|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 301/2024/HS-ST Ngày 27-11-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Hữu Phúc
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đinh Ngọc Hùng
Ông Phạm Văn Bằng
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Lê Quỳnh Anh- Thư ký Toà án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom- tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Vòng A Chi- Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 297/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 286/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
Trầm Văn T, sinh năm 1994 tại tỉnh Bình Thuận; Nơi đăng ký thường trú: Tổ A, thôn A, xã B, huyện B, tỉnh Bình Thuận; Nơi ở hiện nay: Ấp S, xã C, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trầm Ngọc H (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1970; Vợ là Phạm Thị Quỳnh N, sinh năm 2000, có 02 con sinh năm 2016 và 2017; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt quả tang tạm giữ, tạm giam từ ngày 01-4-2024, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam B5- Công an tỉnh Đ (có mặt).
Hà Thanh S, sinh năm 1995 tại Campuchia; Nơi đăng ký thường trú: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước; Nơi ở hiện nay: Ấp S, xã C, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hà Thanh H1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1962; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02-4-2024, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam B5- Công an tỉnh Đ (có mặt).
Trương Oanh S1, sinh năm 1996 tại tỉnh Bình Phước; Nơi đăng ký thường trú: Không có; Nơi ở hiện nay: Ấp S, xã C, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Văn Ú, sinh năm 1942 (đã chết) và bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1954; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02-4-2024, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam B5- Công an tỉnh Đ (có mặt).
Trần Quốc T3, sinh năm 1992 tại tỉnh Trà Vinh; Nơi đăng ký thường trú: Ấp T, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh; Nơi ở hiện nay: Ấp F, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 08/12; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn S2, sinh năm 1952 và bà Thạch Thị Oanh N1, sinh năm 1952; Vợ là Thạch Thi S3, sinh năm 1996, có 01 con sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02-4-2024, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam B5- Công an tỉnh Đ (có mặt).
Thạch Thị H2, sinh năm 2003 tại tỉnh Trà Vinh; Nơi đăng ký thường trú: Ấp S, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Nơi ở hiện nay: Ấp T, xã C, huyện T, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa: 04/12; Dân tộc: Khmer; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Thạch H3, sinh năm 1977 và bà Thạch Thị C, sinh năm 1977; sống chung như vợ chồng với Thạch T4, sinh năm 2000, có 01 con sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02-4-2024, hiện đang bị tạm giam tại tại trại tạm giam B5- Công an tỉnh Đ (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 01/4/2024 Trần Quốc T3 điện thoại cho Trầm Văn T nhờ mua 200.000 đồng ma tuý đá đem đến phòng trọ của T3 để cùng nhau sử dụng thì T đồng ý. Toán điều khiển xe môtô biển số 68CA-026.07 đi đến khu vực phòng trọ thuộc ấp F, xã S, huyện T tìm gặp người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) hỏi mua 200.000 đồng ma tuý đá. Sau khi mua được ma tuý, T đi đến phòng trọ số 57 thuộc ấp F, xã S, huyện T do người phụ nữ tên Q (không rõ nhân thân lai lịch) đang thuê ở cùng với T3 và Thạch Thị H2. Khi đến phòng trọ, T đưa gói ma tuý cho T3, T3 nói chưa có tiền trả lại cho T và sẽ trả sau thì T đồng ý. Lúc này, trong phòng trọ có Toán, T3, Q và Thạch Thị H2, T3 vào trong bếp lấy bộ dụng cụ sử dụng ma tuý (gồm có chai nhựa, ống hút nhựa, nỏ thuỷ tinh) rồi đỗ ma tuý vào trong nỏ thuỷ tinh, dùng quẹt ga đốt nóng ma tuý và T3 sử dụng trước, sau đó đến T, Q và H2 cùng nhau sử dụng đến khi hết ma tuý thì nghỉ. T3 mượn xe môtô biển số 68CA-026.07 của T để chở H2 đi về nhà H2 lấy tiền trả tiền mua ma tuý cho T, còn T ngủ tại phòng trọ của Q. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, T đi ra khu vực trước phòng trọ của Q đang ở, gặp người đàn ông (không rõ nhân thân lai lịch) hỏi mua 200.000 đồng ma tuý đá rồi đi về phòng trọ của T đang thuê ở. Khi về đến phòng trọ số 02 tại ấp S, xã C, huyện T, nơi T, Trương Oanh S1 và Hà Thanh S cùng nhau góp tiền thuê để ở, T lấy gói ma tuý ra và rủ Trương Oanh S1, Hà Thanh S cùng sử dụng ma tuý. Hà Thanh S là người chế bộ dụng cụ sử dụng ma tuý (gồm có chai nhựa, ống hút nhựa và nỏ thuỷ tinh), T đưa gói ma tuý cho S đỗ vào nỏ thuỷ tinh, dùng quẹt ga đốt nóng ma tuý lên rồi S sử dụng trước, sau đó đến T và Trương Oanh S1 cùng nhau sử dụng. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, T3 điều khiển môtô biển số 68CA-026.07 chở H2 đến phòng trọ số 02 tại ấp S, xã C, huyện T để tìm T và trả 200.000 đồng cho T nhưng lúc này T không có mặt tại phòng trọ. Trong phòng trọ lúc này chỉ có Hà Thanh S và Trương Oanh S1 đang ngồi xem điện thoại, T3 và H2 đến tìm T nhưng không gặp nên ngồi trong phòng đợi. Hà Thanh S thấy bộ D2 sử dụng ma tuý để trong phòng, bên trong nỏ thuỷ tinh vẫn còn ma tuý nên Hà Thanh S nói T3 và H2 đến sử dụng ma tuý thì T3 và H2 đồng ý, Trương Oanh S1 đang ngồi trong phòng cũng nghe Hà Thanh S mời T3, H2 sử dụng ma tuý nhưng Trương Oanh S1 không nói gì. T3 và H2 ngồi mỗi người hút được 01 lần thì hết ma tuý, khoảng 10 phút sau thì T về đến phòng trọ, T3 trả cho T 200.000 đồng đã nhờ T mua ma tuý giúp trước đó rồi T3 và H2 đi về.
Đến khoảng 21 giờ ngày 01/4/2024 T, Trương Oanh S1, Hà Thanh S rủ nhau mỗi người góp 100.000 đồng để T đi mua 300.000 đồng ma tuý đá đem về cùng sử dụng. Toán điều khiển môtô biển số 68CA-026.07 đến khu vực phòng trọ của Q đang ở tại ấp F, xã S, huyện T, gặp người đàn ông không biết tên (không rõ nhân thân lai lịch) hỏi mua 300.000 đồng ma tuý đá. Sau khi mua được ma tuý, T cất gói ma tuý vào trong túi quần bên phải phía trước rồi ngồi chơi tại khu vực ngoài phòng trọ. Đến khoảng 23 giờ 30 cùng ngày, T điều khiển môtô biển số 68CA-026.07 đi về phòng trọ để đem ma tuý về cùng với Trương Oanh S1 và Hà Thanh S sử dụng. Trên đường đi đến km I đường N, xã S, huyện T thì Lực lượng Công an xã S, huyện T tiến hành dừng xe môtô biển số 68CA-026.07 Toán đang điều khiển để kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra phát hiện trong túi quần của T có 01 gói nylon kích thước 03cm x 05cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng, T khai nhận gói nylon bên trong có ma tuý đá, T vừa mua để đem về sử dụng. Lực lượng Công an xã S, huyện T đã lập hồ sơ phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và chuyển đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T xử lý theo thẩm quyền. Đến ngày 02/4/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và tiến hành bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Trần Quốc T3, Thạch Thị H2, Trương Oanh S1 và Hà Thanh S. Tiến hành kiểm tra phòng trọ số 57 khu nhà trọ thuộc ấp F, xã S, huyện T (do bà Nguyễn Thị H4 làm chủ) không thu giữ được vật chứng gì, đối tượng tên Q là người thuê phòng trọ đã bỏ trốn; tiến hành kiểm tra phòng trọ số 02 khu nhà trọ thuộc ấp S, xã C, huyện T (do bà D1 Lương Hiền làm chủ) thu giữ 01 chai nhựa nhãn hiệu C2 có nắp chai màu đỏ, 01 ống hút nhựa màu trắng, đối với 01 nỏ thuỷ tinh Hà Thanh S khai nhận do thấy bị bể nên đã vứt bỏ (Bút lục số: 01 – 10, 130 – 150, 157 – 170, 177 – 190, 217 – 231).
Ngày 02/4/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã trưng cầu giám định đối với số ma túy thu giữ, tại Bản Kết luận giám định 683/KL-KTHS ngày 09/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:
+ Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng 0,1725 gam, loại Methamphetamine;
(Bút lục số: 75 – 78).
Ngày 09/4/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can đối với Trầm Văn T, Hà Thanh S, Trương Oanh S1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; khởi tố bị can đối với Thạch Thị H2 và Trần Quốc T3 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; quá trình điều tra các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
Tại phiên tòa Trầm Văn T, Hà Thanh S, Trương Oanh S1, Trần Quốc T3 và Thạch Thị H2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trang truy tố đối với các bị cáo là đúng sự thật.
Trầm Văn T trình bày, ngày 01/4/2024 T là người trực tiếp đi mua ma túy về để cho các bị cáo cùng sử dụng 02 lần và 01 lần chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang. Lần thứ nhất khoảng 15 giờ T mua ma túy về cho T3 tại phòng trọ chị Q ở ấp F, xã S rồi cùng sử dụng với T3, Q và H2. Lần thứ hai khoảng 16 giờ, T mua 200.000 đồng ma túy về tại phòng trọ của T với Trương Oanh S1, Hà Thanh S đang trọ ở ấp S, xã C để cùng nhau sử dụng. Lần thứ ba khoảng 21 giờ, T với Trương Oanh S1, Hà Thanh S góp mỗi người 100.000 đồng đề T đi mua ma túy về sử dụng thì bị bắt quả tang như nội dụng cáo trạng đã nêu.
Hà Thanh S trình bày, S cùng với T và Trương Oanh S1 cùng góp tiền thuê phòng trọ số 02 ở ấp S, xã C để ở. Khoảng 16 giờ ngày 01/4/2024 T về phòng trọ mang theo 01 gói ma túy rủ S1 và Trương Oanh S1 cùng sử dụng, cả 02 đồng ý, S1 trực tiếp đi làm dụng cụ để cùng nhau sử dụng ma túy. Sau đó, T đi ra ngoài thì T3 và H2 đến phòng trọ để trả tiền cho T nên ngồi đợi, do thấy ma túy còn trong nỏ thủy tinh ở bộ dụng cụ sử dụng ma túy mà S1, Trương Oanh S1 và T vừa sử dụng nên S1 rủ T3 và H2 đến sử dụng, lúc này trong phòng trọ có S1, Trương Oanh S1, T3 và H2, Trương Oanh S1 không nói gì, T3 và H2 hút mỗi người 01 lần thì hết ma túy. Được một lúc, T về thì T3 trả cho T 200.000 đồng rồi ra về. đến khoảng 21 giờ cùng ngày, S1, T và Trương Oanh S1 góp mỗi người 100.000 đồng để T đi mua ma túy về cùng sử dụng thì T bị công an bắt quả tang như cáo trạng đã mô tả.
Trương Oanh S1 trình bày, Sang tên thật là Trương Oanh S1 nhưng do không có giấy tờ nên quá trình điều tra và truy tố lấy tên anh rể là Lê Thanh S4, khi ra Tòa bị cáo nhận thức được nên xác định lại tên thật của bị cáo là Trương Oanh S1. Trong vụ án này, bị cáo cùng với T và Hà Thanh S cùng góp tiền thuê phòng trọ số 02 ở ấp S, xã C để ở. Khoảng 16 giờ ngày 01/4/2024 T về phòng trọ mang theo 01 gói ma túy rủ S và Hà Thanh S cùng sử dụng, cả 02 đồng ý, Hà Thanh S trực tiếp đi làm dụng cụ để cùng nhau sử dụng ma túy. Sau đó, T đi ra ngoài thì T3 và H2 đến phòng trọ để trả tiền cho T nên ngồi đợi, S đang ngồi xem điện thoại thì nghe Hà Thanh S rủ T3 và H2 đến sử dụng ma túy còn lại trong nỏ thủy tinh mà S, T và Hà Thành S5 vừa sử dụng, T3 và H2 hút mổi người 01 lần thì hết ma túy. Được một lúc, T về thì T3 trả cho T 200.000 đồng rồi ra về. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, S5, T và Hà Thanh S góp mỗi người 100.000 đồng để T đi mua ma túy về cùng sử dụng thì T bị công an bắt quả tang như cáo trạng đã mô tả.
Trần Quốc T3 trình bày, T3 và H2 có quan hệ yêu đương và đang ở tại phòng trọ với người phụ nữ tên Q (không rõ nhân thân, lai lịch), do Q, T3 và H5 có nhu cầu sử dụng ma túy nhưng không ai có tiền nên thỏa thuận nhờ T mua ma túy rồi trả tiền sau. Khoảng 15 giờ ngày 01/4/2024 T3 điện thoại cho Trầm Văn T nhờ mua 200.000 đồng ma túy đưa về cho T3 tại phòng trọ số E ở ấp F, xã S rồi cùng nhau sử dụng với T, Q và H2. Sau đó, T3 mượn xe mô tô của T chở H2 về nhà lấy tiền để trả tiền mua ma túy cho T. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, T3 chở H2 đến phòng trọ để trả tiền cho T, lúc này T đi vắng chỉ có Hà Thanh S và Trương Oanh S1 đang ở tại phòng trọ, trong phòng có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy bên trong nỏ thủy tinh vẫn còn ma túy, thì Hà Thanh S mời T3 và H2 đến sử dụng ma túy, T3 và H2 đồng ý và ngồi xuống mỗi người hút 01 hơi thì hết ma túy, lúc Hà Thanh S mời thì Trương Oanh S1 có nghe và không có nói gì. Sau đó, T về thì T3 lấy 200.000 đồng mà H2 đưa trước đó trả cho T rồi đi về.
Thạch Thị H2 trình bày, khoảng 15 giờ ngày 01/4/2024 H2, T3 và Q đang ở phòng trọ thì có nhu cầu sử dụng ma túy nên thỏa thuận ai có tiền thì bỏ ra để mua ma túy, do T3 không có tiền nên H2 nói T3 gọi nhờ mua ma túy trước rồi trả tiền sau. Sau đó, khi Trầm Văn T đưa ma túy đến cho T3, T3 nói trả tiền sau thì T đồng ý. Lúc này, tại phòng trọ số 57 của chị Q ở ấp F, xã S thì có mặt T3, Q và H2, T3 đi lấy dụng cụ sử dụng ma túy ra rồi H2, T3, T và Q cùng nhau sử dung hết số ma túy. Xong T3 mượn xe T chở H2 về nhà H2 lấy 200.000 đồng trả tiền mua ma túy cho T. Về lần sử dụng ma túy tại phòng trọ của T, H2 và T3 không góp tiền mà Hà Thanh S mời sử dụng, lúc đó có mặt H2, T3, Hà Thanh S và Trương Oanh S1, lúc H2 và T3 sử dụng ma túy thì Oanh S1 biết và không có ý kiến gì.
Tại bản cáo trạng số: 301/CT/VKS-TB, ngày 31 tháng 10 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố các bị cáo:
Trầm Văn T, Trương Oanh S1 và Hà Thanh S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và các điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự 2015.
Trần Quốc T3 và Thạch Thị H2 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự 2015.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
Tuyên bố bị cáo Trầm Văn T, Trương Oanh S1 và Hà Thanh S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Tuyên bố bị cáo Trần Quốc T3 và Thạch Thị H2 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 và các điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự 2015.
Xử phạt bị cáo Trầm Văn T, Trương Oanh S1 và Hà Thanh S mỗi bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và từ 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung cả 02 tội cho mỗi bị cáo từ 09 năm đến 10 năm tù.
Xử phạt bị cáo Trần Quốc T3 và Thạch Thị H2 mỗi bị cáo từ 07 năm đến 08 năm tù.
Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Về vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung màu đen thu giữ của bị can Trương Oanh S1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7 thu giữ của bị can Hà Thanh S. Do các vật chứng trên không liên quan đến vụ án nên ngày 29/7/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho các chủ sở hữu (Bút lục số: 242 – 244). Đối với chiếc xe môtô nhãn hiệu DETECH gắn biển số 68CA-026.07 qua xác minh tra cứu biển số xe 68CA-026.07 do anh Nguyễn Minh N2 (sinh năm 2001, trú tại ấp N, xã N, huyện A, tỉnh Kiên Giang), đứng tên chủ sở hữu, anh N2 mua xe vào năm 2017 và xe môtô nhãn hiệu ESPERO, anh N2 đã bán xe cho người khác. Do hiện nay chưa xác định được chủ sở hữu xe môtô nhãn hiệu DETECH gắn biển số 68CA-026.07 nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T tách ra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau. Đối với 01 phong bì (đã niêm phong) bên trong chứa chất ma tuý còn lại sau giám định; 01 chai nhựa nhãn hiệu C2 có nắp nhựa màu đỏ đục 02 lỗ, 01 ống hút màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen gắn sim số 0583.657.004, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus gắn sim số 0963.719.743 là vật chứng vụ án nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom để xử lý theo quy định.
Đối với đối tượng đã bán ma túy cho bị cáo Trầm Văn T và đối tượng tên Q (là người thuê phòng trọ và cho các bị cáo H2, T và T3 sử dụng ma tuý) do không xác định được lai lịch nhân thân và chưa làm việc được nên đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tiếp tục xác minh làm rõ có cơ sở xử lý sau.
Đối với bà Nguyễn Thị H4 (là chủ khu phòng trọ tại ấp F, xã S) và bà Dịp Lương H6 (là chủ khu phòng trọ tại ấp S, xã C) là người đã cho các bị cáo thuê phòng trọ ở, do không biết hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” của các bị cáo tại khu phòng trọ của mình cho thuê nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không có cơ sở xử lý.
Đối với Trương Oanh S1 quá trình điều tra và truy tố bị cáo khai tên là Lê Thanh S4. Tại phiên tòa ngày 18/9/2024 Bị cáo trình bày tên thật là Trương Oanh S1 nên Tòa án đã trả hồ sơ điều tra bổ sung. Kết quả điều tra bổ sung xác định bị cáo tên là Trương Oanh S1, do không có giấy tờ nhân thân và nơi đăng ký thường trú nên bị cáo lấy tên anh rể là Lê Thanh S4 để đi xin việc làm, khi bị bắt do không hiểu biết pháp luật nên bị cáo vẫn khai tên Lê Thanh S4, bị cáo không có mục đích gì khác. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và những lời khai trước đó khi trình bày với tên Lê Thanh S4 trong quá trình điều tra, truy tố là hoàn toàn đúng sự thật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Tại phiên tòa các bị cáo Trầm Văn T, Trương Oanh S1, Hà Thanh S, Trần Quốc T3 và Thạch Thị H2 thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dụng bản cáo trạng truy tố đối với các bị cáo. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luật giám định, kết quả xét nghiệm chất ma túy và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó, đã có đủ căn cứ kết luận:
Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 01/4/2024 tại phòng trọ số 57 khu nhà trọ thuộc ấp F, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Trầm Văn T, Trần Quốc T3, Thạch Thị H2 và đối tượng tên Q (không rõ nhân thân lai lịch đã có hành vi tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma tuý. Cùng ngày, vào khoảng thời gian từ 16 giờ đến 17 giờ tại phòng trọ số 02 khu nhà trọ thuộc ấp S, xã C, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Trầm Văn T, Trương Oanh S1 và Hà Thanh S đã có hành vi tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma tuý sau đó Hà Thanh S và Trương Oanh S1 tiếp tục có hành vi tổ chức cho Thạch Thị H2 và Trần Quốc T3 sử dụng trái phép chất ma tuý.
Cùng ngày, khoảng 23 giờ 30 phút Trầm Văn T, Trương Oanh S1 và Hà Thanh S còn có hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 0,1725 gam ma túy loại Methamphetamine, nhằm mục đích sử dụng, thì bị Lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.
Hành vi nêu trên của Trầm Văn T, Trương Oanh S1, Hà Thanh S đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự 2015 với các tình tiết định khung “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Đối với 02 người trở lên”.
Hành vi nêu trên của Trần Quốc T3 và Thạch Thị H2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự 2015 với tình tiết định khung “Đối với 02 người trở lên”.
[2.2] Xét về tính chất, mức độ thực hiện hành vi và vai trò của các bị cáo thì thấy: Các bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm nhưng chỉ dừng ở mức giản đơn, không có người cầm đầu, các bị cáo đều là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, trong đó bị cáo T cung cấp chất ma tuý, bị cáo Trương Oanh S1 và Hà Thanh S cung cấp địa điểm và góp tiền mua ma tuý, bị cáo T3 cung cấp bộ dụng cụ sử dụng và gọi cho bị cáo T mua ma tuý giúp; bị cáo H2 là người bỏ tiền mua ma tuý để cùng nhau thực hiện tội phạm. Nên bị cáo T có vai trò cao hơn các bị cáo khác.
[2.3] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo thì thấy:
Về nhân thân: Các bị cáo đều là người có nhân thân tốt vì không có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải. Nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về việc áp dụng hình phạt: Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng do lỗi cố ý, xâm phạm khách thể về ma túy được pháp luật bảo vệ, bản thân các bị cáo là người nhiều lần trực tiếp sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung, cũng như tạo điều kiện cho các bị cáo có thời gian để cai nghiện ma túy. Tuy nhiên, cũng cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo nêu trên để giảm nhẹ một phần hình phạt, thể hiện tính nghiêm minh, khoan hồng của pháp luật.
[2.4] Về xử lý vật chứng:
Cần tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen, kèm sim 8984050923 1713229870 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu vàng đồng, kèm sim có số seri 89840 48000 33685 8431, phương tiện dùng vào việc phạm tội.
Cần tịch thu tiêu hũy 01 (một) phong bì đã niêm phong chứa chất ma tuý còn lại sau giám định vụ số 683/KL-KTHS ngày 09 tháng 4 năm 2024 của Phòng K công an tỉnh Đ.
[3] Về án phí: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quan điểm đề nghị về tội danh truy tố đối với bị cáo của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
VÌ CÁC LẼ TRÊN,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 58 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Trầm Văn T 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung cả 02 (hai) tội cho bị cáo Trầm Văn T là 09 (chín) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 01/4/2024.
Xử phạt bị cáo Hà Thanh S 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung cả 02 (hai) tội cho bị cáo Hà Thanh S là 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/4/2024.
Xử phạt bị cáo Trương Oanh S1 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung cả 02 (hai) tội cho bị cáo Trương Oanh S1 là 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/4/2024.
Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Trần Quốc T3 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 02/4/2024.
Xử phạt bị cáo Thạch Thị H2 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 02/4/2024.
[2] Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 điều 106 Bộ tố tụng hình sự năm 2015:
Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu đen, kèm sim 8984050923 1713229870 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 Plus màu vàng đồng, kèm sim có số seri 89840 48000 33685 8431.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì đã niêm phong chứa chất ma tuý còn lại sau giám định vụ số 683/KL-KTHS ngày 09 tháng 4 năm 2024 của Phòng K công an tỉnh Đ.
(Vật chứng hiện đang ở Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/8/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai).
[2] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Trầm Văn T, Trương Oanh S1, Hà Thanh S, Trần Quốc T3 và Thạch Thị H2 mổi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[3] Báo cho các bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Lê Hữu Phúc |
Bản án số 301/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 301/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trầm Văn Toán, Trương Oanh Sang và Hà Thanh Sang phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
