TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 301/2024/HNGĐ-ST Ngày: 13 – 5 - 2024 V/v ly hôn Thanh - Linh |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ngọc Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đoàn Trí Thiện.
Bà Huỳnh Thị Thể Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết – Thư ký Tòa án nhân dân huyện
Phú Tân, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang tham
gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Phong – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 124/2024/TLST - HNGĐ ngày 29/02/2024 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 10 tháng 04 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà La Thanh T, sinh năm 1997.
Bị đơn: Ông Tô Vũ L, sinh năm 1987.
Cùng trú tại: tổ E, ấp L, xã P, huyện P, tỉnh An Giang
(Các đương sự vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 15/02/2024 nguyên đơn bà La Thanh T trình bày: Bà La Thanh T, ông Tô Vũ L sau thời gian tìm hiểu được sự đồng ý của ông, bà và gia đình rồi đi đến hôn nhân có tổ chức lễ cưới theo nghi thức truyền thống và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P theo Giấy chứng nhận kết hôn số 51, ngày 28 tháng 12 năm 2015. Sau khi kết hôn vợ chồng cùng đi làm tại Bình Dương, sống hạnh phúc thời gian đầu, về sau phát sinh mâu thuẫn thường xuyên cải nhau vì những chuyện vặt trong gia đình, mỗi lần cải nhau thì ông L đánh bà T, đến tháng 07/2023 bà T dọn nhà đi nơi khác ở, vợ chồng ly thân từ đó. Trong thời gian ly thân vợ chồng không gặp mặt và cũng không điện thoại qua lại hỏi thăm nhau, tình cảm vợ chồng vì thế dần phai nhạt, nay tình cảm không còn bà T yêu cầu ly hôn với ông L.
Vợ chồng có 02 người con chung tên Tô Vũ L1, sinh ngày 17/11/2015 và Tô Vũ T1, sinh ngày 18/10/2020 con chung hiện tại đang sống chung với ông L, khi ly hôn bà T đồng ý giao con chung cho ông L nuôi dưỡng, không cấp dưỡng.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Bị đơn ông Tô Vũ L vắng mặt, không có ý kiến trình bày.
Tòa án tiến hành xác minh tình trạng hôn nhân được bà Đinh Thị N(mẹ đẻ của ông L) cho biết: bà có nhận được thông báo và quyết định của Toà án thay cho ông L, có cho L hay việc bà Thanh T ly hôn nhưng ông L bận đi làm không về tham gia phiên Toà được, ông L hiện đang sinh sống với gia đình bà tại ấp L, xã P, huyện P, tỉnh An Giang, L đồng ý ly hôn với bà T. Vợ chồng L có hai con chung tên Tô Vũ L1, sinh ngày 17/11/2015 và Tô Vũ T1, sinh ngày 18/10/2020 hiện đang sống chung nhà với ông L và bà N.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên phát biểu về quá trình tiến hành tố tụng và đề xuất như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật. Ông L không có mặt theo các thông báo là thực hiện không đúng Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu cho bà T được ly hôn ông L. Giao con chung Tô Vũ L1, sinh ngày 17/11/2015 và Tô Vũ T1, sinh ngày 18/10/2020, cho ông L nuôi dưỡng; ông L không yêu cầu cấp dưỡng cho con. Về tài sản chung không yêu cầu giải quyết, nợ chung không có nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: bà T yêu cầu ly hôn, giải quyết con chung với ông L nên xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn có nơi cư trú tại ấp L, xã P, huyện P, tỉnh An Giang nên thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn được tống đạt hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.] Về nội dung giải quyết vụ án:
[2.1 Về hôn nhân: bà T và ông L tự nguyện đi đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới theo nghi thức truyền thống và có đăng ký kết hôn năm 2015 là hôn nhân hợp pháp nên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng. Bà T cho rằng ông L không quan tâm chăm sóc vợ con, vợ chồng vì thế hay cải nhau, mỗi lần cải nhau, ông L đánh bà T, ông L, bà T ly thân với nhau từ 07/2023 đến nay, trong thời gian ly thân ông L, bà T không qua lại, điện thoại hay có ý hàn gắn tình cảm vợ chồng, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, bà T xin ly hôn ông L.
Theo quy định tại Điều 19, Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẽ, thực hiện các công việc trong gia đình; Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau....”. Thế nhưng vợ chồng ông L, bà T không còn chung sống khoảng hơn 08 tháng nay là khoảng thời gian dài. Điều này chứng tỏ vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cũng như không thể chia sẻ công việc trong gia đình với nhau được nữa, đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử thống nhất cho bà Thanh T được ly hôn ông Vũ L.
[2.2] Về con chung: Bà Thanh T và ông L có 02 con chung tên Tô Vũ L1, sinh ngày 17/11/2015 và Tô Vũ T1, sinh ngày 18/10/2020, con chung đang sống chung ông L, bà Thanh T đồng ý giao con chung cho ông L tiếp tục nuôi dưỡng. Xét từ khi ly thân đến nay con chung đang sống với ông L, có cuộc sống ổn định, nên tiếp tục giao cháu L1 và cháu T1 cho ông L nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Ông Vũ L vắng mặt, không yêu cầu cấp dưỡng cho con nên không xem xét giải quyết.
[2.3] Bà Thanh T trình bày tài sản chung, nợ chung không có nên không xem xét giải quyết. Nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân thì phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
[2.4] Về án phí: Bà Thanh T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227, Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 19, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà La Thanh T
Về hôn nhân: Cho bà La Thanh T được ly hôn ông Tô Vũ L.
Về con chung: Giao con chung Tô Vũ L1, sinh ngày 17/11/2015 và Tô Vũ T1, sinh ngày 18/10/2020 cho ông Vũ L được tiếp tục nuôi dưỡng. Bà T không phải cấp dưỡng cho con.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, cơ quan tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về tài sản chung không yêu cầu giải quyết, nợ chung không có.
Về án phí: bà La Thanh T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0006686 ngày 29/02/2024 của Chi cục Thi hành án huyện Phú Tân, tỉnh An Giang. Bà Thanh T không phải nộp thêm án phí.
Ông L không phải chịu án phí.
Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Ông Vũ L, bà Thanh T vắng mặt thời hạn kháng cáo bản án là 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo qui định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Ngọc Thảo |
Bản án số 301/2024/HNGĐ-ST ngày 13/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 301/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
