TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 301/2025/HNGĐ-ST Ngày: 23 - 6 - 2025. V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Phạm Thị Thúy Quỳnh.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Trần Ngọc Đăng, bà Bùi Thị Hoa.
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Châu - Thẩm tra viên chính - Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Tuyết Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025, tại phòng xử án Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 222/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 281/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày 10/07/1998;
- Bị đơn: anh Nguyễn Phùng V, sinh ngày 19/02/1994.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Nguyễn Nhật D và bà Hoàng Thị N. Nơi cư trú: xóm H, xã C, huyện T, Nghệ An. Vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).
Nơi đăng ký thường trú trước khi xuất cảnh: xóm T, xã X (nay là xã X), huyện T, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú hiện tại: Tochigi - K, S, O-Cho, 2018-1 raphonti-103, Nhật Bản. Vắng mặt (có đơn xin vắng mặt).
Nơi đăng ký thường trú trước khi xuất cảnh: xóm T, xã X (nay là xã X), huyện T, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú hiện tại: Đài Loan. Vắng mặt lần thứ hai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, nguyên đơn - chị Nguyễn Thị Thu H trình bày:
Chị H và anh Nguyễn Phùng V tự nguyện yêu thương và đăng ký kết hôn ngày 27/12/2021 tại Lãnh sứ quán Việt Nam tại O, Nhật Bản. Trong thời gian đầu sinh sống hai vợ chồng rất hoà thuận, hạnh phúc. Tháng 5/2022 thì chị H về Việt Nam, anh V vẫn làm việc ở nước ngoài. Tháng 02/2024, chị H quay trở lại Nhật Bản làm việc. Do vợ chồng sống xa nhau, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tích cách, quan niệm sống và cách nhìn nhận cuộc sống không phù hợp, giữa vợ và chồng không còn sự quan tâm cho nhau, cuộc sống của ai người đó lo, anh V còn chơi lô đề, gái gú ở bên ngoài. Chị H đã cố gắng khuyên nhưng anh V vẫn chứng nào tật đó, giữa chị H và anh V không thể tìm được tiếng nói chung, mục đích hôn nhân không đạt được, mỗi người sinh sống và làm việc ở đất nước khác nhau. Chị H sinh sống làm việc tại Nhật Bản, còn anh V sinh sống, làm việc tại Đài Loan, chị H, anh V gần như không liên lạc và không còn quan tâm đến nhau.
Những mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân và cuộc sống ly thân kéo dài khiến đời sống tình cảm vợ chồng rạn nứt nghiêm trọng và không thể hàn gắn được nữa. Tình cảm của hai vợ chồng không còn. Mục đích xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc không đạt được. Đời sống hôn nhân không thể tiếp tục kéo dài. Đến nay, tình cảm vợ chồng không còn, chị đề nghị Tòa án cho chị được ly hôn anh Nguyễn Phùng V.
Về con chung: trong thời kỳ hôn nhân, chị H và anh V có 01 con chung là Nguyễn Bảo N1, sinh ngày 28/11/2022. Hiện nay chị và anh V đang làm việc ở nước ngoài, chị H gửi cháu N1 cho bố mẹ đẻ của chị H là ông Nguyễn Nhật D và bà Hoàng Thị N (ông bà ngoại) của cháu chăm sóc nuôi dưỡng tại xóm H, xã C, huyện T, Nghệ An. Ly hôn, đề nghị Tòa án giao con chung cho chị H chăm sóc nuôi dưỡng và chị nhờ bố mẹ tôi tiếp tục chăm sóc cháu N1 cho tới khi chị về Việt Nam.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị không yêu cầu anh V cấp dưỡng. Mọi chi phí chăm sóc nuôi dưỡng cháu N1, chị sẽ gửi về cho bố mẹ chị, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: chị H và anh V không có tài sản chung, nợ chung. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn: Tòa án đã thực hiện việc tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho thân nhân của bị đơn và niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật, nhưng anh V đều vắng mặt không có lý do.
Chị Nguyễn Thị Thu H không cung cấp được địa chỉ nơi cư trú, nơi làm việc hiện nay của anh Nguyễn Phùng V. Tòa án đã gửi văn bản yêu cầu thân nhân anh V là bà Hà Thị H1 (là mẹ đẻ của Nguyễn Phùng V, cư trú tại xóm T, xã X (nay là xã X), huyện T, tỉnh Nghệ An) cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn (anh Nguyễn Phùng V); yêu cầu bà H1 thông báo cho anh V biết chị H đang khởi kiện ly hôn anh Nguyễn Phùng V và Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết; đề nghị anh V gửi lời khai, yêu cầu cho Tòa án. Bà H1 cho biết anh V đang làm việc ở nước ngoài, vẫn liên lạc với gia đình; anh V đã biết chị H đang khởi kiện ly hôn anh V và Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết. Nhưng do anh V không thông báo địa chỉ cụ thể để cung cấp cho Tòa án; anh V cho biết, anh không đồng ý ly hôn, còn chị H muốn ly hôn thì do chị H quyết định.
Đến nay, Tòa án không nhận được văn bản thể hiện ý kiến của anh Nguyễn Phùng V liên quan đến giải quyết vụ án trên cũng như không ai cung cấp thông tin về nơi cư trú, làm việc hiện tại của anh Nguyễn Phùng V.
Lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Nhật D và bà Hoàng Thị N trình bày:
Chị H là con gái ông bà, anh V là chồng chị H. Chị H và anh V có 01 con chung là Nguyễn Bảo N1, sinh ngày 28/11/2022. Hiện nay chị H và anh V đang làm việc ở nước ngoài, nên đã gửi cháu N1 cho ông bà ngoại là ông Nguyễn Nhật D và bà Hoàng Thị N, chăm sóc nuôi dưỡng tại xóm H, xã C, huyện T, Nghệ An. Nếu Tòa án cho chị H, anh V ly hôn, đề nghị Tòa án giao con chung của chị H, anh V cho con gái (Hoàn) của ông, bà chăm sóc nuôi dưỡng. Ông bà là ông bà ngoại của cháu và cũng đã chăm sóc cháu từ lúc chị H, anh V đi nước ngoài làm việc cho đến nay, nên ông bà đồng ý chăm sóc cháu N1 thay chị H cho tới khi chị H về Việt Nam.
Về chi phí chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N1 từ trước đến nay và về sau này ông D, bà N không yêu cầu chị H, anh V hoàn trả.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Tòa án đã thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tòa án đã thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự, đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn anh Nguyễn Phùng V; giao con chung Nguyễn Bảo N1, sinh ngày 28/11/2022 cho chị Nguyễn Thị Thu H chăm sóc, nuôi dưỡng; không xem xét việc cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: do chị H chưa yêu cầu, nên không xem xét.
- Về án phí: chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ, trên cơ sở xem xét đầy đủ các chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng.
[1.1] Về thẩm quyền: Bị đơn, anh Nguyễn Phùng V có địa chỉ cư trú trước khi xuất cảnh: xóm T, xã X (nay là xã X), huyện T, tỉnh Nghệ An. Anh V hiện đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài, nên vụ án về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa gia đình và người chưa thành niên - Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 37, Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự và các Điều 122, 123 và 127 Luật hôn nhân và gia đình.
[1.2] Về thủ tục hòa giải: căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án không thể tiến hành hòa giải được vì hiện nay chị Nguyễn Thị Thu H, anh Nguyễn Phùng V vắng mặt tại nơi cư trú và đang ở nước ngoài.
[1.3] Về sự vắng mặt của đương sự:
Đối với nguyên đơn, chị Nguyễn Thị Thu H có địa chỉ cư trú trước khi xuất cảnh tại xóm T, xã X (nay là xã X), huyện T, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú hiện tại: Tochigi - K, S, O-Cho, 2018-1 raphonti-103, Nhật Bản chưa có điều kiện về Việt Nam để đến Tòa án giải quyết việc ly hôn. Do đó, chị H đã ủy quyền cho ông Nguyễn Nhật D và bà Hoàng Thị N, có địa chỉ cư trú: xóm H, xã C, huyện T, tỉnh Nghệ An nộp hồ sơ khởi kiện (có chứng thực của Đ tại Nhật Bản) cho Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An và chị đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt.
Đối với bị đơn, anh Nguyễn Phùng V, Hội đồng xét xử thấy rằng: Theo Công văn số 1366/QLXNC-Đ1 ngày 11/4/2025 của Phòng Q - Công an tỉnh N thì anh Nguyễn Phùng V xuất cảnh ngày 07/8/2024 qua Cửa khẩu sân bay Quốc tế N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Chị Nguyễn Thị Thu H không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh V tại nước ngoài. Tòa án đã yêu cầu bà Hà Thị H1 (mẹ đẻ của anh Nguyễn Phùng V) cung cấp địa chỉ, tin tức của anh V và thông báo cho anh V biết Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết vụ án dân sự về "Tranh chấp hôn nhân và gia đình" theo đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu H, đề nghị anh V gửi lời khai cho Tòa án. Tuy nhiên, bà H1 không cung cấp được địa chỉ hiện nay của anh Nguyễn Phùng V, nhưng đã thông tin và anh V đã biết rõ việc Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết vụ án mà anh V là bị đơn và anh V không có ý kiến gì.
Tòa án đã thực hiện niêm yết các văn bản tố tụng tại Nhà văn hóa xóm T và tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã X, huyện T, tỉnh Nghệ An là nơi cư trú cuối cùng của anh Nguyễn Phùng V trước khi xuất cảnh theo đúng quy định pháp luật. Việc anh V không cung cấp địa chỉ và không có ý kiến về vụ án thể hiện anh Nguyễn Phùng V cố tình dấu địa chỉ.
Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Nhật D và bà Hoàng Thị N đã đến Trực tiếp đến Tòa án để làm việc, có bản tự khai và xin vắng mặt.
Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 1552/2021đăng ký ngày 27/12/2021 của Tổng lãnh sứ quán Việt Nam tại O, Nhật Bản thì quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Thu H và anh Nguyễn Phùng V là hợp pháp. Thời gian đầu kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tháng 5/2022, chị H về Việt Nam, anh V vẫn làm việc ở nước ngoài. Tháng 02/2024, chị H quay trở lại Nhật Bản làm việc. Do vợ chồng sống xa nhau, thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tích cách, quan niệm sống và cách nhìn nhận cuộc sống không phù hợp, giữa vợ và chồng không còn sự quan tâm cho nhau, cuộc sống của ai người đó lo, anh V còn chơi lô đề, gái gú ở bên ngoài. Chị H đã cố gắng khuyên bảo nhưng anh V vẫn chứng nào tật đó, giữa chị H và anh V không thể tìm được tiếng nói chung, mục đích hôn nhân không đạt được, mỗi người sinh sống và làm việc ở đất nước khác nhau. Chị H sinh sống làm việc tại Nhật Bản, còn anh V sinh sống, làm việc tại Đài Loan, chị H, anh V gần như không liên lạc và không còn quan tâm đến nhau.
Xét thấy: tình trạng hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Thu H và anh Nguyễn Phùng V đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn anh Nguyễn Phùng V là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: chị Nguyễn Thị Thu H và anh Nguyễn Phùng V có 01 con chung là Nguyễn Bảo N1, sinh ngày 28/11/2022. Chị H, anh V hiện đang làm việc ở nước ngoài, chị H gửi cháu N1 cho bố mẹ đẻ của chị H là ông Nguyễn Nhật D và bà Hoàng Thị N (ông bà ngoại) của cháu chăm sóc nuôi dưỡng tại xóm H, xã C, huyện T, Nghệ An.
Xét thấy, hiện nay con chung của chị H và anh V do bà ông Nguyễn Nhật D và bà Hoàng Thị N (ông bà ngoại) chăm sóc nuôi dưỡng từ lúc chị H, anh V đi nước ngoài đến nay. Anh V hiện nay đang làm việc tại nước ngoài, nhưng không có nơi cư trú rõ ràng, không có ý kiến về việc ly hôn, cũng như nuôi con, nên cần chấp nhận nguyện vọng được nuôi con chung của nguyên đơn.
Cháu N1 hiện nay đang sống cùng ông Nguyễn Nhật D và bà Hoàng Thị N (ông bà ngoại) tại xóm H, xã C, huyện T, Nghệ An. Hiện nay chị H đang ở nước ngoài, nên chị đã nhờ bố mẹ đẻ của mình là ông D, bà N thay chị chăm sóc, nuôi dưỡng cháu N1 cho đến khi chị về Việt Nam. Ông D, bà N cũng đã đồng ý chăm sóc cháu N1 thay chị H cho tới khi chị H về Việt Nam.
Về cấp dưỡng: Không xem xét việc cấp dưỡng nuôi con do chị H không yêu cầu.
Về chi phí chăm sóc các con chung của chị H, anh V từ trước đến nay ông D, bà N không yêu cầu. Nên không xem xét.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không được ai cản trở. Anh Nguyễn Phùng V có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: chị Nguyễn Thị Thu H không yêu cầu và anh Nguyễn Phùng V cũng chưa có ý kiến, nên miễn xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
[3] Về án phí sơ thẩm: chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều: 51, 53, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 122, 123 và Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; 37, 38, 39 Điều 147; khoản 2 Điều 207; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 469 và Điều 479 của Bộ luật Tố dụng dân sự; điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 2 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Việt Nam về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thu H.
- Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn anh Nguyễn Phùng V.
- Về con chung:
- Giao con chung Nguyễn Bảo N1, sinh ngày 28/11/2022 cho chị Nguyễn Thị Thu H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành.
- Về cấp dưỡng và chi phí chăm sóc nuôi dưỡng các con chung của chị H, anh V: Hội đồng xét xử không xem xét.
- Người không trực tiếp nuôi con, có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: chị Nguyễn Thị Thu H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai số 0007631 ngày 28/3/2025.
- Về quyền kháng cáo:
- Chị Nguyễn Thị Thu H, anh Nguyễn Phùng V đang cư trú tại nước ngoài, vắng mặt, có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày nhận được Bản án sơ thẩm hoặc Bản án sơ thẩm được niêm theo quy định của pháp luật.
- Ông Nguyễn Nhật D và bà Hoàng Thị N vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được Bản án sơ thẩm hoặc kể từ ngày Bản án sơ thẩm được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
C nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Nhật D và bà Hoàng Thị N về việc ông D, bà N chịu trách nhiệm trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung của chị H, anh V là cháu Nguyễn Bảo N1 trong thời gian chị H ở nước ngoài cho tới khi chị H về Việt Nam.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phạm Thị Thúy Quỳnh |
Bản án số 301/2025/HNGĐ-ST ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 301/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn, nuôi con
