Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 301/2024/HS-PT

Ngày: 26 - 4 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Tám

Các Thẩm phán: Bà Lê Thuý Cầu

Bà Nguyễn Thị Thanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Đàm Lê Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Đảm - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 1026/2023/TLPT - HS ngày 20 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Đại C do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 533/2023/HS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đối với bị cáo.

- Họ và tên: Nguyễn Đại C sinh năm 1986Thành phố Hồ Chí MinhThường trú: Số C P, Phường E, quận G, Thành phố H nghiệp: khôngtrình độ học vấn: không biết chữdân tộc: Kinh; giới tính: Namtôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Cha là Nguyễn Văn H (chết) và mẹ là Nguyễn Thị L (chết)hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ, contiền án: không; tiền sự: Năm 2018, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc về hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy”, chấp hành xong quyết định ngày 16/9/2019. Nhân thân: Ngày 14/02/2017, Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” (Bản án số 32/2017/HSST), chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/02/2018. Bị cáo bị bắt giam từ ngày 14/5/2020, (có mặt).

- Người bào chữa: Bà Lê Thị Quỳnh A, luật sư của thuộc Đoàn luật sư Thành phố H, (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Trần Thị Kiều O, sinh năm 1991.

Địa chỉ: 2 N, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 00 giờ 30 phút, ngày 14/05/2020, Tổ công tác Hình sự đặc nhiệm, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Trật tự xã hội, Công an quận G kết hợp với Công an P, quận G bắt quả tang bị cáo Nguyễn Đại C có hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” tại trước địa chỉ số A đường P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Thu giữ trong cốp xe máy biển số 59H1 – 169.62 có một túi vải màu trắng in chữ GIVENCHY đựng một gói nylon màu vàng có in chữ GUANYINWANG được quấn băng keo bên ngoài, bên trong là ma tuý có khối lượng 992,95 gam, loại Methamphetamine; 01 điện thoại di động hiệu OPPO, số sim: 0798166367; 01 xe máy biển số 59H1 – 169.62 và 2.900.000 đồng.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo tại địa chỉ 3 Q, Phường A, quận G, thu giữ: 02 búa kim loại có cán bằng gỗ dài khoảng 37cm; 03 điện thoại di động, gồm: 01 điện thoại di động hiệu N1 màu đen, 01 điện thoại di động hiệu OPPO, 01 điện thoại di động hiệu Samsung; 01 đĩa sứ hình tròn, màu trắng; 01 thẻ nhựa; 01 bình gas hiệu Bluesky; 02 camera quan sát màu trắng, không rõ hiệu và 04 xe máy, gồm: 01 xe máy hiệu Exciter biển số: 83C1 – 402.19; 01 xe máy hiệu Exciter biển số: 36D1 – 473.52; 01 xe máy hiệu Vision biển số: 59D1 – 295.85 và 01 xe máy hiệu SH biển số: 59A3 – 243.69. Trong cốp xe có 01 túi xách màu hồng đựng 02 bình ga hiệu Bluesky, 01 áo sơ mi ngắn tay màu trắng sọc đen quấn bên trong có 01 khẩu súng ngắn số LE26/27 có hộp tiếp đạn chứa 10 viên đạn màu đồng. Kết quả giám định khẩu súng thu được thuộc nhóm vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí thể thao; 10 viên đạn là đạn thể thao quốc phòng cỡ 5,6x15,6mm chưa qua sử dụng, thường dùng cho các loại súng như súng trường thể thao TOZ8, súng ngắn ổ quay S của Mỹ; các loại súng tự chế có cỡ nòng và buồng đạn phù hợp với kích cỡ của loại đạn này.

Toàn bộ số ma túy thu giữ trong vụ án đã được giám định, kết quả thể hiện tại Kết luận giám định số 825/KLGĐ-H ngày 22/5/2020 của Phòng K, Công an Thành phố H.

Quá trình điều tra bị cáo khai nhận là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2017. Khoảng 17 giờ, ngày 13/05/2020, bị cáo đang ở nhà thì nhận được điện thoại của một người nam thanh niên tên H1 (không rõ lai lịch, bị cáo quen biết H1 do đã mua ma túy của H1 nhiều lần để sử dụng) nói bị cáo liên hệ với một người phụ nữ tên O để mua ma túy mang về giao lại cho H1, bị cáo đồng ý. Khoảng 15 phút sau, bị cáo nhận được điện thoại của O gọi vào điện thoại di động của bị cáo nói khi nào đi mua ma túy thì liên hệ lại để chở O cùng đi, bị cáo đồng ý. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày H1 gọi điện thoại cho bị cáo hẹn ra gặp tại quán cà phê bên cạnh nhà thờ X, quận G. Sau đó, C mượn xe máy biển số 59H1 – 169.62 của Nguyễn Thị Kim L1 (là vợ chưa đăng ký kết hôn) đi ra chỗ hẹn gặp H1. Tại đây, H1 đưa cho bị cáo số tiền 145.000.0000 đồng để đưa cho O mua ma túy tổng hợp (hàng đá) và sẽ cho bị cáo 5.000.000 đồng tiền công, H1 đã đưa trước cho bị cáo 3.000.000 đồng, còn lại 2.000.000 đồng sẽ đưa khi mua được ma túy đem về; ma túy mua được thì mang về khu vực chung cư K, quận G giao cho H1. Bị cáo nhận tiền mua ma túy của H1 rồi liên lạc với O hẹn gặp nhau tại khu vực công viên G, quận G. Sau đó, bị cáo chạy xe đến chỗ hẹn và chở O đi đến một quán cà phê gần khu vực cầu K, quận B. Tại quán cà phê, bị cáo mở cốp xe lấy số tiền 145.000.000 đồng đưa cho O. Sau đó có một thanh niên đi xe máy hiệu Airblade màu đen đến gặp và chở O đi đâu không rõ. Khoảng 10 phút sau, người thanh niên này chở O quay lại quán cà phê. Lúc này, người thanh niên bỏ đi, còn O đưa cho bị cáo một túi vải màu trắng in chữ GIVENCHY đựng một gói nylon màu vàng có in chữ GUANYINWANG được quấn băng keo bên ngoài, bên trong có 01 gói nylon chứa ma túy tổng hợp (hàng đá). Bị cáo nhận túi vải đựng ma túy cất giấu vào trong cốp xe máy rồi chở O đi về, khi đi đến khu vực gần cầu thang trên đường P, quận B thì O xuống xe đi đâu không rõ. Còn bị cáo tiếp tục đi xe máy đến chung cư K, quận G để giao ma túy cho H1, khi đến trước số A P, Phường A, quận G thì bị phát hiện bắt giữ cùng toàn bộ tang vật chứng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G đã mời Trần Thị Kiều O (sinh năm: 1991; chỗ ở: 2 N, Phường A, quận G) để làm việc do nghi vấn O có liên quan đến hành vi “Mua bán trái phép chất ma tuý” với bị cáo. Qua điều tra, O khai nhận có hẹn gặp bị cáo và T (không rõ lai lịch) tại cầu K, Phường B, quận B nhưng hẹn gặp để mua bán dâm chứ không mua bán ma tuý. Kết quả nhận dạng bị cáo xác nhận O đúng là người nhận tiền để bán ma tuý cho C nhưng kết quả đối chất giữa bị cáo và O thì O không thừa nhận hành vi mua bán trái phép chất ma tuý với bị cáo. Do chỉ có lời khai của bị cáo, kết quả xét nghiệm ma tuý O âm tính với ma tuý nên không có đủ căn cứ xác định O có hành vi mua bán trái phép chất ma tuý với bị cáo. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận G đã giải toả đối với O theo quy định. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra có thu giữ điện thoại của O và bị cáo và có lập biên bản kiểm tra cuộc gọi, tin nhắn đi đến giữa O và bị cáo. Cơ quan Cảnh sát điều (PC04), Công an Thành phố H đã nhiều lần có Công văn gửi Trung tâm tính cước và thanh khoản – Tổng Công ty V để truy xuất nội dung cuộc gọi giữa O và bị cáo. Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có kết quả trả lời. Kiểm tra cuộc gọi và tin nhắn trong điện thoại của bị cáo và O nhưng do thời gian quá lâu nên không trích xuất được nội dung cuộc gọi giữa bị cáo và O. Kết quả xác minh Trần Thị Kiều O đã bán nhà đi khỏi địa phương nên không lấy được lời khai.

Đối với đối tượng tên H1, Cơ quan điều tra đã trích xuất hình ảnh thẻ nhớ trong đầu thu camera thu tại nơi ở của bị cáo tại số C Q, Phường A, quận G cho bị cáo nhận dạng nhưng do bị cáo không khai rõ lai lịch địa chỉ của H1, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H không có căn cứ để xác minh làm rõ để xử lý.

Đối với hành vi tàng trữ khẩu súng ngắn và 10 viên đạn, bị cáo khai khẩu súng và đạn thu được nói trên là của bị cáo mua trên mạng xã hội, mục đích để khoe với bạn bè và làm kỉ niệm. Do bị cáo sợ bạn gái phát hiện nên bỏ vào cốp xe, do mua đã lâu nên không nhớ giá và mua vào thời gian nào. Do hành vi không cấu thành tội phạm nên không có cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan điều tra đã chuyển súng, đạn và các tài liệu liên quan đến Công an quận G, Thành phố Hồ Chí Minh xử lý theo thẩm quyền.

Quá trình giải quyết đối với vụ án, ngày 27/5/2021, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đưa vụ án ra xét xử, tại Bản án sơ thẩm số 210/2021/HS-ST đã tuyên phạt tử hình đối với bị cáo, về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Sau đó bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại Bản án phúc thẩm số 553/2021/HS-PT ngày 21/12/2021 của Tòa án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tuyên hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm số 210/2021/HS-ST ngày 27/5/2021 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đối với bị cáo để điều tra lại. Lý do: Cần làm rõ động cơ, mục đích của bị cáo khai mua ma túy của đối tượng O là gì? Để từ đó xác định lời khai nào có căn cứ. Việc cơ quan tố tụng xác định nội dung vụ án chính là lời khai của bị cáo nhưng lại loại trừ trách nhiệm hình sự đối tượng O chỉ vì O không công nhận lời khai của bị cáo là sự thật. Bên cạnh đó, Cơ quan điều tra thu giữ điện thoại của O cũng như bị cáo nhưng chưa truy xuất nội dung cuộc gọi giữa bị cáo và O. Do bị cáo (bị tuyên án Tử hình) trong vụ án là nhân chứng duy nhất chứng minh hành vi phạm tội của O. Do đó việc hủy toàn bộ vụ án để điều tra lại để tránh bỏ lọt tội phạm và xác định rõ trình độ học vấn của bị cáo cũng như các chữ ký trong các văn bản tố tụng có phải của bị cáo hay người khác ký và viết hộ bị cáo.

Quá trình điều tra lại xác định được như sau: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên, xác nhận toàn bộ chữ ký và ghi họ tên trong tất cả các văn bản tố tụng trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử cấp sơ thẩm đều là của bị cáo ký và viết, gồm: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám xét, biên bản thu giữ đồ vật, tài liệu, biên bản niêm phong số ma túy thu giữ trong cốp xe mô tô mà bị cáo đang điều khiển, biên bản mở niêm phong ma túy để giám định, biên bản kiểm tra điện thoại, các biên bản ghi lời khai tại Cơ quan điều tra có ghi âm, ghi hình, biên bản hỏi cung tại Trại tạm giam Công an Thành phố H, các biên bản tống đạt lệnh tạm giam, quyết định khởi tố bị can, bản kết luận điều tra.....Do bị cáo khai không biết chữ nên quá trình điều tra lại, Cơ quan điều tra đã mời phạm nhân trại tạm giam Công an Thành phố H đọc lại biên bản hỏi cung cho bị cáo xác nhận và điểm chỉ, có Luật sư chỉ định thuộc Đoàn luật sư Thành phố H tham gia.

Đối với hành vi của đối tượng Trần Thị Kiều O, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng cần truy xuất cuộc gọi giữa bị cáo và O. Và hủy để làm rõ rõ động cơ, mục đích của bị cáo khai mua ma túy của O làm gì, để từ đó xác định lời khai nào có căn cứ. Hay cho rằng chưa trích xuất cuộc gọi giữa bị cáo, O và cho rằng bị cáo là nhân chứng duy nhất chứng minh hành vi phạm tội của O nên cần hủy điều tra lại để tránh bỏ lọt tội phạm. Cơ quan điều tra đã điều tra, tuy nhiên không thể trích xuất cuộc gọi giữa O và bị cáo từ điện thoại di động. Do chỉ có duy nhất lời khai của bị cáo, ngoài ra không còn chứng cứ nào khác chứng minh O có hành vi mua bán trái phép chất ma túy cùng với bị cáo. Do đó, chưa đủ căn cứ khởi tố để xử lý đối với Trần Thị Kiều O.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 533/2023/HS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, quyết định:

  1. - Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 40 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
  2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đại C tử hình về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Bị cáo bị tạm giam ngày 14/5/2020. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
  3. Ngoài ra, Án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 17/11/2023 bị cáo Nguyễn Đại C có đơn kháng cáo yêu cầu được giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

  • - Bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, bị cáo và người bào chữa yêu cầu xem xét giảm án cho bị cáo vì hình phạt tử hình đối với bị cáo là nghiêm khắc, trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, số ma tuý bị thu hồi nên chưa phát tán ra xã hội, gia đình bị cáo không còn ai do cha mẹ anh em đều chết.
  • - Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Bị cáo Nguyễn Đại C và đối tượng tên H1 (chưa rõ lai lịch) có quen biết nhau, bị cáo nhiều lần mua ma tuý từ H1 để sử dụng. Khoảng 17 giờ ngày 13/5/2020, đối tượng H1 gọi điện thoại kêu bị cáo mang 145.000.000₫ đi mua ma tuý giúp H1 và Hoàng hứa cho tiền công là 5.000.000đ. Vào lúc 00 giờ 30 phút ngày 14/5/2020, tại trước địa chỉ số A P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, khi bị mang ma túy về giao cho H1 thì bị phát hiện, bắt quả tang cùng toàn bộ số ma túy có khối lượng qua giám định là 992,95 gam, loại Methamphetamine là có xảy ra trên thực tế nên Bản án sơ thẩm áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma tuý là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[2]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Khi quyết định hình phạt cho bị cáo, cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng như bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo bị truy tố và xét xử với khối lượng ma tuý lên đến 992,95 gam, loại Methamphetamine, bị cáo đã từng bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và có 01 tiền sự về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” nên án sơ thẩm xử phạt bị cáo hình phạt Tử hình là không nặng. Bị cáo kháng cáo yêu cầu giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới so với án sơ thẩm nên không có căn cứ giảm án cho bị cáo mà cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là giữ nguyên án sơ thẩm.

[3]. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

[4]. Trong vụ án này, bị cáo xác định có cùng Trần Thị Kiều O mua ma tuý cho H1, Toà án nhân dân cấp cao đã huỷ án sơ thẩm điều tra việc O có tham gia mua ma tuý cùng bị cáo như lời khai nhận của bị cáo hay không nhưng quá trình điều tra không thể trích xuất cuộc gọi giữa O và bị cáo từ điện thoại di động; không trích xuất được camera và O không thừa nhận hành vi mua tuý cùng bị cáo. Do chỉ có duy nhất lời khai của bị cáo nên chưa đủ căn cứ khởi tố để xử lý đối với Trần Thị Kiều O.

[5]. Các phần khác của Bản án sơ thẩm về xử lý vật chứng, án phí không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực thi hành kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo yêu giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Nguyễn Đại C. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 533/2023/HS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Tuyên xử:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đại C, phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  2. Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 40 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Nguyễn Đại C, Tử hình. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/5/2020. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền làm đơn gửi Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam xin ân giảm án tử hình.
  3. Về án phí phúc thẩm: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Đại C phải chịu 200.000 đồng.
  4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

CÁC THẨM PHÁN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Thuý Cầu Cao Văn Tám
Nguyễn Thị Thanh

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi giờ phút, ngày 25 tháng 8 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Tám
Các Thẩm phán: Ông Phạm Công Mười
Ông Hoàng Minh Thịnh

Tiến hành nghị án vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 281/2023/TLPT – HS ngày 26 tháng 4 năm 2023, đối với bị cáo Phan Văn Đ và bị cáo Đoàn Quang N

Đã bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma tuý.

Do có kháng cáo của các bị cáo.

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

Hội đồng xét xử phúc thẩm thảo luận, biểu quyết thống nhất ý kiến 3/3 như sau:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo yêu giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Phạm Văn Đ1 và bị cáo Đoàn Quang N. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 105/2023/HS-ST ngày 17 tháng 3 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Tuyên xử:

  1. Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Đ1 và bị cáo Đoàn Quang N, phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
  2. Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 40 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ1, Tử hình về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/01/2021. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án. Trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo Phạm Văn Đ1 có quyền làm đơn gửi Chủ tịch nước xin ân giảm án tử hình.
  3. Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 39 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Đoàn Quang N, tù Chung thân về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 26/01/2021.
  4. Về án phí phúc thẩm: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Mỗi bị cáo Phạm Văn Đ1 và bị cáo Đoàn Quang N phải chịu 200.000 đồng.
  5. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nghị án kết thúc sau 30 phút cùng ngày.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.

Nơi nhận:

  • - Vụ I - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - Cục THADS TP. Hồ Chí Minh;
  • - Công an TP. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh;
  • - Trại tạm giam TP. Hồ Chí Minh;
  • - Trại tạm giam TP. Hồ Chí Minh;
  • (Tống đạt cho bị cáo)
  • - Lưu: HS, VP, 17bTNB.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Văn Tám

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 301/2024/HS-PT ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 301/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đại C Phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger