|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 301/2025/HS-PT
Ngày: 25-11-2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Đinh Tấn Long
Các Thẩm phán:Ông Bùi Trọng Danh
Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Na- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Phan Ngọc Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng cơ sở 1, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 245/2025/TLPT-HS ngày 21 tháng 10 năm 2025 đối với các bị cáo Thái Thị Mỹ D, Ngô Thị L, do có kháng cáo của bị cáo D và L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 30/2025/HS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Đà Nẵng.
Bị cáo có kháng cáo:
- Thái Thị Mỹ D, sinh ngày 01/01/1970, tại thành phố Đà Nẵng; nơi cư trú: K đường Ô, phường H, thành phố Đà Nẵng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 03/12. Bị cáo con ông Thái Thạch H (đã chết) và bà Trần Thị T (đã chết). Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ hai, có chồng là ông Huỳnh Trọng H1 (sinh năm 1975), có 05 con (con lớn nhất sinh năm 1992 và con nhỏ nhất sinh năm 2010).Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Ngày 08/9/2020, Công an quận H ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 248/QĐ-XPHC về hành vi “Đánh bạc trái phép”, bằng hình thức phạt tiền. Dung chấp hành xong ngày 10/9/2020.
Ngày 10/10/2020, Công an phường C ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 34/QĐ-XPHC về hành vi “Đánh nhau", bằng hình thức phạt tiền.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.
- Ngô Thị L, sinh ngày 20/02/1970, tại Quảng Nam (nay là Đà Nẵng); nơi cư trú: K đường L, phường T, thành phố Đà Nẵng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 05/12. Bị cáo con ông Ngô T1 (đã chết) và bà Phạm Thị T2 (đã chết). Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ ba, bị cáo không có chồng, có 02 con (con lớn nhất sinh năm 1996 và con nhỏ nhất sinh năm 2002).Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
Ngày 01/6/2017, bị Công an P1, Q. T, TP . (cũ) ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 45/QĐ-VPHC về hành vi đánh bạc ăn tiền trái phép, phạt số tiền 1.500.000 đồng. Qua xác minh, L chưa nộp phạt, hiện nay đã hết thời hiệu thi hành quyết định, qua xác minh tại Công an phường P1 (cũ) xác định Công an có đôn đốc, nhắc nhở bà L nhưng tại thời điểm đó hoàn cảnh gia đình bà L khó khăn chưa có tiền nộp phạt, sau đó không ai đôn đốc, nhắc nhở nữa, bà L không nhớ phải thi hành quyết định; bà L vẫn sinh sống tại địa phương không có dấu hiệu cố tình trốn tránh hay trì hoãn việc thi hành quyết định.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 30 phút, ngày 25/8/2024, Công an phường P1, quận T, TP . (nay là phường T, thành phố Đà Nẵng) tiến hành kiểm tra hành chính tại K (cũ), nay thuộc phường T, TP . phát hiện 03 đối tượng gồm: Thái Thị Mỹ D, Ngô Thị L và ông Lâm T3 (sinh năm 1964, trú tại K Hải Phòng, phường T, TP .) có hành vi mua bán số đề, nên tiến hành lập biên bản kiểm tra hành chính, triệu tập về Cơ quan Công an để làm việc.
Tiến hành kiểm tra điện thoại Samsung Galaxy 21s, gắn sim số 0708.046.190 của bà D, phát hiện trong phần tin nhắn có nội dung liên quan đến hành vi mua bán số đề, được trích sao ra giấy A4 gồm 06 tờ, có chữ ký xác nhận của D.
Tiến hành kiểm tra điện thoại di động hiệu S A72, gắn sim số 0931.870.238 của D, không phát hiện nội dung gì nghi vấn liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật.
Tiến hành kiểm tra điện thoại Nokia màu xám, gắn sim số 0787.796.617 của L, phát hiện trong phần tin nhắn có nội dung liên quan đến hành vi mua bán số đề, được trích sao ra giấy A4 gồm 41 tờ, có chữ ký xác nhận của L.
Tiến hành kiểm tra điện thoại Samsung A14 màu tím, gắn sim số 0905.249.741 của ông Lâm T3, phát hiện trong phần tin nhắn có nội dung liên quan đến hành vi mua bán số đề, trích ra 01 tờ A4.
*Quá trình điều tra xác định:Hàng ngày, Ngô Thị L và Thái Thị Mỹ D nhận ghi số đề của người chơi thông qua tin nhắn điện thoại hoặc ghi trực tiếp, rồi Thái Thị Mỹ D chuyển tịch đề qua tin nhắn điện thoại cho Đinh Viết H2 (số điện thoại 0905.592.xxx). Ngô Thị L chuyển tịch đề qua tin nhắn điện thoại cho đối tượng “42” sử dụng số điện thoại 0903.246.xxx (chưa rõ nhân thân, lai lịch, L hay gọi là “Chị C”) để hưởng tiền hoa hồng, với tỷ lệ 2% trên tổng số tiền thực nhận ghi đề cho người chơi.
Tùy vào cách thức đánh đề và căn cứ kết quả xổ số kiến thiết các đài miền T (Kon Tum, Khánh Hòa, Thừa Thiên H3), miền N (Tiền Giang, Kiên Giang, Đ) và miền B hàng ngày để xác định thắng thua với người chơi. Việc chung chi, trả tiền thắng thua sẽ được thực hiện vào ngày hôm sau. Sau khi giao nhận tiền xong, D và L sẽ xóa các nội dung liên quan đến hoạt động nhận, chuyển tịch đề.
Khi nhận số đề từ người chơi, D và L thỏa thuận với đầu đề cấp trên sẽ thưởng thêm tiền đề cho người chơi tương đương 30% số tiền người chơi thực đưa (với tỷ lệ 10 lên 13, số tiền khách thực đưa tương đương tỷ lệ 77% số tiền trên tịch).
Tại thời điểm D và L bị phát hiện, khoảng 17 giờ 15 phút ngày 25/8/2024 (theo biên bản kiểm tra hành chính ngày 25/8/2024 ghi nhận), thì mới có kết quả mở thưởng xổ số của đài miền N; đài miền T vừa bắt đầu quay số mở thưởng, nên không có cơ sở để tính số tiền thắng đề (đài miền T xổ số bắt đầu quay số mở thưởng lúc 17 giờ 15 phút, kết thúc lúc 17 giờ 30 phút, công bố chính thức có hiệu lực kết quả mở thưởng lúc 17 giờ 31 phút). Đối với đài miền B, tại thời điểm bị phát hiện, D và L chưa nhận tịch đề của người chơi.
Qua kiểm tra dữ liệu điện thoại, tin nhắn của D, L, T3 chỉ thu được nội dung tin nhắn nhận, chuyển tịch đề trong ngày 25/08/2024, cụ thể:
-
Trong ngày 25/8/2024, Thái Thị Mỹ D đã nhận ghi số đề cho khoảng 06 người người chơi, cụ thể:
- + Lâm Thạnh sử dụng số điện thoại 0905.249.xxx nhắn tin đến số điện thoại 0708.046.xxx của Thái Thị Mỹ D mua số đề đài Miền Trung với số tiền là 650.000 đồng (Số tiền trên tịch: 845.000 đồng).
- + Người chơi sử dụng số điện thoại 0328.893.xxx (chưa rõ nhân thân, lai lịch) nhắn tin đến số điện thoại 0708.046.xxx của Thái Thị Mỹ D mua số đề đài Miền Trung với số tiền 1.680.000 đồng (Số tiền trên tịch 2.184.000 đồng).
- + Người chơi sử dụng số điện thoại 0918.753.xxx (chưa rõ nhận thân, lai lịch) nhắn tin đến số điện thoại 0708.046.xxx của Thái Thị Mỹ D mua số đề đài Miền Trung với số tiền chơi đề là 3.000.000 đồng (Số tiền trên tịch: 3.900.000 đồng).
- + Nhận số đề của 2 đến 3 người chơi (không xác định được lai lịch) đến ghi đề trực tiếp mua số đề với số tiền trên tịch: 31.200.000 đồng (đài M: 15.600.000 đồng; đài miền N: 15.600.000 đồng) người chơi trúng thưởng đài miền N số tiền 15.166.000, nên số tiền đánh bạc là 46.366.000 đồng.
Trong ngày 25/8/2024, Thái Thị Mỹ D đã chuyển cho Đinh Viết H2 với tổng số đề trên tịch là 38.129.000 đồng (trong đó tiền thực nhận là 29.330.000 đồng), tiền người chơi trúng thưởng là 15.166.000 đồng nên tổng số tiền đánh bạc là 53.295.000 đồng (đài miền T: 22.529.000 đồng + đài miền N: 30.766.000 đồng). Dung dự kiến sẽ hưởng lợi hoa hồng được số tiền: 586.600 đồng. Số tiền Đinh Viết H2 dự kiến sẽ hưởng lợi từ việc tổ chức đánh bạc là: 13.577.400 đồng. Tuy nhiên, tại thời điểm bị công an phát hiện, giữa D, người chơi đề và H2 chưa tính toán, giao nhận tiền chơi đề cũng như tiền trúng đề nên chưa thu lợi.
-
Trong ngày 25/8/2024, Ngô Thị L đã nhận ghi số đề cho khoảng 8 người chơi, cụ thể:
- + Thái Thị Mỹ D trực tiếp mua số đề của Ngô Thị L đài Miền Trung với số tiền trên tịch: 1.950.000 đồng.
- + Phạm Thị Thu H4 sử dụng số điện thoại 0905.363.xxx nhắn tin đến số điện thoại 0787.796.xxx của Ngô Thị L mua số đề đài Miền Nam với số tiền trên tịch 3.900.000 đồng, kết quả H4 trúng thưởng số tiền 5.055.000 đồng, nên tổng số tiền đánh bạc của Phạm Thị Thu H4 là: 8.955.000 đồng.
- + Nguyễn Hoài P (sinh năm: 1970, trú K L, phường T, TP .) dùng số điện thoại 0905.446.xxx nhắn tin đến số điện thoại 0787.796.xxx của Ngô Thị L mua số đề với số tiền trên tịch: 1.170.000 đồng (đài miền T: 910.000 đồng + đài miền N: 260.000 đồng), kết quả không trúng đề nên tổng số tiền đánh bạc của Nguyễn Hoài P là: 1.170.000 đồng.
- + Người chơi sử dụng số điện thoại 0901.529.xxx (L lưu tên "bé B") nhắn tin đến số điện thoại 0787.796.xxx của Ngô Thị L mua số đề với số tiền trên tịch 3.120.000 đồng (đài M1: 1.560.000 đồng + đài M: 1.560.000 đồng), kết quả không trúng đề nên tổng số tiền đánh bạc là: 3.120.000 đồng.
- + Người chơi sử dụng số điện thoại 0935.353.xxx (L lưu tên "52") nhắn tin đến số điện thoại 0787.796.xxx của Ngô Thị L mua số đề đài Miền Nam với số tiền trên tịch 780.000 đồng, kết quả không trúng đề nên số tiền đánh bạc là 780.000 đồng.
- + Người chơi số điện thoại 0932.539.xxx (L lưu tên "Loan ph") nhắn tin đến số điện thoại 0787.796.xxx của Ngô Thị L mua số đề đài Miền Trung với số tiền trên tịch 130.000 đồng.
- + Nhận số đề của 1 đến 2 người chơi (không xác định được lai lịch) đến ghi để trực tiếp mua số đề với số tiền trên tịch: 5.629.000 đồng (đài M1: 195.000 đồng + đài Miền Trung: 5.434.000 đồng), người chơi không trúng thưởng đài miền N nên số tiền đánh bạc là 5.629.000 đồng.
Trong ngày 25/8/2024, Ngô Thị L đã chuyền cho "42" với tổng số đề trên tịch là 16.679.000 đồng (trong đó tiền thực nhận là 12.830.000 đồng), số tiền người chơi trúng thưởng là 5.055.000 đồng, nên tổng số tiền đánh bạc là 21.734.000 đồng (đài miền trung: 9.984.000 đồng + đài miền N: 11.750.000 đồng). L dự kiến sẽ hưởng lợi hoa hồng được số tiền: 256.600 đồng. Số tiền "42" dự kiến sẽ hưởng lợi từ việc tổ chức đánh bạc là: 7.518.400 đồng. Tuy nhiên, tại thời điểm bị Công an phát hiện, giữa L, người chơi đề và "42" chưa tính toán, giao nhận tiền chơi đề cũng như tiền trúng đề nên chưa thu lợi (riêng đối với người chơi Thái Thị Mỹ D đã trả tiền mua đề số tiền 1.500.000 đồng, do cấn trừ nợ với bà L).
Vật chứng tạm giữ và xử lý vật chứng:
-
Đối với bà Thái Thị Mỹ D:
- + 01 điện thoại Samsung Galaxy 21s số IMEI: 351662611278336, có sim: 0708.046.190; D sử dụng để nhận tin nhắn của người chơi đề.
- + 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A72, số Imei: 359021823427946 có sim điện thoại số: 0931.870.xxx.
- + Số tiền: 3.500.000 đồng (là tiền buôn bán hàng ngày của D có được).
- + 06 trang A4 chứa nội dung tin nhắn liên quan đến hành vi mua bán số đề, có chữ ký xác nhận của bà D. (Được lưu theo hồ sơ vụ án).
- + 01 xe máy Honda SH Mode màu vàng BKS 43K1-195.29. Qua xác minh, xe trên do bà Đoàn Thị V (sinh năm: 1989; trú tại: K, P. H, TP ., là bạn của bà D) đứng tên chủ sở hữu. Ngày 24/8/2024, bà V cho bà D mượn xe trên để đi lại, không liên quan đến việc bà D mua bán số đề. Ngày 31/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an khu vực C1 đã trả lại xe trên cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Đoàn Thị V là có căn cứ.
-
Đối với bà Ngô Thị L:
- + 01 điện thoại Nokia màu xám, số IMEI: 352607741034918 gắn sim số 0787.796.617, L sử dụng để nhận tin nhắn của người chơi đề.
- + Số tiền: 1.500.000 đồng (là tiền dùng đề sinh hoạt hàng ngày của L).
- + 41 trang A4 chứa nội dung tin nhắn liên quan đến hành vi mua bán số đề, có chữ ký xác nhận của bà L (được lưu theo hồ sơ vụ án).
- + 01 xe máy Yamaha Nozza màu trắng BKS 43C1-169.57. Qua xác minh, xe trên do ông Nguyên Ngọc G (sinh năm: 1989; trú: K, P. B, TP Đà Nẵng) đứng tên chủ sở hữu. Năm 2020, ông G bán xe trên cho salon H5 tại đường L do ông Phan L1 (sinh năm: 1975; trú: Tổ B, P. T, Q. T, TP .) làm chủ, đến ngày 10/5/2022, ông L1 bán lại xe trên cho bà Ngô Thị L. Bà L sử dụng xe trên làm phương tiện đi lại, không liên quan đến việc mua bán số đề. Ngày 31/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an khu vực C1 đã trả lại xe trên cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Ngô Thị L là có căn cứ.
-
Đối với ông Lâm T3:
- + 01 điện thoại Samsung A14 màu tím có số seri R58W80G8VSV, gắn sim số 0905.249.741, T3 sử dụng để nhắn tin mua số đề.
- + Số tiền: 1.980.000 đồng (là tiền cá nhân của T3).
- + 01 trang A4 chứa nội dung tin nhắn liên quan đến hành vi mua bán số đề, có chữ kí xác nhận của ông T3 (được lưu theo hồ sơ vụ án).
- + 01 xe máy Honda Vision màu đỏ đô BKS 43D2-055.83. Qua xác minh, xe trên do bà Đặng Thị R (sinh năm: 1964; trú: K Hải Phòng, P. T, TP ., là vợ ông T3) đứng tên chủ sở hữu. Vào ngày 25/8/2024, ông T3 sử dụng xe trên để đi làm việc chở khách xe ôm, không không liên quan đến việc mua bán số đề. Ngày 31/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an khu vực C1 đã trả lại xe trên cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Đặng Thị R là có căn cứ.
(Các vật chứng còn lại chuyển đến Phòng thi hành án dân sự Khu vực 3 – Đà Nẵng tạm thời quản lý)
Với nội dung vụ án như trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 30/2025/HS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Đà Nẵng đã quyết định:
Tuyên bị cáo Thái Thị Mỹ D, Ngô Thị L2 tội “Tổ chức đánh bạc”.
Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 322; Điều 17; Điều 38; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Thái Thị Mỹ D 09(chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày các bị cáo bị bắt giam thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo Thái Thị Mỹ D và Ngô Thị L, mỗi bị cáo số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
Xử phạt bị cáo Ngô thị L 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày các bị cáo bị bắt giam thi hành án. Phạt bổ sung bị cáo Ngô Thị L số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định phần tội danh và hình phạt đối với các bị cáo Đinh Viết H2, Phạm Thị Thu H4, phần xử lý vật chứng, phần án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 17/9/2025 và ngày 23/9/2025, các bị cáo Ngô Thị L và Thái Thị Mỹ D có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Thái Thị Mỹ D và Ngô Thị L về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ và đúng pháp luật. Đồng thời, đã xem xét áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để làm căn cứ xử phạt bị cáo D và L, mỗi bị cáo 09 tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm, mặc dù các bị cáo D và L nộp tiền phạt bổ sung và tiền án phí hình sự sơ thẩm nhưng mức hình phạt mà Toà án cấp sơ thẩm đã quyết định đối với các bị cáo là phù hợp, không nặng nênđề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Thái Thị Mỹ D và Ngô Thị L, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với các bị cáo.Ngoài ra, bản án sơ thẩm áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo D và L mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt áp dụng là không đúng bởi vì các bị cáo bị xét xử theo khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự là khung hình phạt thấp nhất nên phải áp dụng khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự, đây là sai sót trong việc áp dụng pháp luật, đề nghị cấp sơ thẩm nghiêm túc rút kinh nghiệm.
Các bị cáo Thái Thị Mỹ D1 và Ngô Thị L không tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Thái Thị Mỹ D và Ngô Thị L có đơn kháng cáo theo đúng quy định tại các Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên kháng cáo của các bị cáo là hợp pháp.
-
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Thái Thị Mỹ D, Ngô Thị L3 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Tòa án cấp sơ thẩm đã quy kết.
Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được Cơ quan điều tra chứng minh có tại hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử phúc thẩm có đủ cơ sở kết luận: Vì hám lợi cho bản thân nên các bị cáoThái Thị Mỹ D1, Ngô Thị L đã tham gia tổ chức đánh bạc, đánh bạc bằng hình thức chơi số đề dựa vào kết quả xổ số hàng ngày của các đài khu vực miền B, miền T và miền N. Hành vi tổ chức đánh bạc, đánh bạc của các bị cáo cụ thể như sau:
Bị cáo Thái Thị Mỹ D đã có hành vi đứng ra tổ chức đánh bạc bằng hình thức số đề, nhận tịch, trong đó D là người có hành vi nhận số đề từ nhiều người chơi sau đó chuyển lên cho Đinh Viết H2 để hưởng tiền hoa hồng. Bị cáo H2 là người nhận đề từ Thái Thị Mỹ D chuyển lên rồi tự mình đứng ra tính toán tiền thắng thua trực tiếp với người chơi để thu lợi nhuận. Tổng số tiền bị cáo Thái Thị Mỹ D tổ chức đánh bạc trong ngày 25/8/2024 là 53.295.000 đồng, D sẽ thu lợi bất chính số tiền 586.600 đồng. Tuy nhiên, tại thời điểm bị phát hiện khoảng 17 giờ 15 phút ngày 25/8/2024 thì chưa có kết quả mở thưởng xổ số của đài miền N, đài miền T nên chưa có cơ sở tính tiền đề nên bị cáo D chưa thu lợi.
Bị cáo Ngô Thị L có hành vi nhận số đề từ nhiều người chơi (trong đó có bị cáo D và bị cáo H4) sau đó chuyển lên cho đối tượng mang ký hiệu “42” để hưởng tiền hoa hồng với tổng số tiền tổ chức đánh bạc trong ngày 25/8/2024 là 21.734.000 đồng, sẽ thu lợi bấtchính số tiền 256.600 đồng. Tuy nhiên, tại thời điểm bị phát hiện khoảng 17 giờ 15 phút ngày 25/8/2024 thì chưa có kết quả mở thưởng xổ số của đài miền N, đài miền T nên bị cáo chưa thu lợi.
Do đó, Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2025/HS-ST ngày 9/9/2025 của Tòa án nhân dânkhu vực 3 - Đà Nẵng đã kết áncác bị cáo Thái Thị Mỹ D, Ngô Thị L về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)là có căn cứ và đúng pháp luật.
-
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo Thái Thị Mỹ D, Ngô Thị L, thì thấy: Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã cân nhắc đến tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Thái Thị Mỹ D, Ngô Thị L, mỗi bị cáomức hình phạt 09 tháng tù là có căn cứ pháp luật. Tại phiên tòa cấp phúc thẩm, các bị cáo Thái Thị Mỹ D, Ngô Thị L3 nộp đủ số tiền phạt bổ sung và tiền án phí hình sự sơ thẩm, thể hiện thái độ ăn năn hối cải, ý thức chấp hành bản án sơ thẩm của các bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phát sinh tại cấp phúc thẩm nên Hội đồng xét xử phúc thẩm có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm khi quyết định hình phạt đã áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để xử phạt các bị cáo D và L mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt áp dụng là áp dụng không đúng bởi vì các bị cáo bị xét xử theo khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự là khoản thấp nhất của điều luật nên trong trường hợp này khi xử phạt các bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt áp dụng thì căn cứ vào khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự.Đây là sai sót trong việc áp dụng pháp luật, không ảnh hưởng đến đường lối giải quyết vụ án nên cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.
- Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật tại điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Thái Thị Mỹ D Ngô Thị L; sửa Bản án hình sự sơ thẩmsố: 30/2025/HS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 3 – Đà Nẵng về hình phạt đối với các bị cáo Thái Thị Mỹ D và Ngô Thị L.
-
Căn cứ điểm c khoản 1, 3 Điều 322; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; Điều 38 củaBộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
- - Xử phạtbị cáo Thái Thị Mỹ D2 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
- Phạt bổ sung bị cáo Thái Thị Mỹ D số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng. Bị cáo D đã nộp đủ số tiền phạt tại Biên lai thu tiền số 0002567 ngày 24/11/2025 của Cơ quan thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
- - Xử phạt bị cáo Ngô Thị L 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
- Phạt bổ sung bị cáo Ngô Thị L số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng. Bị cáo L đã nộp đủ số tiền phạt tại Biên lai thu tiền số 0002570 ngày 25/11/2025 của Cơ quan thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
- Về án phí: Các bị cáo Thái Thị Mỹ D và Ngô Thị L không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 25/11/2025).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Tấn Long |
Bản án số 301/2025/HS-PT ngày 25/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về hình sự (tổ chức đánh bạc)
- Số bản án: 301/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức đánh bạc)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Thái Thị Mỹ D và đồng phạm
