Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 301/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 08 – 5 – 2024

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Thắng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Thái Thục Hiền.
  2. Bà Nguyễn Thị Kính.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Phương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Vân – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 807/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/4/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1985.
  2. Địa chỉ thường trú: Số A M, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ tạm trú: Tổ B, ấp T, xã M, huyện C, tỉnh Long An (xin vắng mặt)

  3. Bị đơn: Ông Trần Minh P, sinh năm 1968.
  4. Địa chỉ: Số A M, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (xin vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:

Bà Nguyễn Thị T và ông Trần Minh P kết hôn vào năm 2004 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 105, đăng ký ngày 02/06/2004 tại Ủy ban nhân dân Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Sau khi kết hôn, ông bà sinh sống tại địa chỉ: Số A đường M, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Sau khi chung sống được một thời gian thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do không hợp nhau, thường xuyên tranh cãi, bất đồng quan điểm sống. Ông bà đã sống ly thân từ tháng 5 năm 2021.

Nay nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, mặc dù đã cố gắng hoà giải, hàn gắn nhiều lần nhưng không thành nên bà T yêu cầu Toà án giải quyết:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu ly hôn với ông Trần Minh P.
  • - Về con chung: Bà T và ông P có bốn người con chung là: Trần Thị Mỹ P1 (giới tính: nữ; sinh ngày 24/8/2004; đã thành niên), Trần Mỹ D (giới tính: Nữ; sinh ngày 23/6/2006), Trần Ngọc Thảo N (giới tính: nữ; sinh ngày 03/02/2014), Trần Ngọc Bảo N1 (giới tính: Nữ; sinh ngày 18/5/2016). Sau khi ly hôn, bà Nguyễn Thị T yêu cầu được tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ Trần Ngọc Bảo N1, ông Trần Minh P sẽ tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ Trần Thị Mỹ P1, trẻ Trần Mỹ D, trẻ Trần Ngọc Thảo N. Việc cấp dưỡng hai bên tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
  • - Về tài sản chung: Bà T và ông P tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về nợ chung: Bà T xác nhận không có. Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Vì lý do bận công việc nên bà xin được vắng mặt tại các phiên làm việc, phiên họp, phiên xét xử của Toà án nhân dân Quận 8.

T cam kết việc ly hôn của bà và ông P không nhằm trốn tránh bất kỳ nghĩa vụ nào và bà chỉ nộp đơn khởi kiện ly hôn tại Toà án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo bản tự khai cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, bị đơn ông Trần Minh P trình bày:

Ông thống nhất với lời trình bày của bà T về quan hệ hôn nhân, con chung, nợ chung, tài sản chung.

Do quan điểm sống khác biệt, thường xuyên cải vã không hoà giải được nên vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ năm 2022. Tuy nhiên, ông vẫn còn tình cảm với bà T và không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Ông bà có 04 người con chung như bà T trình bày, trong trường hợp ly hôn ông đề nghị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng 04 người con chung cho đến khi thành niên, không yêu cầu bà T cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung: Ông bà tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ chung: Ông bà không có nợ chung. Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Vì lý do bận công việc buôn bán nên ông P xin được vắng mặt trong các phiên làm việc, phiên họp, phiên xét xử của Toà án nhân dân Quận 8.

Tại phiên toà sơ thẩm,

  • - Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
  • - Bị đơn ông Trần Minh P có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8 phát biểu ý kiến:

Về tố tụng:

  • + Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà trong quá trình giải quyết vụ án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • + Nguyên đơn, Bị đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ các quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Nguyên đơn, bị đơn đã cung cấp đầy đủ lời khai cùng các tài liệu, chứng cứ cho Toà án và có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt.

Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyễn Thị T nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Trần Minh P, đây là tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Bị đơn là ông Trần Minh P cư trú tại Quận H nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8 theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Xét yêu cầu của các đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:

Nguyễn Thị T và ông Trần Minh P tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 105 ngày 02 tháng 06 năm 2004. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8, Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

[3.1] Về quan hệ hôn nhân:

Căn cứ lời khai của nguyên đơn, bị đơn cùng các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án nhận thấy giữa bà Nguyễn Thị T và ông Trần Minh P chỉ ràng buộc về mặt pháp lý, thực tế cả hai đã sống ly thân từ lâu.

Ông Trần Minh P khai vẫn còn tình cảm với bà T và không muốn ly hôn, tuy nhiên cả hai đều thừa nhận ông bà có quan điểm sống khác biệt, thường xuyên cải vã, đã nhiều lần hoà giải, hàn gắn nhưng không được, mục đích hôn nhân không đạt được.

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị T đối với ông Trần Minh P.

[3.2] Về con chung:

Căn cứ Bản sao Giấy khai sinh số 196, quyển số 01/2004 đăng ký ngày 27/8/2004 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Long An; Bản sao Giấy khai sinh số 232, quyển số 02/2006 đăng ký ngày 07/7/2006 tại Ủy ban nhân dân Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Bản sao Giấy khai sinh số 45, quyển số 01/2014 đăng ký ngày 13/02/2014 tại Ủy ban nhân dân Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Bản sao Trích lục khai sinh số 171/TLKS-BS ngày 23/6/2016 của Ủy ban nhân dân Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh cùng lời khai của nguyên đơn, bị đơn có đủ cơ sở xác định bà Nguyễn Thị T và ông Trần Minh P có bốn người con chung là: Trần Thị Mỹ P1 (giới tính: nữ; sinh ngày 24/8/2004; đã trưởng thành), Trần Mỹ D (giới tính: Nữ; sinh ngày 23/6/2006), Trần Ngọc Thảo N (giới tính: nữ; sinh ngày 03/02/2014), Trần Ngọc Bảo N1 (giới tính: Nữ; sinh ngày 18/5/2016).

Từ thời điểm ly thân đến nay, trẻ Trần Ngọc Bảo N1 ở chung với bà T, các trẻ Trần Thị Mỹ P1 (đã thành niên), Trần Mỹ DTrần Ngọc Thảo N ở chung với ông P. Sau khi ly hôn, bà T đồng ý giao con chung là trẻ Trần Mỹ DTrần Ngọc Thảo N cho ông P tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi thành niên, bà T yêu cầu tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ Trần Ngọc Bảo N1 cho đến khi thành niên, hai bên không yêu cầu cấp dưỡng cho con.

Hội đồng xét xử xét thấy, trẻ Trần Ngọc Bảo N1 có nguyện vọng sống với mẹ và hiện nay trẻ đang sống với mẹ. Mặc dù, cả bà T và ông P đều có đủ điều kiện về kinh tế, tài chính để nuôi con và đều quan tâm, yêu thương con chung. Tuy nhiên, việc thay đổi môi trường sống, người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ sẽ ảnh hưởng đến tâm lý, ảnh hưởng đến sự phát triển ổn định về thể chất lẫn tinh thần của trẻ.

Do đó, yêu cầu tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ Trần Ngọc Bảo N1 sau khi ly hôn của bà T cho đến khi thành niên là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 và đảm bảo quyền, lợi ích cho trẻ N1 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

T, ông P thoả thuận thống nhất sau khi ly hôn giao con chung là trẻ Trần Mỹ DTrần Ngọc Thảo N cho ông P tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi thành niên là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[3.3] Về cấp dưỡng cho con:

Nguyễn Thị T, ông Trần Minh P tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3.4] Về tài sản chung:

Nguyễn Thị T, ông Trần Minh P tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3.5] Về nợ chung:

Nguyễn Thị T, ông Trần Minh P xác định không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

[4] Tại phiên toà, ý kiến phát biểu và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh phù hợp với tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Nguyễn Thị T phải chịu theo quy định tại khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 59, 81, 82, 83, 84 và 116 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014),

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị T ly hôn với ông Trần Minh P.

Giấy chứng nhận kết hôn số 105, do Ủy ban nhân dân Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 02 tháng 06 năm 2004.

1.2. Về con chung và cấp dưỡng cho con:

Sau khi ly hôn, giao con chung Trần Ngọc Bảo N1 (giới tính: Nữ; sinh ngày 18/5/2016) cho bà Nguyễn Thị T tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao con chung Trần Mỹ D (giới tính: Nữ; sinh ngày 23/6/2006) và Trần Ngọc Thảo N (giới tính: nữ; sinh ngày 03/02/2014) cho ông Trần Minh P tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng cho con hai bên tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Nguyễn Thị T, ông Trần Minh P có quyền và nghĩa vụ đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng cho con. Nếu có yêu cầu các đương sự sẽ yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác.

1.3. Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị T, ông Trần Minh P tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

1.4. Về nợ chung: Bà Nguyễn Thị T, ông Trần Minh P xác định không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.

2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng bà Nguyễn Thị T phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số AA/2023/0036156 ngày 18/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Thị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

4. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị T, ông Trần Minh P có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND Quận 8, TP.HCM;
  • - Chi cục THADS Quận 8, TP.HCM;
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VP, Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Xuân Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 301/2024/HNGĐ-ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 301/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger