Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 301/2024/HS-ST

Ngày: 13-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thị Thùy Trang

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Huỳnh Hữu Tường
  2. Bà Lâm Thị Nga

Thư ký phiên toà: Ông Triệu Việt Anh – Cán bộ Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Trần Xuân Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 419/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1734/2024/QĐXXST ngày 22/10/2024, đối với các bị cáo:

1/ Nguyễn Thành Q, sinh năm 2000; Nơi sinh: Tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: 1 Đ, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: không có; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 01/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1965, con bà Trần Thị Thu H, sinh năm 1970; Anh chị em 02 người lớn nhất sinh năm 1998 nhỏ nhất là bị cáo; vợ con chưa có;

Tiền án: có 01 tiền án.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 43/HSST ngày 29/3/2023 của Toà án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt Nguyễn Thành Q 09 tháng tù, về tội; “Trộm cắp tài sản”. Ngày 23/9/2023 Q chấp hành xong hình phạt tù, đã chấp hành xong nghĩa vụ của Bản án (chưa xoá án tích).

Tiền sự: không

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/6/2024 (Có mặt tại phiên tòa).

2/ Nguyễn Việt T1, sinh năm 1989; Nơi sinh: Tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: 8 H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú:không nơi cư trú nhất định; Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hóa: 08/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Nguyễn Văn H1 (đã chết), con bà Tăng Thị T2, sinh năm 1968; Anh chị em 02 người lớn nhất là bị cáo nhỏ nhất sinh năm 1991, Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 24/2012/HSST ngày 13/02/2012 của Toà án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt Nguyễn Việt T1 03 năm 06 tháng tù, về tội; “Cướp giật tài sản”. Ngày 30/8/2013 T1 chấp hành xong hình phạt tù, đã chấp hành xong nghĩa vụ của Bản án.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/8/2024 (Có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: ông Huỳnh Đắc H2; Địa chỉ: A, Khu phố F, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).

Người làm chứng: Huỳnh Phối D; Địa chỉ: Nhà không số, Tổ C, ấp Đ, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thành Q là đối tượng không có việc làm, sống lang thang và nghiện chất ma túy nên Q đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác để bán lấy tiền tiêu xài. Do Q và Nguyễn Việt T1 là bạn bè quen biết ngoài xã hội từ năm 2019, nên vào ngày 06/4/2024 Q đến nhà của T1 và người chung sống như vợ chồng với T1 là Huỳnh Phối D tại địa chỉ nhà không số, tổ C, ấp Đ, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh để chơi.

Khoảng 11 giờ ngày 07/4/2024, Q đi bộ từ nhà T1 đến các tuyến đường thuộc huyện H và Quận A để tìm người dân có tài sản sơ hở để trộm cắp, bán lấy tiền tiêu xài. Đến khoảng 13 giờ 20 phút cùng ngày, lúc Q đi đến trước nhà số A, đường L, khu phố F, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thì phát hiện cửa cổng đang mở, bên trong sân nhà dựng 01 xe mô tô hiệu Honda Wave RSX, màu đỏ đen, biển số 59G1-799.90 (do anh Huỳnh Đắc H2 là chủ sở hữu) đang cắm sẵn chìa khóa trên ổ khóa xe, không có người trông coi. Q đi bộ đến xe mô tô biển số 59G1-799.90, rồi dùng hai tay đẩy lùi xe mô tô ra ngoài đường L thuộc khu phố F, phường T, Quận A, ngồi lên xe mô tô biển số 59G1-799.90, mở khóa khởi động và điều khiển xe tẩu thoát.

Sau đó, Q điều khiển xe biển số 59G1-799.90 trộm cắp được về đậu xe ngoài hẻm trước nhà không số, tổ C, ấp Đ, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh để tìm T1. Tại đây, Q gặp Huỳnh Phối D nên D hỏi Q xe mô tô trên của ai, Q trả lời “xe mới làm”, D hiểu rằng xe mô tô trên là do Q trộm cắp mà có, D không đồng ý cho Q để xe trong nhà mà để Q đứng ở ngoài. Khoảng 15 phút sau, T1 về đến nhà thì hỏi Q xe mô tô biển số 59G1-799.90 ở đâu mà có, Q trả lời xe của Q, nhờ T1 tìm chỗ cầm cố giùm, T1 đồng ý. Khi T1 điều khiển xe mô tô biển số 59G1-799.90 chở Q ngồi sau tìm nơi cầm cố, T1 tiếp tục hỏi Q về nguồn gốc xe mô tô biển số 59G1-799.90 thì Q nói là “xe mới làm ở Quận A”, T1 hiểu là xe Q mới trộm cắp ở địa bàn Quận A, nhưng T1 vẫn đồng ý giúp Q tìm nơi tiêu thụ xe. Do điều khiển xe mô tô biển số 59G1-799.90 trên đường tìm nơi tiêu thụ dễ bị phát hiện, T1 điều khiển xe mô tô trên chở Q đến trước khu vực địa chỉ B, ấp T, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, T1 gọi cho người bạn của T1 tên Giang N (không rõ lai lịch) mang đến cho T1 một biển số xe mô tô khác (không rõ thông tin biển số), T1 tháo biển số 59G1-799.90, gắn vào biển số này, riêng biển số 59G1-799.90 thì T1 vứt tại cùng địa chỉ.

T1 điều khiển xe mô tô trộm cắp chở Q đến khu vực ấp C, xã T, huyện H, rồi T1 gọi cho người bạn của T1 tên T (không rõ lai lịch) nhờ đi cầm cố xe trộm cắp, T hỏi xe của ai thì T1 và Q đều nói là xe của Q nên T đồng ý đi cầm giùm. T1 chở Q và T đến quán Lẩu bò “Sáu Xị”, tại địa chỉ 54/1, đường N, xã B, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh để cùng ăn nhậu. Tại đây, T1 nói để T1 và T đi cầm xe nhưng Q không đồng ý, nên T điều khiển xe chở Q đi tìm nơi cầm cố. Khi đến tiệm C, địa chỉ 32/6, đường N, ấp H, xã B, huyện H, TP ., T và Q gặp chủ tiệm cầm đồ là anh Đỗ Anh T3, tuy nhiên anh T3 không nhận cầm cố do xe không có giấy tờ nên T chở Q quay lại quán Lẩu bò Sáu X tiếp tục ngồi nhậu.

Lúc này, T1 và Q bàn bạc với nhau tiếp tục tìm nơi khác để cầm cố xe mô tô trộm cắp nhưng không thống nhất với nhau. Sau đó T1, Q, T về nhà của T1 và D tại địa chỉ: nhà không số, tổ C, ấp Đ, xã B, huyện H, để xe mô tô trộm cắp ở hẻm phía trước nhà. Một lúc sau, T1 tự ý điều khiển xe mô tô do Q trộm cắp được chở T về khu vực ấp C, xã T, huyện H, rồi T1 đi đến quán cà phê địa chỉ 94/5, tổ E, ấp T, xã B, huyện H. Tại đây, T1 hỏi tìm người mua xe thì được một người khách đang uống cà phê (không rõ lai lịch) cho số điện thoại người tên H3 (không rõ lai lịch), T1 gọi điện cho H3 đến để mua xe, khoảng 20 phút sau, H3 đến xem xe, hỏi T1 về nguồn gốc xe thì T1 nói xe của người em xã hội, không có giấy tờ, H3 đồng ý mua với giá tiền 2.500.000 đồng, sau khi bán xe T1 đi bộ về nhà.

Đến khoảng 23 giờ 00 cùng ngày, Q thức dậy nhưng không thấy T1 ở nhà nên đã đi bộ ra đường Bà Đ 09, xã B, huyện H thì bị lực lượng Công an triệu tập làm việc. Đối với Nguyễn Việt T1 khi đi bộ về gần đến nhà do phát hiện có lực lượng Công an nên đã trốn, sống lang thang. Qua công tác điều tra truy xét, vào ngày 02/7/2024 Cơ quan CSĐT Công an Q1 đã triệu tập Nguyễn Việt T1 lên làm việc.

Tại Cơ quan CSĐT điều tra Công an Q1, Nguyễn Thành Q và Nguyễn Việt T1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.

Ngoài ra, T1 còn khai nhận: Sau khi biết xe mô tô biển số 59G1 – 799.90 là do Nguyễn Thành Q trộm cắp mà có, tuy không hứa hẹn từ trước nhưng cùng đem tài sản đi bán. T1 không biết rõ lai lịch cũng như nơi ở của các đối tượng “Giang Nem”, “T”, “H3”. Số tiền 2.500.000 đồng T1 bán xe mà có thì đã được T1 sử dụng tiêu xài cá nhân hết.

Vật chứng vụ án gồm:

  • - 01 xe mô tô hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen, biển số 59G1 – 799.90 (do Anh Huỳnh Đắc H2 làm chủ sở hữu, xe bị mất trộm chưa thu hồi được). Kết luận định giá tài sản số 114/KL-HĐĐGTTHS ngày 06/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận A, kết luận: 01 xe mô tô hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen, biển số 59G1 – 799.90, dung tích xi lanh 109cm3, năm sản xuất: 2014, số khung: RLHJA3117EY080061, số máy: JA31E0154506 có giá trị số tiền là 7.500.000 đồng (BL:09).
  • - 01 quần Jean ống dài màu xanh, 01 áo thun màu trắng có bông hình chiếc là màu đen và màu xám, 01 đôi dép xỏ ngón màu đen trên quai dép có sọc và hình chữ FIFA màu trắng (thu giữ của Nguyễn Thành Q).
  • - 02 USB chứa dữ liệu hình ảnh ghi nhận quá trình trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (kèm theo hồ sơ vụ án).

Về phần trách nhiệm dân sự: người bị hại là anh Huỳnh Đắc H2 yêu cầu bồi thường thiệt hại sô tiền 10.000.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số: 285/CT-VKS ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thành Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017

Truy tố bị cáo Nguyễn Việt T1 về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa: Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 điểm h khoản 1 điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Q từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo T1 từ 09 tháng tù đến 01 năm tù.

Xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định.

Về phần trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Q bồi thường cho bị hại là anh Huỳnh Đắc H2 sô tiền 10.000.000 đồng.

Buộc bị cáo T1 nộp lại số tiền thu lợi bất chính: 2.500.000 đồng.

Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không tranh luận, bị cáo Q đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng, bị cáo T1 đồng ý nộp lại số tiền thu lợi bất chính: 2.500.000 đồng, Các bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q1, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo khai nhận về hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 đã truy tố. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và vụ án còn được chứng minh bằng các tài liệu, vật chứng thu giữ và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Vào ngày 07/4/2024 Nguyễn Thành Q lén lút lấy trộm xe mô tô biển số 59G1 – 799.90 tại địa chỉ: số A, đường L, khu phố F, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Kết luận định giá tài sản có giá trị là 7.500.000 đồng.

Cùng ngày 07/4/2024, tại quán cà phê địa chỉ số I, tổ E, ấp T, xã B, huyện H, mặc dù biết xe mô tô biển số 59G1 – 799.90 do Nguyễn Thành Q phạm tội mà có nhưng Nguyễn Việt T1 vẫn đem đi bán cho người khác và hưởng lợi 2.500.000 đồng.

Như vậy, đã đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Thành Q cấu thành Tội trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Việt T1 cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Đối với Huỳnh Phối D không có hành vi “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; D biết Nguyễn Thành Q trộm cắp xe mô tô biển số 59G1-799.90 nhưng không tố giác tội phạm, tuy nhiên Q phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự (thuộc trường hợp tội phạm ít nghiêm trọng). Do đó không đủ căn cứ để xử lý trách nhiệm hình sự đối với Huỳnh Phối D.

Đối với Giang N có hành vi đưa biển số xe mô tô khác cho T1, T chở Q đi cầm cố xe mô tô biển số 59G1-799.90 và H3 mua lại xe mô tô biển số 59G1-799.90 từ T1. Tuy nhiên Giang N, T, H3 chưa xác định được nhân thân, lai lịch, không biết rõ nguồn gốc xe mô tô biển số 59G1-799.90 do Nguyễn Thành Q trộm cắp mà có nên chưa đủ căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi, vai trò của các bị cáo:

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Do vậy phải xử nghiêm minh tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Cần thiết phải cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục các bị cáo thành người tốt cho xã hội.

Đối với bị cáo Q có một tiền án bị cáo mới chấp hành xong hình phạt bị cáo chưa được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội nên lần này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Đối với bị cáo T1 bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo đã từng bị Toà án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt Nguyễn Việt T1 03 năm 06 tháng tù, về tội; “Cướp giật tài sản” bị cáo chấp hành xong bản án ngày 30/8/2013 nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự:

  • - Về xử lý vật chứng:
  • Lưu hồ sơ vụ án 02 USB chứa dữ liệu hình ảnh ghi nhận quá trình trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (kèm theo hồ sơ vụ án) nên tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.
  • Tịch thu tiêu hủy: 01 quần Jean ống dài màu xanh, 01 áo thun màu trắng có bông hình chiếc là màu đen và màu xám, 01 đôi dép xỏ ngón màu đen trên quai dép có sọc và hình chữ FIFA màu trắng (thu giữ của Nguyễn Thành Q) hiện không còn giá trị sử dụng.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo Q tại phiên tòa đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 10.000.000 đồng.
  • Ghi nhận bị cáo T1 tại phiên tòa tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 2.500.000 đồng.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế của các bị cáo khó khăn nên không áp dụng.

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm các bị cáo phải nộp theo quy định của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Riêng bị cáo Q phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Q 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 08/6/2024.

[2] Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt T1 01 năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Thời hạn tù tính từ ngày 16/8/2024.

[2] Căn cứ Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Buộc bị cáo T1 nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 2.500.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.

  • - Lưu hồ sơ vụ án: 02 USB chứa dữ liệu hình ảnh ghi nhận quá trình trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (kèm theo hồ sơ vụ án).
  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 quần Jean ống dài màu xanh, 01 áo thun màu trắng có bông hình chiếc là màu đen và màu xám, 01 đôi dép xỏ ngón màu đen trên quai dép có sọc và hình chữ FIFA màu trắng (thu giữ của Nguyễn Thành Q).

Theo Quyết định chuyển vật chứng số 249/QĐ-VKS, ngày 24/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

[3]. Về trách nhiệm dân sự:

Căn cứ các điều 357, 589 Bộ luật Dân sự: Buộc bị cáo Q bồi thường cho bị hại ông Huỳnh Đắc H2 số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng. Bồi thường ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kể từ ngày ông Huỳnh Đắc H2 có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, các bị cáo Q còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Về án phí: Căn cứ vào các điều 23, 26 Nghị quyết Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc các bị cáo Q, T1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Riêng các bị cáo Q còn phải nộp thêm 500.000 đồng (Năm trăm ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND TPHCM (1b);
  • - VKSND TPHCM (1b);
  • - Sở Tư pháp TPHCM (1b);
  • - Phòng PC53 CA TP. HCM; (01)
  • - VKSND Quận 12 (1b);
  • - Cơ quan điều tra CA Quận 12 (1b);
  • - Cơ quan THAHS CA Quận 12 (1b);
  • - Chi cục THADS Quận 12 (1b);
  • - UBND nơi bị cáo cư trú; (1b)
  • - Bị cáo, bị hại (2b);
  • - Bộ phận THA Hình sự (5b);
  • - Lưu (vt, hs) (8b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TÒA PHIÊN TÒA

Triệu Thị Thùy Trang

Hội thẩm nhân dân

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 301/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vụ án hình sự: trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có

  • Số bản án: 301/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger