TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 301/2024/HNGĐ-ST Ngày: 04 - 12 - 2024 Về việc T/c ly hôn và con chung. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đỗ Bình An.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Trần Thị Đổi.
- Bà Võ Thị Kiều Loan.
Thư ký phiên tòa: bà Phạm Thị Huỳnh Như - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Ngày 04 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 1111/2024/TLST-HNGĐ, ngày 01 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn và con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 294/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 21 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đỗ Huỳnh Ái P, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Số C, Ô, khu B, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.
Bị đơn: Anh Phan Đăng K, sinh năm 1984.
Địa chỉ: Số G, ấp S, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An.
(Các đương sự có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 29/8/2024 và những lời khai tiếp theo của chị Đỗ Huỳnh Ái P là nguyên đơn trình bày như sau:
Chị và anh Phan Đăng K chung sống với nhau vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn H. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được một thời gian, đến tháng 4/2021, thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân mâu thuẫn là do cuộc sống vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, cuộc sống hôn nhân thường xuyên cải nhau, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân, anh Phan Đăng K không quan tâm đến gia đình, nên chị và anh K đã ly thân từ ngày 01/7/2024 đến nay. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, nên yêu cầu ly hôn với anh Phan Đăng K.
Về con chung: Chị và anh K có 02 con chung tên Phan Đăng K1, sinh ngày 06/9/2016 (chị đang nuôi dưỡng) và Phan Thiên N, sinh ngày 12/4/2018 (anh K đang nuôi). Khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi 01 con chung tên Phan Đăng K1, chị đồng ý giao cho anh K tiếp tục nuôi con tên Phan Thiên N, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra chị không yêu cầu gì khác.
Bị đơn anh Phan Đăng K trình bày: Anh thống nhất với lời trình bày của chị Đỗ Huỳnh Ái P về thời gian chung sống; điều kiện kết hôn và con chung. Cuộc sống vợ chồng vẫn hạnh phúc và không phát sinh mâu thuẫn gì, đến tháng 7/2024, chị P xin về nhà ba mẹ ruột sinh sống để tiện cho việc đưa rước con đi học. Anh xác định, anh và chị P không có mâu thuẫn gì nên anh không đồng ý ly hôn với chị Đỗ Huỳnh Ái P, anh muốn được đoàn tụ để cùng chăm sóc con.
Về con chung: Anh và chị P có 02 con chung tên Phan Đăng K1, sinh ngày 06/9/2016 (đang sống với chị P) và Phan Thiên N, sinh ngày 12/4/2018 (anh đang nuôi). Trường hợp Tòa án chấp nhận đơn ly hôn của chị P, anh yêu cầu được nuôi 02 con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án. Tòa án đã thực hiện thủ tục hòa giải, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng các bên đương sự không thỏa thuận được, nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật cần giải quyết: xét yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Huỳnh Ái P nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ pháp luật cần giải quyết trong vụ án “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” là những tranh chấp quy định tại Điều 28, Điều 29 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn anh Phan Đăng K có hộ khẩu thường trú tại ấp S, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An, nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
[1.2]. Về tư cách tố tụng, thời hiệu và phạm vi giải quyết:
Chị Đỗ Huỳnh Ái P khởi kiện yêu cầu xin được ly hôn với anh Phan Đăng K, nên chị P được xác định là nguyên đơn, anh K là bị đơn.
Vụ án hôn nhân gia đình không xác định thời hiệu.
Tòa án xét xử vụ án trong phạm vi khởi kiện của nguyên đơn.
[1.3]. Chứng cứ, nghĩa vụ chứng minh và luật áp dụng:
Chị Đỗ Huỳnh Ái P và anh Phan Đăng K chung sống với nhau vào năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện Đ, nên hôn nhân giữa chị P và anh K là hôn nhân hợp pháp theo quy định Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình.
Pháp luật được áp dụng giải quyết là Bộ luật dân sự, Bộ luật tố tụng dân sự, Luật hôn nhân gia đình và các văn bản khác hướng dẫn về giải quyết vụ án hôn nhân gia đình.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Xét về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Đỗ Huỳnh Ái P và anh Phan Đăng K trên cơ sở tự nguyện. Tại phiên tòa chị P cho rằng cuộc sống vợ chồng có hạnh phúc được một thời gian dài, đến tháng 4 năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do cuộc sống không phù hợp, thường xuyên cải nhau, đồng thời anh K đánh chị nên chị và anh K đã ly thân từ tháng 7 năm 2024 cho đến nay. Đối với anh K thừa nhận vào tháng 7 năm 2024 chị P xin về cha mẹ ruột sinh sống để tiện cho việc đưa rước con đi học, anh xác định anh và chị P không có mâu thuẩn, nên anh xin đoàn tụ.
Qua xét hỏi tại phiên tòa: Hội đồng xét xử thấy rằng từ tháng 7 năm 2024 chị P và anh K ly thân cho đến nay, anh K không có biện pháp gì để đoàn tụ với chị P và cũng không cung cấp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ gì chứng minh việc xin đoàn tụ với chị P, do đó đời sống chung vợ chồng của chị P và anh K không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được.Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đỗ Huỳnh Ái P là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
[2.2]. Về con chung: Chị P và anh K chung sống có 02 con chung tên Phan Đăng K1, sinh ngày 06/9/2016 (đang sống với chị P) và Phan Thiên N, sinh ngày 12/4/2018 (anh K đang nuôi).
Tại phiên tòa chị P xin được tiếp tục nuôi con tên Phan Đăng K1, sinh ngày 06/9/2016. Đối với anh Phan Đăng K xin được nuôi 02 con chung tên Phan Đăng K1, sinh ngày 06/9/2016 và Phan Thiên N, sinh ngày 12/4/2018. Việc này không được chị P đồng ý. Thấy rằng: Từ khi chị P và anh K ly thân nhau cháu Phan Đăng K1 do chị P trực tiếp nuôi dưỡng, đồng thời tại bản tự khai cháu K1 có nguyện vọng muốn sống với chị P. Do đó cần giao cho chị P tiếp tục nuôi cháu K1 là phù hợp. Ngoài ra trong vụ án này chị P đồng ý để cháu Phan Thiên N cho anh K tiếp tục nuôi là phù hợp, nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[2.3].Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa chị P và anh K không yêu cầu cấp dưỡng, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4]. Về tài sản chung: Chị P và anh K xác định không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.5] Về nợ chung: Chị P và anh K xác định không có, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3]. Về án phí: Chị Đỗ Huỳnh Ái P phải chịu án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147 Điều 218 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 9, Điều 51, Điều 56, 81, 82, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 26 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Huỳnh Ái P đối với anh Phan Đăng K về việc “Tranh chấp ly hôn”.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Huỳnh Ái P được ly hôn với anh Phan Đăng K.
- Về con chung: Chị P được quyền tiếp tục nuôi con chung tên Phan Đăng K1 sinh ngày 06/9/2016 (chị P đang nuôi). Anh K được tiếp tục nuôi con chung tên Phan Thiên N sinh ngày 12/4/2018 (anh K đang nuôi).
- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Đỗ Huỳnh Ái P và anh Phan Đăng K không phải cấp dưỡng nuôi con vì các bên không yêu cầu.
Bên không nuôi con được quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản. Cả hai bên đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Khi cần thiết các bên có thể thay đổi việc nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Chị P và anh K xác định không có, không xem xét.
- Về nợ chung: Chị P và anh K xác định không có, nên không xem xét.
- Về án phí: Chị P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sung công quỹ Nhà nước nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0005706 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Hoà, tỉnh Long An sang án phí để thi hành. Như vậy chị P không phải nộp tiếp.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án các bên đương sự có mặt được quyền kháng cáo để xin xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
Đỗ Bình A |
Bản án số 301/2024/HNGĐ-ST ngày 04/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn và con chung
- Số bản án: 301/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Đỗ Thị Ái P ly hôn anh Phan Đăng K
