Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

———————

Bản án số: 301/2024/HNGĐ-ST

Ngày 30/9/2024

“V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hải Hường

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Phương

Ông Nguyễn Bình Dương

- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Trọng Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Việt Anh - Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 30/9/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 174/2024/TLST-HNGĐ ngày 26/6/2024 về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 204/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/7/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 183/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29/8/2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị T, sinh năm 1989 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: thôn C, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang

* Bị đơn: Anh Vi Văn T1, sinh năm 1992 (vắng mặt)

Địa chỉ cư trú cuối cùng của anh T1 tại Việt Nam: thôn C, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Anh T1 hiện đang ở nước ngoài không rõ địa chỉ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai chị Hoàng Thị T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Vi Văn T1 kết hôn với nhau ngày 28/02/2011, việc kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu và đã đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện L. Tuy nhiên, thời gian qua vợ chồng đã đầu xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi nhau trong cuộc sống hằng ngày. Vợ chồng đã sống ly thân từ lâu và không còn quan tâm đến nhau nữa. Việc anh T1 đi nước ngoài khi nào chị cũng không biết. Anh T1 đến nay không còn quan tâm gì đến vợ con. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị và anh Vi Văn T1 được ly hôn.

- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là: cháu Vi Hoàng Anh V, sinh ngày 24/10/2011. Hiện cháu V đang ở cùng chị, khi ly hôn chị đề nghị Tòa án giao cháu V cho chị trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: không đề nghị Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung: chị không đề nghị Tòa án giải quyết trong vụ án này.

- Về công nợ chung: Không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.

* Bị đơn là anh Vi Văn T1 hiện đang lao động ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật đối với anh T1 đến nay Tòa án không nhận được thông tin của anh T1.

* Tòa án đã làm việc với ông Vi Văn T2, sinh năm 1968; địa chỉ: thôn C, xã K, huyện L, tỉnh Bắc Giang là bố đẻ của anh Vi Văn T1, ông có ý kiến trình bày: ông là bố đẻ của anh Vi Văn T1. Anh T1 đã không có mặt tại địa phương từ lâu, trước đây anh T1 làm việc trong miền N nhưng hiện nay anh T1 đã đi lao động tại nước ngoài. Gia đình ông vẫn thường xuyên liên hệ với anh T1 qua điện thoại nhưng không biết địa chỉ cụ thể của anh T1 ở nước ngoài. Ông đã thông báo với anh T1 về việc chị T xin ly hôn tại Tòa án thì anh T1 có ý kiến đồng ý ly hôn, anh T1 hiện đang ở nước ngoài nên không về Việt Nam làm việc được.

* Tại phiên tòa sơ thẩm, chị T xin vắng mặt giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Anh T1 vắng mặt không có lý do và không có quan điểm gì trình bày. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 1, 2 Điều 479 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị T. Xử:

Cho chị Hoàng Thị T được ly hôn anh Vi Văn T1.

Về con chung: Giao cháu Vi Hoàng A Việt cho chị Hoàng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết.

Về tài sản chung và công nợ chung không đặt ra xem xét giải quyết.

Về án phí: chị Hoàng Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Hoàng Thị T đang sinh sống tại Việt Nam có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn, trách nhiệm nuôi con chung với anh Vi Văn T1. Bị đơn anh Vi Văn T1 có hộ khẩu tại tỉnh Bắc Giang và hiện đang nước ngoài không có địa chỉ cụ thể. Căn cứ công văn số: 1154/QLXNC ngày 26/4/2024 của Phòng quản lý xuất nhập cảnh - Công an tỉnh B thì anh Vi Văn T1 đã xuất cảnh ra nước ngoài ngày 10/4/2023, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Đây là vụ án “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn được xác định là đang ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang, theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa chị T có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Tòa án đã làm việc với ông Vi Văn T2 là bố đẻ của anh T1 xác định hiện anh T1 đang ở nước ngoài nhưng ông không biết địa chỉ cụ thể của anh T1 ở nước ngoài để cung cấp cho Tòa án. Tòa án đã niêm yết tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng cho anh T1 theo quy định tại khoản 5 Điều 177; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự. HĐXX thấy việc vắng mặt của các đương sự không ảnh hưởng quá trình giải quyết vụ án. Do vậy căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[3]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị T và anh Vi Văn T1 kết hôn với nhau ngày 28/02/2011 tại UBND xã T, huyện L, việc kết hôn trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu nên đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị được ly hôn với anh T1. Xem xét đơn khởi kiện của chị T, HĐXX thấy: chị T xác định hiện nay vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống và đã sống ly thân với nhau. Anh T1 ở nước ngoài, vợ chồng sống xa cách, chị T xác định không còn tình cảm, không còn liên lạc với nhau. Như vậy, tình trạng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh T1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53 và khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, xử cho chị T được ly hôn với anh T1.

[4]. Về con chung: chị T và anh T1 có 01 con chung là cháu Vi Hoàng Anh V, sinh ngày 24/10/2011 hiện đang ở cùng chị T. Bản thân anh T1 hiện nay đang sinh sống ở nước ngoài nên không có thời gian và điều kiện để chăm sóc con chung. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi của con chung cần áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, giao cháu V cho chị T được trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục.

Về cấp dưỡng nuôi con chung chị T không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Sau khi ly hôn, anh T1 không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình.

[5]. Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản (công nợ): chị T không đề nghị nên Tòa án không đặt ra xem xét giải quyết.

[6]. Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, buộc chị Hoàng Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm.

[7]. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, khoản 2 Điều 123 và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273; khoản 1, 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Hoàng Thị T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị T được ly hôn anh Vi Văn T1.
  2. Về con chung: Giao cháu Vi Hoàng Anh V, sinh ngày 24/10/2011 cho chị Hoàng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết.
  3. Sau khi ly hôn, anh T1 không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

  4. Về án phí: Chị Hoàng Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0006008 ngày 28/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
  5. Về quyền kháng cáo:
    • - Anh Vi Văn T1 hiện đang cư trú ở nước ngoài, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
    • Chị Hoàng Thị T cư trú tại Việt Nam, không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND xã Tân Lập, huyện Lục Ngạn;
  • - Cổng thông tin điện tử TANDTC;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Hoàng Thị Hải Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 301/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 301/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tám ly hôn Triều
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger