TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 301/2025/DS-PT Ngày 02-6-2025 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu di dời mồ mả | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có: | |
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Ngô Thị Bích Diệp |
| Các Thẩm phán: | Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền |
| Bà Trần Thị Thắm | |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quốc Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương. - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Ngô Kim Duyên - Kiểm sát viên. | |
Trong các ngày 26 tháng 5 và ngày 02 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 668/2024/TLPT-DS ngày 26 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu di dời mồ mả”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 159/2024/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 189/2025/QĐ-PT, ngày 24 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 1969; địa chỉ: tổ G, khu phố P, phường A, thành phố B, tỉnh Bình Phước; có mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1948 (chết ngày 10/8/2023 theo Trích lục khai tử số 166/TLKT-BS ngày 21/8/2023 của UBND phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương).
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn:
- Ông Trần Văn L, sinh năm 1975; địa chỉ: tổ H, khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương;
- Ông Trần Văn N, sinh năm 1977; địa chỉ: tổ B, ấp X, xã P, huyện H, tỉnh Bình Phước;
- Ông Trần Văn P, sinh năm 1978; địa chỉ: tổ H, khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương;
- Ông Trần Văn A, sinh năm 1989; địa chỉ: tổ H, khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của ông Trần Văn L, ông Trần Văn N, ông Trần Văn P và ông Trần Văn A: Ông Đào Văn T1, sinh năm 1975; địa chỉ: số A Đ, khu phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 09 và 11/12/2023); có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phan Thị X (S), sinh năm 1942; địa chỉ: số B, tổ D, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Hồng N1, sinh năm 1972; có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt;
- Bà Nguyễn Thị Hồng T2, sinh năm 2001; có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt;
Cùng địa chỉ: thôn S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước;
- Nguyễn Văn T3, sinh ngày 22/10/2008 và Nguyễn Trí T4, sinh ngày 15/11/2010; cùng địa chỉ: thôn S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.
Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị Hồng N1, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước (mẹ); có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Ông Trần Văn L, sinh năm 1975; địa chỉ: Tổ H, khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Ông Đặng Văn G, sinh năm 1943; địa chỉ: Khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1940; địa chỉ: Tổ D, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1976; địa chỉ: Tổ D, ấp A, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước; có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Bà Sơn Thị L1, sinh năm 1935; địa chỉ: Đường số A, tổ H, khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị S1, sinh năm 1947; địa chỉ: Đường số A, tổ H, khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Ông Phạm Văn C, sinh năm 1970; địa chỉ: tổ I, khu phố A, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bình Phước; có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1972; địa chỉ: khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị A1, sinh năm 1953; địa chỉ: Tổ H, khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị M1, sinh năm 1943; địa chỉ: khu phố B, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
Người kháng cáo: Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn ông Trần Văn L, ông Trần Văn N, ông Trần Văn P và ông Trần Văn A.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 18/01/2021, đơn khởi kiện bổ sung ngày 14/7/2022, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Thành T trình bày:
Về quan hệ huyết thống: Ông Lê Văn D1 (Giữ) và bà Nguyễn Thị S2 không có con chung. Bà Nguyễn Thị S2 có hai người con riêng là bà Phan Thị X (S) và bà Nguyễn Thị V1 (đã chết). Bà Nguyễn Thị V1 có 04 người con gồm:
- Ông Nguyễn Thành T (nguyên đơn);
- Ông Nguyễn Văn T5 (chết). Người thừa kế của Nguyễn Văn T5 gồm vợ là bà Nguyễn Thị Hồng N1; con tên Nguyễn Thị Hồng T2 sinh năm 2001, Nguyễn Văn T3 sinh năm 2008 và Nguyễn Trí T4, sinh năm 2010.
- Bà Tô Thị D2 (chết năm 1980);
- Bà Tô Thị N2 (chết năm 1980).
Chồng của bà Nguyễn Thị V1 là ông Tô Văn C1 (chết năm 1980). Cha mẹ của ông Lê Văn D1 là ông Lê Văn T6 và bà Nguyễn Thị R không biết năm sinh và năm chết nhưng chết trước ông D1 và không có giấy chứng tử. Cha mẹ bà Nguyễn Thị S2 là ông Nguyễn Văn N3 và bà Nguyễn Thị C2 đều đã chết trước bà S2 và không có giấy chứng tử.
Ông T không biết tên của cha ruột, vì cha của ông T đã bỏ nhà đi từ khi ông T còn nhỏ. Sau đó, mẹ của ông T có chồng là ông Tô Văn C1 và sinh hai người con tên Tô Thị N2 và Tô Thị D2, còn ông T và ông T5 sống chung với ông ngoại là ông Lê Văn D1.
Về nguồn gốc đất tranh chấp: năm 1970, ông Lê Văn D1 và bà Nguyễn Thị S2 đã khai phá đất thuộc ấp C, thôn T, xã P, huyện T, tỉnh Sông Bé, nay là tổ H, khu phố P, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Ông D1 và bà S2 khai phá đất và sinh sống nhưng không tiến hành kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất. Đến năm 1980, gia đình của bà V1 bao gồm bà V1, chồng và 02 người con chết do cháy nhà nên ông D1 và bà S2 đã chôn trên thửa đất hiện nay đang tranh chấp. Sau đó, ông D1 bán nhà đất cho bà Đ vào khoảng năm 1982 nhưng vẫn giữ lại thửa đất có 04 ngôi mộ, không bán cho bà Đ.
Về quá trình quản lý sử dụng và kê khai đăng ký quyền sử dụng đất: Ông D1 đưa gia đình về Bình Phước sinh sống nhưng vẫn về quản lý và chăm sóc 04 ngôi mộ trên đất. Ông D1 có cho ông Nguyễn Văn M, ông Phạm Văn C sử dụng đất trồng hoa màu đến năm 1990 thì cho bà Đ sử dụng đất để trồng hoa màu (cây ngắn ngày). Năm 2007 ông D1 chết, ông T và ông Nguyễn Văn T5 (em của ông T) tiếp tục quản lý, chăm sóc 04 ngôi mộ, năm 2014 ông T5 chết thì ông T là người quản lý. Ông T biết bà Đ trồng cao su trên đất nhưng nghĩ do bà Đ ở gần, sử dụng đất trồng cây nên không có ý kiến. Đầu năm 2015, ông T về thăm đất, phát hiện bờ rào bị tháo dỡ và được biết bà Đ đã tự ý tháo dỡ hàng rào. Trong năm 2015, ông Trung liên H Ủy ban nhân dân phường P để xin đăng ký quyền sử dụng đất nhưng Ủy ban nhân dân phường P trả lời đất mồ mả không đăng ký được. Đến năm 2020, ông T biết được bà Đ đã kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 600m² (thuộc thửa đất số 110, tờ bản đồ số 17) nên ông T đã khởi kiện bà Đ.
Ông T cho rằng việc kê khai, đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho bà Đ là không đảm bảo trình tự, thủ tục vì phiếu lấy ý kiến khu dân cư ngày 23/7/2013 của Ủy ban nhân dân xã P, huyện T đã lấy ý kiến của bà Nguyễn Thị A1 và ông Lê Văn B về việc xác nhận nguồn gốc đất thửa 110 có nguồn gốc bà Đ nhận chuyển nhượng vào tháng 08/1986, nhưng bà A1 trình bày không tham gia lấy ý kiến và chữ ký trong phiếu này không phải của bà A1 vì bà A1 không biết chữ.
Về quá trình quản lý sử dụng đất của ông T có những người làm chứng là bà Sơn Thị L1, ông Nguyễn Văn D, ông Phạm Văn C, ông Nguyễn Văn V, ông Nguyễn Văn M biết và đã có lời khai tại Tòa án.
Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Đ không đúng đối tượng và sai trình tự, thủ tục nên ông T yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ CH01601 ngày 18/4/2014 cho bà Đ để cấp lại cho ông T. Buộc bà Đ phải thu dọn cây cao su để trả lại cho ông T diện tích đất 588,3m² (thửa 110, tờ bản đồ số 17) tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (trên đất có 04 ngôi mộ của bà Nguyễn Thị V1, ông Tô Văn C1, Tô Thị N2 và Tô Thị D2).
Tại phiên tòa, nguyên đơn ông T thay đổi từ yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Đ sang yêu cầu Tòa án kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Đ, không đồng ý với yêu cầu phản tố của bị đơn. Ông T thống nhất kết quả đo đạc tại Mảnh trích lục địa chính ngày 24/12/2021 của Chi nhánh Văn phòng Đ1 (nay là thành phố) Tân Uyên, biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ và biên bản định giá trong hồ sơ vụ án.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn là ông Đào Văn T1 trình bày:
Về quan hệ huyết thống của gia đình ông D1, bị đơn không rõ nên không có ý kiến. Về nguồn gốc đất tranh chấp là của bà Đ nhận chuyển nhượng của ông D1. Khi ông D1 chuyển nhượng đất cho bà Đ, ông D1 có ý định giữ lại một thửa đất có 04 ngôi mộ gia đình của bà V1 nhưng bà Đ không đồng ý vì nếu ông D1 không chuyển nhượng thửa đất có 04 ngôi mộ thì các thửa đất phía trong mà bà Đ nhận chuyển nhượng sẽ không có đường đi. Vì vậy, ông D1 đã đồng ý chuyển nhượng toàn bộ đất cho bà Đ nhưng ông D1 đề nghị bà Đ cho ông D1 để lại các ngôi mộ trên đất và bà Đ đồng ý. Từ khi nhận chuyển nhượng đất năm 1986 cho đến nay, bà Đ vẫn để cho gia đình ông T về thăm viếng mộ.
Về quá trình quản lý sử dụng đất và kê khai đăng ký: Bà Đ là người quản lý sử dụng đất từ lúc nhận chuyển nhượng 1986 cho đến nay là hơn 40 năm. Năm 1999, bà Đ đăng ký kê khai và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng năm 1999 kê khai thiếu thửa 110 diện tích đo đạc thực tế là 588,3m². Đến năm 2013, bà Đ đã kê khai bổ sung và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 110. Gia đình bà Đ đã quản lý sử dụng và trồng cây cao su trên đất. Khi gia đình bà Đ trồng cao su trên đất, gia đình ông T không ngăn cản hay có ý kiến về việc sử dụng đất của bà Đ. Từ khi nhận chuyển nhượng cho đến nay, bà Đ vẫn để gia đình ông D1 thăm viếng mộ nhưng ông T5 làm rào xung quanh 04 ngôi mộ nên bà Đ không đồng ý và đã tháo dỡ hàng rào. Theo ý kiến trả lời của Phòng T7 thì việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Đ thửa số 110 là đúng trình tự thủ tục và đúng quy định pháp luật. Do đó, bị đơn không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ngoài ra, bà Nguyễn Thị Đ có yêu cầu phản tố yêu cầu ông Nguyễn Thành T di dời 04 ngôi mộ trên thửa đất 110 trả lại đất cho bà Đ.
Tại phiên tòa, đại diện bị đơn giữ nguyên yêu cầu phản tố và thống nhất kết quả đo đạc tại Mảnh trích lục địa chính ngày 24/12/2021 của Chi nhánh Văn phòng Đ1 (nay là thành phố) Tân Uyên, biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ và biên bản định giá trong hồ sơ vụ án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị X (S), bà Nguyễn Thị Hồng N1 và bà Nguyễn Thị Hồng T2 trình bày: Thống nhất ý kiến trình bày của nguyên đơn và bổ sung thêm nguồn gốc đất là của ông ngoại của ông Nguyễn Thành T và trên đất có mồ mả của cha mẹ và em của ông Nguyễn Thành T nên trong trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì đồng ý giao cho ông Nguyễn Thành T được quyền sử dụng diện tích đất tranh chấp. Các ông, bà đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không đồng ý với yêu cầu phản tố của bị đơn. Do bận công việc, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn L trình bày: Thống nhất ý kiến trình bày và yêu cầu phản tố của bị đơn, không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do bận công việc, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Văn G trình bày: Ông Gia K sử dụng thửa đất số 110, vì đất này có nguồn gốc của ông Lê Văn D1. Phần đất của ông G giáp ranh phần đất tranh chấp nên ông G biết rõ nguồn gốc đất. Quyền sử dụng thửa đất đang tranh chấp là của ông D1 để lại cho ông T. Ông G không đăng ký vào sổ mục kê đối với thửa 110, ông G không biết ai đã đăng ký thửa này. Ông G cũng không đăng ký kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 110. Do bận công việc, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt.
Người làm chứng ông Nguyễn Văn M, ông Nguyễn Văn D, bà Sơn Thị L1, bà Nguyễn Thị S1, ông Nguyễn Văn C3, ông Nguyễn Văn V và bà Nguyễn Thị A1 trình bày: Ông Lê Văn D1 (Giữ) có chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị Đ đất ruộng nhưng không chuyển nhượng thửa đất có mồ mả và gia đình ông D1 vẫn quản lý, thăm nom các ngôi mộ.
Người làm chứng bà Nguyễn Thị M1 trình bày: Bà M1 là em chồng của bà Đ. Bà M1 có nghe bà Đ nói lại về việc mua đất của ông ngoại ông T và bà Đ là người quản lý, sử dụng đất cho đến nay. Bà Đ đã trồng cao su được 7-8 năm.
Ủy ban nhân dân thành phố T8 có văn bản trình bày ý kiến như sau: Phòng T9 (nay là thành phố) Tân Uyên căn cứ hồ sơ ban đầu do Ủy ban nhân dân phường P thực hiện đã tham mưu cho Ủy ban nhân dân thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Đ. Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 782306, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử đất số GCN: CH01601 ngày 18/4/2014 bà Đ được quyền sử dụng diện tích 600m² (thửa 110, tờ bản đồ số 17) tại phường P được thực hiện theo Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai; Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản ngày 19/6/2009; Nghị định số 88/2009/NĐ-CP của Chính phủ về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không qua đo đạc thực tế. Việc nguyên đơn yêu cầu thu hồi và hủy giấy chứng nhận quyền sử đất đã cấp cho bà Đ đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 64/2023/DS-ST ngày 24/7/2023 của Tòa án nhân dân thị xã (nay thành phố ), tỉnh Bình Dương đã xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thành T về việc tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với bị đơn bà Nguyễn Thị Đ; không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị Đ đối với nguyên đơn ông Nguyễn Thành T về việc yêu cầu di dời mồ mả.
Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 519/2023/DS-PT ngày 29/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đã xử: Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 64/2023/DS-ST ngày 24/7/2023 của Tòa án nhân dân thị xã (nay thành phố) Tân Uyên vì xác định thiếu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; cấp sơ thẩm quyết định không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là mâu thuẫn.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 159/2024/DS-ST ngày 27/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương đã tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thành T về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu kiến nghị thu hồi giấychứng nhận quyền sử dụng đất với bị đơn bà Nguyễn Thị Đ.
Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Đ (nay là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn gồm: Ông Trần Văn L, ông Trần Văn N, ông Trần Văn P và ông Trần Văn A) phải trả lại diện tích đất tranh chấp theo kết quả đo đạc thực tế là 588,3m² thuộc thửa đất số 110, tờ bản đồ số 17 tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương cho nguyên đơn ông Nguyễn Thành T (theo sơ đồ bản vẽ kèm theo bản án).
Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 782306, số vào sổ CH01601 ngày 18/4/2014 cấp cho bà Nguyễn Thị Đ để cấp lại cho ông Nguyễn Thành T.
Ông Nguyễn Thành T được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai.
Ông Nguyễn Thành T có trách nhiệm thanh toán giá trị 30 cây cao su trên đất cho ông Trần Văn L với số tiền là 13.218.000 đồng (Mười ba triệu hai trăm mười tám nghìn đồng). Sau khi thanh toán xong, ông Nguyễn Thành T được sở hữu 30 cây cao su trên thửa đất số 110, tờ bản đồ số 17 tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ Luật Dân sự
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn bà Nguyễn Thị Đ đối với nguyên đơn ông Nguyễn Thành T về việc yêu cầu di dời mồ mả.
Sau khi xét xử sơ thẩm, những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn là ông Trần Văn L, ông Trần Văn N, ông Trần Văn P và ông Trần Văn A kháng cáo bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Ý kiến của Kiểm sát viên: Về thủ tục tố tụng, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xử có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa ý kiến của các đương sự và ý kiến của Kiểm sát viên;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về nội dung: Diện tích đất tranh chấp đo đạc thực tế 588,3m² (thuộc thửa đất số 110, tờ bản đồ 17) tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, bị đơn thực hiện thủ tục kê khai đăng ký và đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 782306, số vào sổ CH01601 ngày 18/4/2014. Tài sản gắn liền trên đất có 48 cây cao su do con của bị đơn là ông Trần Văn L trồng, tại thời điểm xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 26/6/2024 trên đất chỉ còn 30 cây cao su và 04 ngôi mộ của thân nhân gia đình nguyên đơn.
Về nguồn gốc đất tranh chấp: Nguyên đơn và đại diện bị đơn đều thừa nhận diện tích đất tranh chấp 600m² (đo đạc thực tế 588,3m²) thuộc thửa đất số 110, tờ bản đồ 17 tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương là của ông Lê Văn D1 (Giữ), ông ngoại của nguyên đơn. Lời trình bày của các đương sự thống nhất vào năm 1986, ông Lê Văn D1 (Giữ) chuyển nhượng cho bị đơn một số thửa đất tại xã (nay là phường) P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Lời thừa nhận của các đương sự là tình tiết chứng cứ không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc đăng ký quyền sử dụng đất: Theo sổ mục kê tại xã (nay là phường) P có ghi ông Đặng Văn D3 đăng ký thửa đất số 110, bị đơn đăng ký các thửa số 108, 109 và 116. Đến năm 1999, bị đơn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất 108, 109 và 116. Xét thấy, tại biên bản xác minh ngày 02/7/2024 và ngày 25/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố T xác định trên địa bàn phường P không có người nào tên Đặng Văn D3. Tại Biên bản lấy lời khai ngày 26/6/2024, ông Đặng Văn G xác định ông là người sử dụng đất liền kề với phần đất tranh chấp, ông G không đăng ký đối với thửa đất 110. Theo đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất đối với các thửa 108, 109 và 116, bị đơn kê khai nguồn gốc đất khai hoang năm 1975. Riêng đối với thửa 110, bị đơn kê khai nguồn gốc đất nhận chuyển nhượng vào tháng 8/1986 nhưng tại hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền dụng đất không có giấy tờ xác định bị đơn đã nhận chuyển nhượng đối với thửa đất này. Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn đã được lập và niêm yết công khai, không có khiếu nại về việc xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bị đơn nên bị đơn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy, có căn cứ xác định trước năm 2013 bị đơn không đăng ký đối với thửa đất tranh chấp.
Về quá trình quản lý, sử dụng đất: nguyên đơn trình bày và cung cấp lời khai của những người làm chứng để chứng minh quá trình quản lý và sử dụng đất gia đình nguyên đơn từ trước năm 1980 cho đến nay, cụ thể trên đất có 04 ngôi mộ của cha mẹ và hai người em của nguyên đơn. Nguyên đơn thừa nhận ông Lê Văn D1 (Giữ) có chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bị đơn nhưng đối với thửa đất 110 có 04 ngôi mộ ông D1 không chuyển nhượng và gia đình ông D1 hàng năm đều về thăm mộ. Như vậy, có căn cứ xác định đất có nguồn gốc của ông Lê Văn D1 (Giữ) quản lý, sử dụng. Đến năm 2007 ông D1 (Giữ) chết, quá trình sử dụng ông D1 không tiến hành đăng ký mà người đăng ký vào sổ mục kê có tên là Đặng Văn D3 nhưng không xác định được người có tên là Đặng Văn D3. Qua xác minh thì có người tên Đặng Văn G là người sử dụng đất liền ranh với thửa đất 110 nhưng ông G xác định không có quyền lợi đối với thửa đất 110. Bị đơn cho rằng, bị đơn nhận chuyển nhượng thửa đất này từ năm 1986, quản lý, sử dụng đến năm 2013 thì đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng không có chứng cứ chứng minh cho nên có cơ sở xác định trước khi chết ông D1 vẫn là người quản lý, sử dụng đối với thửa đất tranh chấp. Trong khi đó, gia đình ông Lê Văn D1 (Giữ) sau khi chuyển nhượng cho bà Đ 05 thửa đất ruộng thì hàng năm gia đình ông D1 (Giữ) và nguyên đơn vẫn đến thăm đất, chăm sóc các ngôi mộ của gia đình trên thửa đất 110. Như vậy, có căn cứ xác định gia đình ông D1 không từ bỏ quyền sử dụng đất, việc này phù hợp với lời trình bày của những người làm chứng. Bị đơn cũng thừa nhận trên thửa đất 110 có 04 ngôi mộ của người thân gia đình nguyên đơn và nguyên đơn thăm viếng mộ hàng năm. Bị đơn cho rằng bị đơn quản lý, sử dụng đất từ khi nhận chuyển nhượng vào năm 1986 nhưng quá trình đăng ký chỉ đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 05 thửa đất còn thửa 110 bị đơn quên không đăng ký. Xét thấy, lời trình bày của bị đơn không có căn cứ, vì tại thời điểm đăng ký vào sổ mục kê, bị đơn cho rằng nhận chuyển nhượng của ông D1 toàn bộ diện tích đất nhưng bị đơn chỉ đăng ký 03 thửa vào sổ mục kê còn thửa 110 thì ông Đặng Văn D3 đăng ký. Đến năm 1999, bị đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 05 thửa đất, không có thửa 110 nhưng bị đơn cũng không có ý kiến.
Xét việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bị đơn thể hiện: Ngày 23/5/1998, bị đơn có đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất đối với nhiều thửa đất trong đó có thửa đất số 108, 109, 116, nguồn gốc đất ghi khai hoang năm 1975, bị đơn không đăng ký đối với thửa đất số 110, tờ bản đồ số 17. Theo sổ mục kê có trong hồ sơ cấp đất của bị đơn thể hiện tờ bản đồ số 17 bị đơn đăng ký 03 thửa đất là 108, 109, 116, không đăng ký đối với thửa đất số 110, tờ bản đồ số 17. Đến ngày 21/9/2013, bị đơn có đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất số 110, tờ bản đồ số 17, ghi nguồn gốc đất nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất vào tháng 8/1986. Bị đơn đã được Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 18/4/2014. Tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 08/12/2021 thể hiện “48 cây cao su trên đất tranh chấp là của con bị đơn tên Trần Văn L trồng năm 2010”. Như vậy, việc gia đình bà Đ sử dụng đất là sau thời điểm ông D1 (Giữ) chết cho nên không có căn cứ xác định trước khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bị đơn có quá trình quản lý, sử dụng và đăng ký, kê khai, đóng thuế đối với phần đất tranh chấp, đồng thời tại thời điểm đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên thửa đất có 04 ngôi mộ của gia đình ông D1, gia đình ông D1 vẫn qua lại chăm sóc mộ nhưng việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn chưa có ý kiến của gia đình ông D1 là chưa đúng quy định pháp luật. Mặt khác, khi biết bị đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, năm 2020 nguyên đơn đã có đơn khiếu nại cho nên không có cơ sở xác định bị đơn là người quản lý sử dụng ổn định, lâu dài đối với thửa đất tranh chấp.
Các thừa kế của ông Lê Văn D1 (Giữ) đều thống nhất giao phần đất đang tranh chấp cho nguyên đơn toàn quyền quản lý, sử dụng cho nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải giao lại diện tích thửa 110 cho nguyên đơn, đồng thời kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp đối với thửa 110 cho bị đơn để cấp lại cho nguyên đơn. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn có căn cứ chấp nhận nên yêu cầu phản tố của bị đơn buộc nguyên đơn di dời mồ mả là không có căn cứ chấp nhận.
Từ những phân tích trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xử là có căn cứ, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm nên không có căn cứ để chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn.
Ý kiến của Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ.
Án phí dân sự phúc thẩm: Người kháng cáo phải nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 148 và khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người kế thừa quyền và nghĩa vụ của người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn Trần Văn L, ông Trần Văn N, ông Trần Văn P và ông Trần Văn A.
- Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 159/2024/DS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Văn L, ông Trần Văn N, ông Trần Văn P và ông Trần Văn A phải nộp số tiền 1.200.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng số 0004409 ngày 14/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Ngô Thị Bích Diệp |
Bản án số 301/2025/DS-PT ngày 02/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu di dời mồ mả
- Số bản án: 301/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu di dời mồ mả
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 02/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giữ nguyên bản án sơ thẩm
