phí dân sự sơ thẩm:

      Bị đơn anh Nguyễn văn Á và chị Đào Thị K phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch của số tiền 560.000.000₫ = 20.000.000 đồng + (160.000.000 đồng x 4%) = 26.400.000 đồng (hai mươi sáu triệu bốn trăm nghìn đồng).

      Hoàn trả cho anh Nguyễn Văn T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 13.200.000 đồng (mười ba triệu hai trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0005685 ngày 16 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

    2. Về án phí dân sự phúc thẩm:

      Bị đơn anh Nguyễn Văn Á kháng cáo không được chấp nhận nên anh Anh Á1 phải chịu án phí phúc thẩm số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0002976 ngày 01/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Riềng, tỉnh Kiên Giang.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Kiên Giang;
  • - TAND huyện Giồng Riềng;
  • - THA dân sự huyện Giồng Riềng
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nhiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 301/2024/DS-PT ngày 06/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản

  • Số bản án: 301/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông T tranh chấp hợp đồng vay tài sản với ông A
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger