|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 301/2025/DS-PT Ngày: 01 - 07 - 2025 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Những
Bà Phùng Thị Cẩm Hồng
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Võ Quang Huy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Chung - Kiểm sát viên.
Vào các ngày 24 tháng 6 và ngày 01 tháng 7 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 116/2025/TLPT-DS ngày 23 tháng 4 năm 2025 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 14/2025/DS-ST ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Tây Ninh) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 175/2025/QĐ-PT ngày 19 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Ông Nguyễn Hồng C, sinh năm 1968.
- Ông Nguyễn Hồng T, sinh năm 1960.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1968.
Địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện T, tỉnh Long An (nay là ấp C, xã M, tỉnh Tây Ninh).
Địa chỉ: Ấp C xã M, huyện T, tỉnh Long An (nay là ấp C, xã M, tỉnh Tây Ninh).
Địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện T, tỉnh Long An (nay là ấp C, xã M, tỉnh Tây Ninh).
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: Ông Nguyễn Phước Đ1, sinh năm 1992. Địa chỉ: Số A, đường Đ, thị trấn T, huyện C, tỉnh Long An (nay là số A, đường Đ, xã T, tỉnh Tây Ninh) (theo văn bản ủy quyền ngày 02/4/2024).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1967.
- Bà Tô Thị H, sinh năm 1968 (vợ ông C).
- Bà Ngô Thị Kim C1, sinh năm 1961 (vợ ông T).
- Ông Nguyễn Hồng S, sinh năm 1948.
- Ông Nguyễn Hồng B, sinh năm 1952.
- Bà Nguyễn Hồng C2, sinh năm 1958.
- Bà Nguyễn Hồng L, sinh năm 1974.
- Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Long An (Cơ quan kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Long An là Ủy ban nhân dân xã M, tỉnh Tây Ninh).
Địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện T, tỉnh Long An (nay là ấp C, xã M, tỉnh Tây Ninh).
Người đại diện theo uỷ quyền của bà Nguyễn Thị M: Ông Nguyễn Phước Đ1, sinh năm 1992. Địa chỉ: Số A, đường Đ, thị trấn T, huyện C, tỉnh Long An (nay là số A, đường Đ, xã T, tỉnh Tây Ninh) (theo văn bản ủy quyền ngày 02/4/2024).
Địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện T, tỉnh Long An (nay là ấp C, xã M, tỉnh Tây Ninh).
Địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện T, tỉnh Long An (nay là ấp C, xã M, tỉnh Tây Ninh).
Địa chỉ: Ấp C, xã M, huyện T, tỉnh Long An (nay là ấp C, xã M, tỉnh Tây Ninh).
Địa chỉ: Số A I lô M chung cư số A T, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Phường V, Thành phố Hồ Chí Minh).
Địa chỉ: ấp V, xã B, huyện T, tỉnh Long An (ấp V, xã M, tỉnh Tây Ninh).
Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Long An (nay là ấp C, xã T, tỉnh Tây Ninh).
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị M.
(Các đương sự có mặt; Ông B, bà L,
Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Long An có đơn vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 27/5/2022, đơn thay đổi, bổ sung nội dung khởi kiện ngày 10/8/2023, các văn bản trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Hồng C trình bày:
Ông Nguyễn Hồng C và ông Nguyễn Hồng T có các thửa đất 257, 1081, 1082, 256, 204, tọa lạc tại ấp C, xã M, huyện T, tỉnh Long An. Liền kề với các thửa đất của các ông là thửa đất 259, tờ bản đồ số 5, diện tích 2.770m² của ông Nguyễn Văn Đ.
Nguồn gốc đất là của ông bà để lại cho cha ông tên Nguyễn Văn P (chết năm 2019) và mẹ ông tên Phạm Thị D (chết năm 2004) và đến anh em ông đã quản lý sử dụng trồng lá dừa nước từ năm 1945 đến nay.
Ranh giới giữa các thửa đất 257, 1081, 1082, 256, 204 với thửa đất 259 của ông Đ là hiện trạng là con rạch có chiều ngang khoảng 3m dùng để phục vụ sinh hoạt, phục vụ nông nghiệp. Theo Mảnh trích đo địa chính số 1712 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất tại huyện T đo đạc, ký duyệt ngày 10/8/2023 thì diện tích tranh chấp là khu A gia đình ông trồng dừa nước, thu hoạch lá dừa bán hàng năm cho người dân. Do diện tích khu A nằm trước cửa nhà ông lại giáp ranh với các thửa đất của ông là thửa 257, 1081, 1082, 256, 204 nên ông lầm tưởng là đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rồi. Gia đình ông canh tác ổn định từ xưa đến nay phía gia đình ông Đ không ai phản đối, hay tranh chấp. Hiện con rạch vẫn còn được người dân xung quanh sử dụng.
Ngày 28/12/2022, Tòa án cùng các cơ quan chuyên môn tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc thì bản thân ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị M là người chỉ ranh giới cắm từng cây cọc, nối dây, căng dây nilon nối lại các điểm cọc cho cơ quan tiến hành đo đạc. Ông Đ, bà M chỉ đúng phần bên đây con rạch là khu B và khu C theo Mảnh trích đo thuộc quyền sử dụng đất của ông Đ, bà M, còn khu A thuộc quyền sử dụng đất của ông C, ông T. Như vậy diện tích thực tế của cả hai gia đình đã được xác định rõ trên thực tế và canh tác sử dụng ổn định.
Phần đất tranh chấp khu A có diện tích 1.138,4m² thuộc một phần thửa 259 là thuộc quyền sử dụng đất của gia đình ông nhưng đến năm 2020 thì ông phát hiện Ủy ban nhân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ thửa đất 259 bao gồm cả phần đất của gia đình ông, thời điểm Ủy ban cấp cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ không có tiến hành đo đạc thực tế, cấp không đúng đối tượng sự dụng đất, không kiểm tra thực tế phần đất mà gia đình ông đã sử dụng ổn định từ xưa đến nay.
Ông thống nhất với M1 trích đo địa chính số 1712 ngày 10/8/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất tại huyện T. Việc đất của gia đình ông nhưng ông Đ đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không đúng quy định pháp luật. Do đó, ông khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận khu A có diện tích 1.138,4m² thuộc một phần thửa 259 thuộc quyền sử dụng đất của ông C và ông T, để các ông được kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.
Trước đây, theo đơn khởi kiện ông có yêu cầu ông Đ phải múc phần đất mà ông Đ đã lấn chiếm san lấp nhánh nhỏ của rạch Bà N, trả lại đường thoát nước từ quốc lộ F đến rạch Bà N có chiều ngang 3m chiều dài khoảng 120m tại ấp C xã M, huyện T, tỉnh Long An. Ông đã nộp đơn xin rút lại phần này.
Bị đơn ông Nguyễn Hồng T trình bày: Ông thống nhất với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hồng C. Ông không bổ sung gì thêm.
Ông Nguyễn Phước Đ1 là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Văn Đ trình bày:
Ông Nguyễn Văn Đ có thửa đất 259, tờ bản đồ số 5, diện tích 2.770m², tọa lạc tại xã M, huyện T, tỉnh Long An. Ông Đ được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa đất 259 vào ngày 27/02/2004 là đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không có tiến hành đo đạc thực tế. Trên thửa đất có dừa nước do ông Đ, bà M quản lý, sử dụng. Thửa đất có một con mương nhỏ cắt ngang không liên quan gì đến phần diện tích của ông C, ông T.
Bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 259 do bà Nguyễn Thị M cất giữ, không thế chấp, cầm cố, chuyển nhượng cho cá nhân cơ quan tổ chức nào. Ông Đ không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hồng C, ông Nguyễn Hồng T vì phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng dụng đất của ông Đ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Tô Thị H trình bày: Bà là vợ của Nguyễn Hồng C thống nhất lời trình bày của ông C, ông T, không bổ sung gì thêm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Ngô Thị Kim C1 trình bày: Bà là vợ của ông Nguyễn Hồng T thống nhất lời trình bày của ông C, ông T. Ngày 28/12/2022 khi tòa án với cơ quan chuyên môn đến đo đạc thì chính ông Đ, bà M chỉ ranh đất cắm từng cây cọc và nối dây ni long nối các điểm cọc lại để cho cơ quan chuyên môn đo đạc thể hiện là khu B và khu C trên bảng vẽ
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Hồng C2 trình bày:
Bà là con gái ruột của cụ Nguyễn Văn P, cụ Phạm Thị D. Bà sinh ra và lớn lên ở đây nên bà biết rõ sự việc. Phần diện tích đất khu A theo mảnh trích đo địa chính mà Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai đã đo vẽ là của cha mẹ bà trồng dừa nước, thu huê lợi từ lá dừa nước. Hàng năm gia đình bà bán lá dừa nước. Diện tích đất khu A này cách đất của cha mẹ ông Đ là một con rạch nhỏ có chiều ngang 3m theo mảnh trích đo địa chính là khu B, khu C là diện tích đất của cha mẹ ông Đ sử dụng. Con rạch được người dân sử dụng dùng sinh hoạt, giao thông. Trước cửa nhà cha mẹ bà là đám lá dừa nước nên cứ tưởng là thửa đất của cha mẹ nên không ai biết là phần diện tích đất được cấp thửa 259 cho ông Nguyễn Văn Đ. Bà yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết công nhận khu A cho ông T, ông C. Cha mẹ bà đã sử dụng khu A từ năm 1945 sau này thì giao lại cho ông C, ông T. Bản thân ông Đ, bà M đều biết ranh giới 2 diện tích đất nhưng cũng không nghĩ là đất của gia đình bà cấp chung thửa 259
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Hồng L trình bày: Bà là con gái ruột của cụ Nguyễn Văn P, cụ Phạm Thị D. Bà sinh ra và lớn lên ở đây.
Trước cửa nhà bà là phần diện tích lá dừa nước, cha mẹ bà bán lá dừa nước sinh sống. Ranh giới hai diện tích đất là một con rạch ngang 3m mọi người đều sử dụng sinh hoạt. Bên kia là đất của gia đình ông Đ không ai xâm phạm. Gia đình bà không biết là nhà nước cấp nhầm cho ông Đ thửa 259. Theo bảng vẽ mà chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai đo vẽ thì khu A là của ông C, ông T là do cha mẹ bà canh tác sử dụng hơn 100 năm. Còn khu C là diện tích đất mà gia đình ông Nguyễn Văn Đ canh tác sử dụng. Ranh giới giữa khu A và khu C là một khu B là một con rạch có từ hơn 100 năm nay cũng là ranh giới của hai diện tích đất. Ông Đ tự ý đi kê khai nên cấp luôn diện tích đất khu A cho ông Đ. Bà yêu cầu Tòa án công nhận khu A cho ông Nguyễn Hồng C, và Nguyễn Hồng T. Bà không ý kiến thêm gì.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hồng S trình bày: Ông thống nhất lời trình bày của ông C, ông T, bà L, bà C2. Ông là con ruột của cụ Nguyễn Văn P và bà Phạm Thị D. Cha mẹ chúng tôi đã phân chia cho ông T, ông C nên chúng tôi không tranh chấp. Diện tích đất được ông bà cha mẹ chúng tôi sử dụng canh tác hơn 100 năm nay, yêu cầu Tòa án công nhận cho ông C, ông T.
Tòa án thụ lý vụ án và tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng không được do bị đơn không hợp tác.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 14/2025/DS-ST ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An đã căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 688 Bộ luật dân sự. Điều 6, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hồng C, ông Nguyễn Hồng T về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn Đ phải múc phần đất mà ông Đ đã lấn chiếm san lấp nhánh nhỏ của rạch Bà N, trả lại đường thoát nước từ quốc lộ F đến rạch Bà N có chiều ngang 3m chiều dài khoảng 120m tại ấp 3 xã Mỹ An, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An
- Công nhận khu A có diện tích 1.138,4m² thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Hồng C, ông Nguyễn Hồng T. Ông Nguyễn Hồng C, ông Nguyễn Hồng T được quyền tiếp tục quản lý sử dụng diện tích 1.138,4m² tại vị trí khu A theo Mảnh trích đo địa chính số 1712 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai tại huyện T đo vẽ ngày 10/8/2022. (Vị trí tứ cận, diện tích, loại đất tờ bản đồ khu A nêu trên theo mảnh trích địa chính số 1712 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai tại huyện T đo vẽ ngày 10/8/2022)
- Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị M phải chịu 4.477.000 đồng đã nộp xong.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị M phải chịu án phí 300.000 đồng dân sự sơ thẩm
- Ông T, ông C, ông Đ có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai để điều chỉnh lại diện tích đất đã cấp trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và diện tích đất thực tế đang sử dụng cho phù hợp với quy định của luật đất đai về đất đai. Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan Tài Nguyên và Môi Trường căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để điều chỉnh biến động hoặc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với quyết định của bản án (Vị trí tứ cận, diện tích loại đất thửa đất nêu trên theo mảnh trích đo địa chính số 1712 ngày 10/8/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T).
Ông Nguyễn Hồng C, ông Nguyễn Hồng T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho ông Nguyễn Hồng C là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002647 ngày 7/10/2022 tại Chi Cục thi hành án huyện T, tỉnh Long An. Ông T đã hơn 60 tuổi được miễn nên không phải hoàn trả
Ông Nguyễn Văn Đ có nghĩa vụ nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 013445 ngày 27/02/2004 do UBND huyện T cấp cho cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thu hồi, điều chỉnh, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Trường hợp ông Đ không nộp bản chính giấy chứng nhận QSDĐ nêu trên thì ông T, ông C có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án và cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận QSDĐ, các cơ quan có liên quan thực hiện thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận QSDĐ đã cấp để thực hiện các thủ tục đăng ký cấp lại giấy chứng nhận QSDĐ cho phù hợp kết quả giải quyết của bản án theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và thời hiệu thi hành án theo Luật Thi hành án dân sự.
Ngày 21/02/2025, bị đơn là ông Nguyễn Văn Đ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị M kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án dân sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm,
Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người kháng cáo không rút yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, không cung cấp, nộp thêm tài liệu, chứng cứ mới và vẫn giữ nguyên ý kiến như đã trình bày ở cấp sơ thẩm.
Ông Nguyễn Phước Đ1 trình bày: Ông thay đổi yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vì phần đất tranh chấp ông Đ đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo đúng quy định.
Ông thừa nhận phần đất tranh chấp theo Mảnh trích đo là khu A có diện tích 1.138,4 m² trước giờ ông Đ không sử dụng, gia đình ông C, ông T quản lý sử dụng nhưng phần đất này thuộc quyền sử dụng đất của ông Đ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông Đ.
Ông Nguyễn Hồng C, ông Nguyễn Hồng T trình bày: Phần đất tranh chấp tại khu A có diện tích 1.138,4m² loại đất CLN, gia đình ông đã quản lý, sử dụng từ năm 1945 cho đến nay không ai khiếu nại, tranh chấp nhưng Ủy ban lại cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ là không đúng quy định pháp luật. Khi Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành đo đạc thực tế thì ông Đ cũng xác định phần đất của ông Đ là khu B và khu C. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Đ, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa phát biểu:
- Ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử phúc thẩm nghị án, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, thành viên Hội đồng xét xử phúc thẩm, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Những người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Xét kháng cáo của đương sự, thấy rằng:
Ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị M kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm với lý do biên bản hoà giải tại UBND xã M ngày 06/5/2022 và biên bản hòa giải tranh chấp ranh ngày 18/5/2022 của UBND xã M không liên quan đến yêu cầu khởi kiện về đòi lại quyền sử dụng đất của nguyên đơn, do đó ông C, ông T chưa đủ điều kiện khởi kiện; Tòa án chưa xác minh làm rõ đối với chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp; Tòa án công nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn là vượt quá yêu cầu khởi kiện của đương sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn thay đổi yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án dân sự sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Xét kháng cáo của Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị M và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thấy rằng: biên bản hòa giải ngày 06/5/2022 tại UBND xã M, huyện T thể hiện nội dung là hòa giải đơn tranh chấp đất đai của ông Nguyễn Hồng T với ông Nguyễn Văn Đ tại thửa đất 259 và biên bản hòa giải ngày 18/5/2022 tại UBND xã M kèm theo công văn số 571/CV.UBND ngày 20/5/2024 của UBND xã M thì nội dung hòa giải tranh chấp ranh đất đai theo đơn xin giải quyết của ông Nguyễn Hồng C đối với thửa đất 259. Do đó, việc tranh chấp quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Hồng C, ông Nguyễn Hồng T đã được hòa giải tại UBND theo đúng quy định tại Điều 202 Luật đất đai năm 2013. Do đó đủ điều kiện khởi kiện theo quy định. Nên việc bị đơn cho rằng việc tranh chấp của nguyên đơn khi trình bày ở xã và yêu cầu ở Toà án không liên quan nên dẫn đến nguyên đơn không đủ điều kiện khởi kiện là không có căn cứ.
Ông Đ, bà M kháng cáo cho rằng ông C, ông T chưa đủ điều kiện khởi kiện là không có cơ sở chấp nhận bởi lẽ: Ông Nguyễn Hồng C, ông Nguyễn Hồng T yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa công nhận khu A diện tích 1.138,4m² loại đất CLN, tờ bản đồ số 5 tại xã M, huyện T, tỉnh Long An được Toà Án nhân dân huyện Thủ Thừa chấp nhận là có cơ sở bởi lẽ: nguồn gốc phần đất tranh chấp (diện tích 1.138,4m² tại vị trí khu A theo Mảnh trích đo địa chính) là của ông bà để lại cho cha tên Nguyễn Văn P chết năm 2019, mẹ Phạm Thị D chết năm 2004 và anh em ông đã quản lý sử dụng trồng lá dừa nước từ năm 1945 đến nay. Bị đơn cho rằng nguồn gốc đất do ông bà ông Đ sử dụng từ năm 1975 đến năm 1995 để lại cho ông Đ quản lý, sử dụng. Năm 2004 ông Đ đăng ký, kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên: Theo công văn số 9257 ngày 16/12/2022 của Ủy ban nhân dân huyện T thì việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ chỉ căn cứ bản đồ địa chính không đo đạc thực tế. Quá trình giải quyết tranh chấp bị đơn ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị M cùng tiến hành xác định ranh giới giữa hai diện tích đất, tiến hành cắm cọc ranh. Ông Nguyễn Văn Đ trực tiếp cắm cọc tạm, nối dây ni lông từ điểm các cọc ranh, xác định rõ ranh đất để Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T tiến hành đo đạc. Khu B, khu C là do ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị M xác định ranh. Khu A là do ông Nguyễn Hồng T, ông Nguyễn Hồng C xác định ranh. Tại biên bản lấy lời khai ngày 16/11/2023 bà Nguyễn Thị L1, bà Dương Thị Ngọc P1, ông Đinh Phước T1, ông Đinh Phước C3, ông Nguyễn Văn H1 thì các ông bà cùng xác định trình bày: Ranh giới đất của ông C, ông T với ông Đ là một con rạch nhỏ có chiều ngang khoảng 3m, hai bên gia đình đều trồng lá dừa nước. Các hộ dân dùng con rạch này để thoát nước.
Từ lời trình bày của các đương sự, các nhân chứng có đủ căn cứ xác định ông Nguyễn Hồng C, ông Nguyễn Hồng T đã sử dụng phần diện tích đất khu A nêu trên, việc sử dụng đất liên tục trồng lá dừa nước trong một thời gian dài từ thời cụ Nguyễn Văn P, cụ Phạm Thị D từ năm 1945 không ai tranh chấp. Quá trình sử dụng một phần thửa 259 của ông C, ông T thì ông Đ, bà M đều biết và thừa nhận. Khi xác định ranh chính ông Đ và bà M cũng chỉ xác định đúng như các bên đã từng sử dụng, nay chỉ căn cứ vào việc khu A thuộc giấy chứng nhận của ông Đ bà M nên mới không đồng ý là mâu thuẩn với chính bản thân ông Đ và bà M. Ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị M kháng cáo đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có cơ sở chấp nhận.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị M. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến và quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
- [1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn Đ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị M thực hiện đúng về hình thức, nội dung và thời hạn theo quy định tại các Điều 272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
- [2] Về thủ tục xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Hồng B, bà Nguyễn Hồng L và Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Long An đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
- [3] Về phạm vi xét xử phúc thẩm:
- [4] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị M, thấy rằng:
- [5] Từ lời trình bày của các đương sự, các nhân chứng có đủ căn cứ xác định ông Nguyễn Hồng C, ông Nguyễn Hồng T đã sử dụng phần diện tích đất khu A nêu trên, việc sử dụng đất liên tục trồng lá dừa nước trong một thời gian dài từ thời cụ Nguyễn Văn P, cụ Phạm Thị D từ năm 1945 không ai khiếu nại, tranh chấp. Quá trình sử dụng một phần thửa 259 của ông C, ông T thì ông Đ, bà M đều biết và thừa nhận tại biên bản lấy lời khai của Tòa án.
- [6] Từ những phân tích trên, Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật. Ông Đ, bà M kháng cáo nhưng không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ gì mới. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Đ, bà M.
- [7] Tại phiên tòa sơ thẩm ông Nguyễn Hồng C, ông Nguyễn Hồng T xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn Đ phải múc phần đất mà ông Đ đã lấn chiếm san lấp nhánh nhỏ của rạch Bà N, trả lại đường thoát nước từ quốc lộ F đến rạch Bà N có chiều ngang 3m chiều dài khoảng 120m tại ấp C xã M. Việc rút đơn khởi kiện của ông T, ông C là tự nguyện nên Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện này là phù hợp.
- [8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Bị đơn ông Nguyễn Văn Đ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị M kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại phần của bản án sơ thẩm có kháng cáo liên quan đến nội dung kháng cáo của đương sự.
[4.1] Theo Mảnh trích đo địa chính số 1712 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đai tại huyện T đo đạc, ký duyệt ngày 10/8/2023 thì phần đất các đương sự tranh chấp là khu A có diện tích 1.138,4m² thuộc một phần thửa đất 259, loại đất cây lâu năm, tờ bản đồ số 5, tọa lạc tại xã M, huyện T, tỉnh Long An, hiện nay ông Nguyễn Văn Đ đang đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Ông Nguyễn Hồng C, ông Nguyễn Hồng T yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa công nhận phần đất là khu A có diện tích 1.138,4m² mà gia đình hai ông đã quản lý sử dụng canh tác từ năm 1945 cho đến ngày nay, nguồn gốc đất từ cha Nguyễn Văn P, mẹ Phạm Thị D để lại cho hai ông. Diện tích đất trồng lá dừa nước, nguồn thu huê lợi của gia đình từ là dừa nước bán cho người dân dùng để cất nhà lá. Ranh giới các thửa đất của ông C, ông T với thửa đất của ông Đ có một con rạch có chiều ngang 3m đã có từ xưa đến nay (theo Mảnh trích đo là khu B) nên ranh giới rất rõ ràng và đúng với hiện trạng đất sử dụng thực tế của các bên nhưng Ủy ban nhân dân huyện T lại cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn Đ thửa đất 259 bao gồm luôn phần đất tranh chấp là không đúng đối tượng sử dụng đất.
Bị đơn cho rằng nguồn gốc đất do ông bà ông Đ sử dụng từ năm 1975 đến năm 1995 để lại cho ông Đ quản lý, sử dụng. Năm 2004 ông Đ đăng ký, kê khai và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
[4.2] Xét quá trình kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
Theo công văn số 9257 ngày 16/12/2022 của Ủy ban nhân dân huyện T trả lời: Ngày 24/02/2003 ông Nguyễn Văn Đ có đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất trong đó có thửa đất 259, tờ bản đồ số 05, diện tích 2.770 m², loại đất CLN tại xã M, huyện T, tỉnh Long An, ông Đ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng số Đ 013445 ngày 27/02/2004. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng trình tự theo quy định của pháp luật, quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ chỉ căn cứ bản đồ địa chính không đo đạc thực tế.
Theo công văn số 2989/UBND-NC ngày 24/5/2024 của Ủy ban nhân dân huyện T trả lời: Quá trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông bà Nguyễn Văn Đ theo mẫu giấy quy định tại thời điểm năm 2004. Ngày 08/8/2012, chỉnh lý Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 013445 điều chỉnh hộ ông bà Nguyễn Văn Đ thành ông Nguyễn Văn Đ.
[4.3] Xét về quá trình quản lý, sử dụng đất:
Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 28/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An thì nguyên đơn ông Nguyễn Hồng C, ông Nguyễn Hồng T, bị đơn ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị M cùng tiến hành xác định ranh giới giữa hai diện tích đất, tiến hành cắm cọc ranh. Ông Nguyễn Văn Đ trực tiếp cắm cọc tạm, nối dây ni lông từ điểm các cọc ranh, xác định rõ ranh đất để Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T tiến hành đo đạc. Khu B, khu C là do ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị M xác định ranh thuộc quyền sử dụng đất của ông Đ, bà M. Khu A là do ông Nguyễn Hồng T, ông Nguyễn Hồng C xác định ranh thuộc quyền sử dụng đất của ông C, ông T. Ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị M xác định trên thửa 259 có đường thoát nước chiều ngang khoảng 2m là đường mương liếp của đất nhà, hiện nay vẫn còn là phần khu B.
Tại Tòa án cấp sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn Đ cho rằng ông Đ đang đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng không có quá trình sử dụng ổn định lâu dài, diện tích đất của khu A ông C, ông T sử dụng. Khu C ông Đ sử dụng. Ranh giới giữa khu A và khu C là khu B có một mương ranh có chiều ngang từ 3 đến 3,5m không thay đổi. Việc cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn Đ không đo đạc thực tế nên không phát hiện khu A là do cụ Nguyễn Văn P, cụ Phạm Thị D, ông C, ông T là người trực tiếp sử dụng từ năm 1945 đến nay và đã trồng lá dừa nước trên đất, thu huê lợi trên đất. Việc sử dụng đất của ông C, ông T không thông qua giao dịch cho mượn, cho sử dụng nhờ của ông Đ, bà M nhưng ông Đ, bà M không cung cấp được chứng cứ, tài liệu để chứng minh là khu A là của ông Đ, bà M đang quản lý sử dụng.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn cũng thừa nhận phần đất khu A trước giờ gia đình ông C, ông T quản lý, sử dụng, ông Đ không có sử dụng phần đất này. Khi xác định ranh đất chính ông Đ và bà M cũng chỉ xác định đúng như các bên đã từng sử dụng, nay chỉ căn cứ vào việc khu A thuộc giấy chứng nhận của ông Đ, bà M đã được cấp nên thuộc quyền sử dụng đất của ông Đ và bà M là không có căn cứ. Do đó có căn cứ xác định người trực tiếp, quản lý, sử dụng đất đối với khu A là ông C, ông T. Gia đình ông ông C, ông T đã quản lý, sử dụng ổn định từ trước năm 1975 cho đến nay không ai khiếu nại, tranh chấp.
[4.4] Trong quá trình giải quyết vụ án ở Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã tiến hành lấy lời khai bà Nguyễn Thị M là vợ của ông Nguyễn Văn Đ và những người dân sinh sống tại đây để làm rõ quá trình quản lý, sử dụng đất đối với phần đất tranh chấp.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 08/12/2022 bà Nguyễn Thị M là vợ của ông Nguyễn Văn Đ trình bày hiện trạng thửa đất 259 là đất biền lá. Gia đình bà sử dụng một phần. Ông Nguyễn Hồng C sử dụng một phần biền lá toàn lá dừa nước do ông C sử dụng.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 16/11/2023 bà Nguyễn Thị L1 trình bày: Bà lấy chồng về sống gần nhà ông T, ông C, ông Đ từ năm 1981. Rạch Bà N là rạch công cộng. Ranh giới đất của ông C, ông T với ông Đ là một con rạch nhỏ có chiều ngang khoảng 3m, hai bên gia đình đều trồng lá dừa nước. Các hộ dân dùng con rạch này để thoát nước.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 16/11/2023 bà Dương Thị Ngọc P1 trình bày: Bà lấy chồng về sống gần nhà ông T, ông Đ, ông C từ năm 1982. Ranh giới là con rạch chiều ngang 3m, hai bên trồng lá dừa nước. Các hộ dân sử dụng con rạch làm đường thoát nước, cũng là rạch giao thông để bà con sử dụng xuồng ghe đi lại, phục vụ cuộc sống, sản xuất nông nghiệp.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 16/11/2023 ông Đinh Phước T1 trình bày: Ông sống từ nhỏ đến lớn ở đây. Ranh giới của thửa đất của ông Đ, ông C có chiều ngang là con rạch khoảng 3m. Hai gia đình đều trồng là dừa nước. Con rạch phục vụ sinh hoạt và sản xuất nông nghiệp của người dân.
Tại biên bản lấy lời khai ghi ngày 16/11/2023 ông Đinh Phước C3 trình bày: Ông sống từ nhỏ đến bây giờ nên biết rõ sự việc. Gia đình ông C, ông T sử dụng một phần diện tích bên đây con rạch, gia đình ông Đ sử dụng một phần diện tích bên kia con rạch. Hai gia đình trồng lá dừa nước. Còn gia đình ông sử dụng con rạch này từ năm 1975 đến nay dùng làm đường nước sinh hoạt, phục vụ nông nghiệp.
Rạch Bà N là rạch công cộng kéo dài vô tới ngọn đụng quốc lộ F kéo dài qua thửa đất có chiều ngang 3m. Ranh giới giữa đất của gia đình ông C và gia đình ông Đ là một con rạch có chiều ngang khoảng 3m, hai bên gia đình đều trồng lá dừa nước. Các hộ dân sử dụng con rạch này để thoát nước, giao thông
Do đó, có đủ căn cứ xác định phần đất khu A thuộc quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Hồng C, ông Nguyễn Hồng T, việc Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Đ là không đúng đối tượng sử dụng đất.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn Đ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị M.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 14/2025/DS-ST ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1, tỉnh Tây Ninh).
Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ vào các Điều 175, 688 Bộ luật dân sự năm 2015; Các Điều 100, 166, 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 6, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hồng C, ông Nguyễn Hồng T về việc yêu cầu ông Nguyễn Văn Đ phải múc phần đất mà ông Đ đã lấn chiếm san lấp nhánh nhỏ của rạch Bà N, trả lại đường thoát nước từ quốc lộ F đến rạch Bà N có chiều ngang 3m chiều dài khoảng 120m tại ấp C xã M, huyện T, tỉnh Long An.
- Công nhận khu A có diện tích 1.138,4 m² thuộc quyền sử dụng của ông Nguyễn Hồng C, ông Nguyễn Hồng T. Ông Nguyễn Hồng C, ông Nguyễn Hồng T được quyền tiếp tục quản lý sử dụng diện tích 1.138,4m² tại vị trí khu A theo Mảnh trích đo địa chính số 1712 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai tại huyện T đo vẽ ngày 10/8/2022. (Vị trí tứ cận, diện tích, loại đất tờ bản đồ khu A nêu trên theo mảnh trích địa chính số 1712 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai tại huyện T đo vẽ ngày 10/8/2022).
- Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị M phải chịu 4.477.000 đồng đã nộp xong.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng.
- Ông T, ông C, ông Đ có trách nhiệm liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền về quản lý đất đai để điều chỉnh lại diện tích đất đã cấp trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và diện tích đất thực tế đang sử dụng cho phù hợp với quy định của luật đất đai về đất đai.
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Ông Nguyễn Hồng C, ông Nguyễn Hồng T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho ông Nguyễn Hồng C là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002647 ngày 7/10/2022 tại Chi Cục thi hành án huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1, tỉnh Tây Ninh). Ông T đã hơn 60 tuổi được miễn nên không phải hoàn trả.
Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan Tài Nguyên và Môi Trường căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để điều chỉnh biến động hoặc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với quyết định của bản án (Vị trí tứ cận, diện tích loại đất thửa đất nêu trên theo mảnh trích đo địa chính số 1712 ngày 10/8/2022 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T).
Ông Nguyễn Văn Đ có nghĩa vụ nộp bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số Đ 013445 ngày 27/02/2004 do UBND huyện T cấp cho cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thu hồi, điều chỉnh, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Trường hợp ông Đ không nộp bản chính giấy chứng nhận QSDĐ nêu trên thì ông T, ông C có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án và cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận QSDĐ, các cơ quan có liên quan thực hiện thu hồi, hủy bỏ giấy chứng nhận QSDĐ đã cấp để thực hiện các thủ tục đăng ký cấp lại giấy chứng nhận QSDĐ cho phù hợp kết quả giải quyết của bản án theo quy định của pháp luật.
Ông Nguyễn Văn Đ, bà Nguyễn Thị M mỗi người phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí mỗi người đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai tạm ứng án phí số 0009564, 0009565 cùng ngày 10/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1, tỉnh Tây Ninh) sang khoản án phí phải thi hành.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |
Bản án số 301/2025/DS-PT ngày 01/07/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 301/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 01/07/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
