|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 301/2024/HSPT Ngày: 15/4/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: | Ông Nguyễn Nam Thành; |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Hải Thanh; |
| Ông Nguyễn Trọng Đoàn. |
- Thư ký phiên tòa: Bà Vy Minh Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Tân, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 15 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 1431A/2023/TLPT-HS ngày 10 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo Đỗ Tiên P do có kháng cáo của đại diện theo pháp luật của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 493/2023/HSST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
- Bị cáo bị kháng cáo:
Đỗ Tiên P, sinh năm 1991; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường C, quận B, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn D và bà Chu Thị Thúy P1; có vợ là Lưu Thị H (đã ly hôn); tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 10/6/2010, Công an thị trấn S, huyện S, thành phố Hà Nội xử phạt hành chính về hành vi gây rối trật tự công cộng; bị bắt tạm giam từ ngày 24/11/2022; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Đặng Thị Vân T, Luật sư của Văn phòng L, thuộc Đoàn Luật sư thành phố H; có mặt.
- Bị hại: Hộ kinh doanh K
- Đại diện theo pháp luật của bị hại có kháng cáo: Bà Trần Thị Vân A, sinh năm 1995; nơi cư trú: Số F phố V, phường T, quận T, thành phố Hà Nội; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không kháng cáo: Ông Đặng Tuấn A1, sinh năm 1985; nơi cư trú: Số C đường P, phường D, quận C, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, bản án sơ thẩm và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 7 năm 2021, bà Trần Thị Vân A cùng chồng là ông Lê Thành T1 và ông Đặng Tuấn A1 thành lập hộ kinh doanh Kamifarm - Chợ N (cửa hàng K1) tại tòa nhà N, khu N đoàn, phường X, quận B, Hà Nội. Bà Vân A là đại diện hộ kinh doanh theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 01D-8015725 do phòng Tài chính - kế hoạch Ủy ban nhân dân quận B cấp ngày 15/7/2021. Cửa hàng quản lý bán hàng bằng phần mềm KiotViet để xác định chủng loại, số lượng hàng hóa, số tiền khách hàng thanh toán bằng tiền mặt, bằng thẻ, tài khoản ngân hàng hoặc chuyển khoản thì số tiền sẽ được chuyển vào tài khoản số 2201.000.9688789 mở tại Ngân hàng B đăng ký đứng tên cửa hàng K1.
Từ giữa tháng 11 năm 2021, Đỗ Tiên P được ông Tuấn A1 thuê làm quản lý tại cửa hàng nhưng không ký hợp đồng lao động, mức lương 12.000.000 đồng/tháng. Định kỳ từ 2 đến 3 ngày, P phải báo cáo hoạt động thu chi của cửa hàng cho ông Tuấn A1 và chuyển tiền bán hàng về tài khoản của cửa hàng.
Trong quá trình làm việc tại cửa hàng từ tháng 11 năm 2021 đến tháng 5 năm 2022, P đã lợi dụng sự quản lý không chặt chẽ của cửa hàng để chiếm đoạt số tiền 775.769.879 đồng. Cụ thể:
1. Hành vi chiếm đoạt 110.189.519 đồng tiền mặt của cửa hàng K1: Đỗ Tiên P được giao nhiệm vụ thu tiền bán hàng của khách hàng. Tiền hàng khách có thể trả tiền mặt hoặc chuyển khoản vào tài khoản ngân hàng của cửa hàng. P đã dùng thủ đoạn báo cáo doanh thu thấp hơn doanh thu thực tế từ ngày 22/11/2021 đến ngày 16/4/2022 để chiếm đoạt phần chênh lệch là 110.189.519 đồng.
2. Hành vi chiếm đoạt 85.029.452 đồng là tiền doanh thu chuyển khoản của cửa hàng K1: Khi khách mua hàng cần thanh toán bằng hình thức chuyển khoản, theo quy định P sẽ phải hướng dẫn khách hàng chuyển tiền vào tài khoản số 2201.000.9688789 mở tại Ngân hàng B của cửa hàng K1. Tuy nhiên, để chiếm đoạt tiền bán hàng, P yêu cầu khách hàng chuyển khoản đến tài khoản cá nhân của P số 45010002737173 tại Ngân hàng B và chiếm đoạt luôn số tiền này. Theo sao kê tài khoản của P và dữ liệu bán hàng trên phần mềm KiotViet thể hiện từ ngày 20/11/2021 đến ngày 25/5/2022 toàn bộ số tiền bán hàng là 85.029.452 đồng được chuyển vào tài khoản của P và bị P chiếm đoạt.
3. Hành vi chiếm đoạt 122.666.730 đồng tiền quỹ tồn của cửa hàng K1: Hàng tháng, sau khi tính toán các khoản thu chi của cửa hàng, P sẽ phải báo cáo số quỹ tồn của tháng trước để chuyển sang tháng sau nhưng P đã báo cáo sai lệch số quỹ tồn so với thực tế từ tháng 01 năm 2022 đến tháng 4 năm 2022 để chiếm đoạt số tiền 122.666.730 đồng.
4. Hành vi chiếm đoạt các khoản chi của cửa hàng Kamifarm số tiền 279.884.178 đồng: Hàng ngày, khi cửa hàng nhập hàng hóa về bán và mua một số trang thiết bị phục vụ cho việc bán hàng thì P có trách nhiệm thực hiện thanh toán cho các nhà cung cấp. Theo các hóa đơn chứng từ về việc nhập hàng hóa của cửa hàng thể hiện: Từ tháng 02 năm 2022 đến tháng 4 năm 2022, P phải thanh toán tiền hàng cho các nhà cung cấp nhưng P đã không thực hiện việc thanh toán mà vẫn báo cáo về cửa hàng là đã thanh toán số tiền hàng 279.884.178 đồng để chiếm đoạt toàn bộ số tiền này. Đến hẹn, các nhà cung cấp không được thanh toán nên đã liên hệ lại với bà Vân A thì phát hiện P đã không thực hiện chi trả tiền hàng như trên.
5. Hành vi chiếm đoạt tiền quỹ phải nộp về tài khoản của cửa hàng K1 số tiền 178.000.000 đồng: Hàng ngày, sau khi đã tính toán hết doanh thu bán hàng tiền mặt cùng quỹ tồn và thực hiện việc thanh toán các khoản chi, cửa hàng có quy định là nếu số tiền còn lại trên 10.000.000 đồng thì P phải nộp số tiền quỹ về tài khoản ngân hàng của cửa hàng K1 kể trên. Từ ngày 26/11/2021 đến ngày 10/4/2022, P đã báo cáo nộp khoản tiền quỹ này về tài khoản của cửa hàng nhưng thực tế không nộp về tổng số tiền là 178.000.000 đồng và chiếm đoạt toàn bộ số tiền này.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 493/2023/HSST ngày 28 tháng 9 năm 2023, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã tuyên bố: Bị cáo Đỗ Tiên P phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng khoản 4 Điều 175; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Tiên P 10 năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 24/11/2022.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, nghĩa vụ chịu lãi suất trong trong trường hợp người phải thi hành án chậm thi hành, án phí và phổ biến về quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 09/10/2023, bà Trần Thị Vân A có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử tăng hình phạt đối với bị cáo Đỗ Tiên P.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Bị cáo Đỗ Tiên P thành khẩn khai nhận, có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; xuất trình biên lai thể hiện đã bước đầu khắc phục một phần thiệt hại cho bị hại và nộp tiền án phí sơ thẩm. Bị cáo xin lỗi bị hại và xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng sự khoan hồng của pháp luật để sớm trở về với xã hội để có cơ hội bồi thường cho bị hại.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Người kháng cáo là bà Trần Thị Vân A có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 351 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà Vân A.
Căn cứ vào lời khai của bị cáo, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thấy Tòa án cấp sơ thẩm quy kết Đỗ Tiên P phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 4 Điều 175 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan.
Bị cáo trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, do cần tiền chữa bệnh cho vợ nên mới phạm tội; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối hận về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo xuất trình tài liệu đã nộp số tiền 20.200.000 đồng khắc phục hậu quả và án phí sơ thẩm. Mặc dù số tiền khắc phục hậu quả cho bị hại là không lớn, nhưng cũng là thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo nên có căn cứ áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. Hình phạt 10 năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt là đã phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của đại diện theo pháp luật của bị hại, giữ nguyên hình phạt 10 năm tù đối với bị cáo.
Luật sư Đặng Thị Vân T trình bày bài bào chữa cho bị cáo:
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử đúng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội là do thiếu hiểu biết; vay nợ nhiều để chữa bệnh cho vợ, sau đó do không có tiền trả nợ nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Bị cáo chưa có tiền án tiền sự, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bố mẹ ốm đau bệnh tật, đã ly hôn vợ; bị cáo là trụ cột, lao động chính trong gia đình. Anh trai ông nội và anh trai ông ngoại đều là liệt sỹ, bố bị cáo cũng đã có thời gian tham gia quân đội. Gia đình bị cáo rất khó khăn nhưng cũng đã bước đầu khắc phục một phần hậu quả cho bên bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự không chấp nhận kháng cáo của đại diện theo pháp luật của bị hại giữ nguyên mức hình phạt đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp theo quy định của pháp luật.
[1.2] Kháng cáo của đại diện theo pháp luật của bị hại là bà Trần Thị Vân A trong hạn luật định, có nội dung và hình thức phù hợp quy định tại các Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[1.3] Tại phiên tòa, người kháng cáo là bà Trần Thị Vân A vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Vân A.
[2] Về nội dung:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, tỏ ra ăn năn hối cải. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận:
Đỗ Tiên P là nhân viên quản lý bán hàng của H1 kinh doanh Kamifarm - chợ N (Cửa hàng K1). Quá trình làm việc, P được giao phụ trách quản lý việc thu, chi và báo cáo theo định kỳ hoạt động kinh doanh, doanh số của cửa hàng. Từ tháng 11 năm 2021 đến tháng 5 năm 2022, lợi dụng sự tin tưởng và quản lý không chặt chẽ của chủ cửa hàng, P đã có hành vi báo cáo gian dối về thu chi của cửa hàng K1 để chiếm đoạt tổng số tiền 775.769.879 đồng. Số tiền này P đã sử dụng chi tiêu hết và chưa bồi thường cho cửa hàng K1. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân, được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đến tính chất, mức độ, số tiền đã chiếm đoạt của bị hại, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo 10 năm tù là phù hợp, không oan.
[3] Xét kháng cáo của đại diện theo pháp luật của bị hại là bà Trần Thị Vân A, Hội đồng xét xử thấy:
Bị cáo phạm tội lần đầu, chưa có tiền án tiền sự. Sau khi bị bắt và quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Theo đơn trình bày có xác nhận của chính quyền địa phương, gia đình bị cáo có anh trai của ông nội, anh trai của ông ngoại bị cáo là liệt sỹ, hoàn cảnh khó khăn, bố mẹ bệnh tật nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, mặc dù gia đình gặp nhiều khó khăn nhưng bị cáo đã tác động để gia đình nộp số tiền 20.000.000 đồng bồi thường, khắc phục hậu quả cho cửa hàng K1 theo quyết định của bản án sơ thẩm đồng thời nộp 200.000 đồng án phí sơ thẩm. Số tiền trên tuy không lớn nhưng cũng thể hiện việc chấp hành pháp luật của bị cáo, đây là tình tiết mới theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo. Do bị cáo được áp dụng hai tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên được áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và mức hình phạt 10 năm tù đối với bị cáo là tương xứng với tính chất, mức độ, số tiền đã chiếm đoạt của cửa hàng Kamifarm nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của đại diện theo pháp luật của bị hại là bà Vân A. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội và của luật sư bào chữa cho bị cáo được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Đỗ Tiên P và đại diện theo pháp luật của bị hại là bà Trần Thị Vân A không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận kháng cáo của đại diện theo pháp luật của bị hại là bà Trần Thị Vân A; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 493/2023/HSST ngày 28/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Tiên P phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng khoản 4 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Tiên P 10 (mười) năm tù; thời hạn tù tính từ ngày 24/11/2022.
2. Ghi nhận bị cáo (do bà Chu Thị Thúy P1 là mẹ đẻ) đã nộp số tiền 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm tại Biên lai số 0060649 ngày 06/3/2024 và số tiền bồi thường 20.000.000 đồng tại Biên lai số 0060905 ngày 08/4/2024 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội.
3. Về án phí: Bị cáo Đỗ Tiên P và đại diện theo pháp luật của bị hại là bà Trần Thị Vân A không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Nam Thành |
Bản án số 301/2024/HSPT ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 301/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Tiên P phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
