|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 301/2025/HS-ST Ngày: 15 - 12 - 2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đặng Thuỳ Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Bích
Bà Lê Thị Chí
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Thuý – Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Bá Nghĩa – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 354/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1371/2025/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Võ Văn Minh Đ– sinh năm: 1995 tại tỉnh Trà Vinh (nay là tỉnh Vĩnh Long); nơi đăng ký thường trú: Ấp G, xã V, huyện C, tỉnh Trà Vinh (nay là xã V, tỉnh Vĩnh Long); nơi cư trú: Không có nơi cư trú ổn định; nghề nghiệp: Quản lý; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn Đ1 và bà Nguyễn Thanh L; vợ, con: chưa có
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 28/02/2025 đến nay; có mặt.
- Bị hại: Công ty TNHH V; địa chỉ: G đường P, phường A, Quận G (nay là phường A), Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Bà Vũ Thị M; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty TNHH V, địa chỉ số G đường P, phường A, Quận G (nay là phường A), Thành phố Hồ Chí Minh (do bà Vũ Thị M là người đại diện theo pháp luật) ký hợp đồng lao động với Võ Văn Minh Đ, thời hạn hợp đồng là 36 tháng, lương 5.000.000đồng/tháng, phụ cấp và các chế độ khác. Công việc của Võ Văn Minh Đ là quản lý trung tâm và chịu sự điều hành trực tiếp của bà Vũ Thị M, công việc cụ thể của Đ là sắp xếp lớp học, lịch học, phân bổ giáo viên giảng dạy; quản lý cơ sở vật chất, trang phục, hỗ trợ giáo viên về học cụ; tư vấn tuyển sinh, thu học phí của phụ huynh đóng cho học viên; báo cáo tài chính, chuẩn bị sổ sách hàng tháng; tham gia tổ chức các hoạt động của công ty theo sự sắp xếp của giám đốc. Hàng ngày, Đ thu tiền học phí của học viên do phụ huynh nộp rồi ghi biên lai đưa cho phụ huynh, sau đó nhập vào báo cáo tài chính và ghi sổ tài chính của công ty. Học viên đóng tiền học phí theo 02 hình thức: một là chuyển khoản vào tài khoản Ngân hàng V1 số 0911000032649 hoặc tài khoản Ngân hàng A số 6400205513658 đều do bà M - giám đốc công ty đứng tên chủ tài khoản; hai là học viên đóng tiền mặt trực tiếp cho Đ, Đ sẽ ghi biên lai đưa cho học viên. Lợi dụng công việc được giao trong quá trình thu tiền mặt của học viên đóng học phí, Đ thu tiền nhưng không ghi biên lai, nếu học viên yêu cầu Đ ghi biên lai đưa cho học viên nhưng xé bỏ biên lai lưu và báo cáo tài chính hàng tháng Đ báo cáo là học viên đã đóng học phí bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản của công ty.
Ngày 23/9/2024, nghi vấn Võ Văn Minh Đ gian lận trong việc thu tiền học phí của học viên nên bà M kiểm tra lại sổ sách, chứng từ thì phát hiện bị thiếu tiền nên yêu cầu Đ giải trình, từ đó Đ thừa nhận có lấy tiền của công ty nhưng không nhớ cụ thể đã lấy bao nhiêu tiền. Sau khi cùng bà M đối chiếu báo cáo tài chính hàng tháng (do Đ báo cáo), sổ bàn giao tiền mặt hàng ngày (giữa bà M và Đ); biên lai thu học phí thì Đ thừa nhận từ tháng 06/2024 đến tháng 09/2024, lợi dụng sơ hở trong công tác quản lý của bà M, Đ đã chiếm đoạt tiền học phí của 25 học viên (thu bằng tiền mặt) với tổng số tiền 35.950.000đồng. Trong số đó Cơ quan Cảnh sát điều tra làm việc được với 07/25 phụ huynh. Xác định phụ huynh của học viên tên “Yêu Thương” (nộp tiền từng tháng của các tháng 6, 7, 8/2024 với số tiền 2.400.000đồng; số tiền mỗi tháng đều dưới 2.000.000đồng); phụ huynh học viên “Hạ Yên” (nộp tiền từng tháng của các tháng 6, 8, 9/2024 với số tiền 2.400.000đồng; số tiền mỗi tháng đều dưới 2.000.000đồng); phụ huynh học viên “An Khánh” (nộp tiền tháng 7/2024 là 850.000đồng); phụ huynh học viên “Quỳnh Nga” (nộp tiền tháng 8/2024 là 1.700.000đồng); phụ huynh học viên “Bảo Châu” (nộp tiền tháng 9/2024 là 800.000đồng); phụ huynh học viên “Tường Vy” (nộp tiền từng tháng của tháng 8, 9/2024 với số tiền 2.400.000đồng; số tiền mỗi tháng đều dưới 2.000.000đồng) và phụ huynh học viên “Quỳnh Phương” (nộp tiền tháng 9/2024 là 800.000đồng). Tất cả 07 phụ huynh đều khai nhận đã đóng học phí cho con trực tiếp bằng tiền mặt cho Đ có ghi biên lai thu học phí, trùng khớp thời gian, số tiền mà Đ thừa nhận đã chiếm đoạt. Tổng số tiền 07 phụ huynh đã nộp học phí cho Đ là 11.350.000đồng nhưng Đ không nộp tiền vào tài khoản của công ty mà chiếm đoạt số tiền trên để tiêu xài cá nhân.
Đối với những phụ huynh của các học viên còn lại, Cơ quan điều tra đã liên hệ để ghi lời khai, làm việc nhưng không đến.
Sau khi bà M kiểm tra, đối chiếu sổ bàn giao tiền mặt, báo cáo tài chính, biên lai thu tiền, bảng sao kê tài khoản của công ty thì phát hiện từ tháng 06/2024 đến tháng 09/2024, Võ Văn Minh Đ đã chiếm đoạt của công ty với tổng số tiền là 35.950.000đồng nên bà M đến Công an phường A1, Quận G (nay là phường A), Thành phố Hồ Chí Minh trình báo sự việc.
Vật chứng vụ án:
- 01 điện thoại di động hiệu S J7 Prime, bị bể màn hình, đã qua sử dụng của Đ.
* Tại Cơ quan cảnh sát điều tra và tại phiên toà Võ Văn Minh Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án nêu trên.
Tại phiên toà bà Vũ Thị M là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH V khai như bị cáo đã khai tại phiên toà. Về trách nhiệm hình sự bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; về trách nhiệm dân sự, tại cơ quan điều tra bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho bị hại số tiền 35.950.000đồng nhưng tại phiên tòa bị hại không có yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền trên.
* Tại Cáo trạng số 83/CT-VKS-KV7 ngày 17/11/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 7 đã truy tố bị cáo Võ Văn Minh Đ về tội “Tham ô tài sản” theo khoản 1 Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 giữ nguyên quan điểm như cáo trạng truy tố đối với bị cáo Võ Văn Minh Đ và đề nghị:
- Áp dụng khoản 1 Điều 353; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Xử phạt bị cáo Võ Văn Minh Đ từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Tham ô tài sản”.
Không áp dụng hình phạt bổ sung.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Công ty TNHH V không yêu cầu, không xem xét, giải quyết.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J7 Prime.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Khi nói lời nói sau cùng, bị cáo đã ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định có tội: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ xác định: Từ tháng 6/2024 đến tháng 9/2024 Võ Văn Minh Đ đã lợi dụng nhiệm vụ được giao thu tiền học phí của các học viên tại Công ty TNHH V; Đ đã chiếm đoạt tiền học phí của 25 học viên với số tiền 35.950.000đồng, tiêu xài cá nhân.
Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý đã xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của các cơ quan, tổ chức trong Nhà nước và của các doanh nghiệp, tổ chức ngoài nhà nước; làm cho cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp này bị suy yếu, mất uy tín; xâm phạm quyền sở hữu tài sản của các cơ quan tổ chức nên hành vi của bị cáo Võ Văn Minh Đ phạm vào tội “Tham ô tài sản” quy định tại Điều 353 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 đã truy tố.
[3] Xét về tình tiết định khung hình phạt: Tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại là 35.950.000đồng nên hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 353 Bộ luật Hình sự.
[4] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương do vậy cần xử phạt một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt số tiền học phí do phụ huynh của các học viên nộp cho Công ty TNHH V nhưng không có lần nào số tiền bị cáo thu trên 2.000.000đồng nên bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; tại phiên tòa được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng nên cần xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 353 của Bộ luật Hình sự, người phạm tội có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ. Xét, tính chất hành vi phạm tội và hoàn cảnh gia đình của bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về vật chứng, xử lý vật chứng:
Đối với 01 điện thoại di động hiệu S (đã qua sử dụng bị bể màn hình), thu giữ của bị cáo do không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên trả lại cho bị cáo.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bà Vũ Thị M là người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH V, không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 35.950.000đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Võ Văn Minh Đ phạm tội “Tham ô tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 353; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Võ Văn Minh Đ 03 (ba) năm tù về tội “Tham ô tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 28/02/2025.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu, không xem xét giải quyết.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J7 Prime, đã qua sử dụng, bị vỡ màn hình (Theo quyết định chuyển vật chứng số 58/QĐ-VKS-KV7 ngày 17/11/2025 của Viện kiểm sát Khu vực 7).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Võ Văn Minh Đ phải nộp 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - TAND Tp . HCM (1b); - VKSND Tp . HCM (1b); - THADS Tp . HCM (1b); - Công an Tp . HCM (Phòng PV 06) (1b); - Công an Tp . HCM (Tổ địa bàn khu vực Gò Vấp) 2b; - VKSND Khu vực 7, Tp . HCM (2b); - Bị cáo (1b); - Những người tham gia tố tụng khác (1); - Bộ phận THA hình sự (4b); - Lưu hồ sơ, văn thư (8b). |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đặng Thuỳ Trang |
Bản án số 301/2025/HS-ST ngày 15/12/2025 của Toà án nhân dân Khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh về tham ô tài sản
- Số bản án: 301/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân Khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Võ Văn Minh Đ - Tham ô tài sản
