Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 301/2024/HC-PT

Ngày: 17 - 4 - 2024

V/v khiếu kiện quyết định hành chính

trong lĩnh vực quản lý đất đai

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Công Mười

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Hùng

Ông Cao Văn Tám

- Thư ký phiên tòa: Bà Ức Minh Thanh Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân

cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Thông - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 887/2023/TLPT-HC ngày 20 tháng 11 năm 2023 về “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”

Do Bản án hành chính sơ thẩm số: 69/2023/HC-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.

  1. Người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1962; nơi cư trú: ấp D, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt)
  2. Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Ông Trần Văn T, sinh năm 1985; nơi cư trú: số G Đ, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt)

  3. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Nai; Trụ sở: Khu trung tâm hành chính huyện C, khu phố S, thị trấn L, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
  4. Người đại diện theo pháp luật của người bị kiện: Ông Huỳnh Tấn T1 - Chủ tịch UBND huyện C

    Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện: Ông Lê Văn T2 – Phó Chủ tịch UBND huyện C (có văn bản xin xét xử vắng mặt)

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị kiện:

    2.1. Ông Nguyễn Thanh K – Phó Trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện C (có mặt)

    2.2. Ông Lê Ngọc T3 – Giám đốc Trung tâm phát triển quỹ đất huyện C (có mặt)

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Trương Thị Ánh T4, sinh năm 1966; nơi cư trú: ấp D, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
    2. Người đại diện theo ủy quyền của bà T4: Ông Trần Văn T, sinh năm 1985; nơi cư trú: số G Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt)

    3. Chị Nguyễn Thị Thu N, sinh năm 1993; nơi cư trú: ấp D, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai (có mặt)
    4. Chị Nguyễn Thị Thu N1, sinh năm 1996; nơi cư trú: ấp D, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt)
    5. Chị Nguyễn Thị Thu Q, sinh năm 2003; nơi cư trú: ấp D, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai (có mặt)
    6. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ.
    7. Người đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ: Ông Huỳnh Văn L – Phó trưởng Phòng Quy hoạch, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ (vắng mặt)

    8. Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Đồng Nai.
    9. Người đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C: Ông Lê Văn T2 – Phó Chủ tịch UBND huyện C, tỉnh Đồng Nai (có văn bản xin xét xử vắng mặt)

  6. Người có kháng cáo: người khởi kiện ông Nguyễn Văn H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, người khởi kiện ông Nguyễn Văn H và người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện ông Trần Văn T trình bày:

Yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tuyên hủy các Quyết định hành chính sau đây:

  • Quyết định số: 1014/QĐ-UBND ngày 25/12/2019 của UBND huyện C về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư do thu hồi đất để thực hiện Dự án thành phần đầu tư xây dựng đoạn P- D thuộc dự án xây dựng một số đoạn đường cao tốc trên tuyến Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2017 - 2020, đoạn qua địa bàn xã S, huyện C (Gọi tắt là “Quyết định bồi thường, hỗ trợ số 1014");
  • Quyết định số: 246/QĐ-UBND ngày 14/07/2020 của UBND huyện C về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất để thực hiện Dự án thành phần đầu tư xây dựng đoạn P- D thuộc dự án xây dựng một số đoạn đường cao tốc trên tuyến Bắc- N phía Đông giai đoạn 2017-2020, đoạn qua địa bàn xã S, huyện C (Gọi tắt là “Quyết định bồi thường, hỗ trợ số 246”);
  • Quyết định số: 3280/QĐ-UBND ngày 14/12/2021 của UBND huyện C về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ bổ sung do thu hồi đất để thực hiện Dự án thành phần đầu tư xây dựng đoạn P- D thuộc dự án xây dựng một số đoạn đường cao tốc trên tuyến Bắc- N phía Đông giai đoạn 2017-2020, đoạn qua địa bàn xã S, huyện C (Gọi tắt là “Quyết định bồi thường, hỗ trợ bổ sung số 3280");
  • Quyết định số: 105/QĐ-UBND ngày 15/03/2022 của UBND huyện C về việc phê duyệt kinh phí bồi thường bổ sung Dự án thành phần đầu tư xây dựng đường C- D thuộc dự án xây dựng một số đoạn đường cao tốc trên tuyến Bắc- N phía Đông giai đoạn 2017-2020, đoạn qua địa bàn xã S, huyện C (Gọi tắt là “Quyết định bồi thường, hỗ trợ bổ sung số 105”);
  • Quyết định số: 330/QĐ-UBND ngày 27/04/2022 của UBND huyện C về việc phê duyệt kinh phí bồi thường bổ sung Dự án thành phần đầu tư xây dựng đường C- D thuộc dự án xây dựng một số đoạn đường cao tốc trên tuyến Bắc- N phía Đông giai đoạn 2017-2020, đoạn qua địa bàn xã S, huyện C (Gọi tắt là “Quyết định bồi thường bổ sung số 330”).

Lý do yêu cầu hủy các Quyết định hành chính trên là:

Thứ nhất là việc thu hồi đất, bồi thường đất không đúng thời hạn luật định gây thiệt hại cho ông H và bà T4, theo quy định tại Điều 67 Luật đất đai.

Thứ hai là việc xác định vị trí đất để áp giá bồi thường không đúng, gây thiệt hại cho ông H và bà T4.

Các căn cứ khởi kiện:

Tóm tắt quá trình ban hành quyết định hành chính: Ngày 15/10/2019, UBND huyện C ban hành thông báo số 336/TB- UBND về việc thu hồi đất của ông Nguyễn Văn H và bà Trương Thị Ánh T4 để thực hiện dự án cao tốc P - D. Theo thông báo này thì ông H và bà T4 bị thu hồi thửa đất 44, tờ bản đồ số 14, bản đồ địa chính xã S; loại đất thu hồi là đất ở và đất trồng cây lâu năm với diện tích dự kiến thu hồi khoảng 13.380,7m².

Ngày 25/12/2019, UBND huyện C đã ban hành quyết định thu hồi đất số 903/QĐ-UBND thu hồi của vợ chồng ông Nguyễn Văn H diện tích đất là 196,1 m² đất nuôi trồng thủy sản, thuộc thửa đất số 30, tờ bản đồ số 14, bản đồ địa chính xã S. Cùng ngày 25/12/2019, UBND huyện C ban hành quyết định thu hồi đất số 904/QĐ-UBND để thu hồi đất của vợ chồng ông Nguyễn Văn H với diện tích 13.380,7 m², gồm 300m² đất ở và 13.080,7 m² đất trồng cây lâu năm.

Cùng ngày 25/12/2019, UBND huyện C đã ban hành Quyết định bồi thường, hỗ trợ số 1014. Nội dung quyết định này, UBND huyện C xác định tổng số tiền bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi 13.576,8 m² quyền sử dụng đất (bao gồm: 196,1 m² đất nuôi trồng thủy sản thuộc thửa đất 30, tờ bản đồ 14 và 13.080,7 m² đất nông nghiệp trồng cây lâu năm, 300 m² đất ở thuộc thửa đất số 44, tờ bản đồ 14) là 6.394.983.772 đồng.

Ngày 29/12/2019, ông Nguyễn Văn H đã khiếu nại toàn bộ nội dung Quyết định bồi thường, hỗ trợ số 1014 vì cho rằng việc bồi thường, hỗ trợ là quá thấp và không thỏa đáng.

Ngày 11/06/2020, Chủ tịch UBND huyện C ban hành quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 425/QĐ-UBND. Nội dung của quyết định giải quyết khiếu nại này, công nhận một phần nội dung khiếu nại của ông Nguyễn Văn H, chấp thuận bồi thường vị trí đất ở từ vị trí 4 thành vị trí 2, còn các nội dung khiếu nại khác không được chấp nhận.

Ngày 14/7/2020, UBND huyện C tiếp tục ban hành Quyết định bồi thường, hỗ trợ số 246, phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ thêm cho ông Nguyễn Văn H số tiền 53.031.920 đồng.

Ngày 14/12/2021, UBND huyện C tiếp tục ban hành Quyết định bồi thường, hỗ trợ bổ sung số 3280, phê duyệt kinh phí hỗ trợ thêm cho ông H số tiền 15.000.000 đồng.

Ngày 15/03/2022, UBND huyện C tiếp tục ban hành Quyết định bồi thường, hỗ trợ bổ sung số 105, phê duyệt kinh phí hỗ trợ bổ sung cho ông Nguyễn Văn H số tiền 68.208.000 đồng. Nội dung quyết định này nêu là hỗ trợ khác theo Điều 25 Nghị định 47/2014/NĐ-CP nhưng thực tế Bảng chiết tính giá trị hỗ trợ đính kèm theo Quyết định này là hỗ trợ việc làm và chuyển đổi nghề nghiệp. Do đó thực chất Quyết định bồi thường, hỗ trợ bổ sung số 105 là một phần bổ sung của Quyết định bồi thường, hỗ trợ số 1014.

Ngày 27/04/2022, UBND huyện C ban hành Quyết định bồi thường bổ sung số 330, phê duyệt kinh phí bồi thường bổ sung do thay đổi vị trí đất ở từ vị trí 4 thành vị trí số 2 với số tiền bồi thường tăng thêm là: 144.300.000 đồng (có kèm theo bảng chiết tính giá trị bồi thường bổ sung). Quyết định này là quyết định sửa chữa sai trái của Quyết định bồi thường, hỗ trợ số 1014 đã bị ông H khiếu nại trước đó.

Ông Nguyễn Văn H cũng đã nhiều lần khiếu nại và đã được giải quyết khiếu nại nhưng chưa thỏa đáng.

Lý do khởi kiện:

Các quyết định hành chính liên quan đến việc bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất của UBND huyện C là không thỏa đáng, không đúng luật định, gây thiệt hại cho ông Nguyễn Văn H, Cụ thể:

Vi phạm do thu hồi đất, bồi thường đất không đúng thời hạn luật định gây thiệt hại cho ông H:

Thông báo thu hồi đất của UBND huyện C được ban hành vào ngày 15/10/2019 căn cứ theo Thông báo thu hồi đất số: 336/TB-UBND ngày 15/10/2019, nhưng ngày 25/12/2019, UBND huyện C đã ban hành quyết định thu hồi đất và áp giá bồi thường là trái quy định tại khoản 1, Điều 67 Luật đất đai thì thời hạn thông báo thu hồi đất được quy định như sau: “1. Trước khi có quyết định thu hồi đất, chậm nhất là 90 ngày đối với đất nông nghiệp và 180 ngày đối với đất phi nông nghiệp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải thông báo thu hồi đất cho người có đất thu hồi biết. Nội dung thông báo thu hồi đất bao gồm kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm”. Do UBND huyện C xác định thời điểm thu hồi đất trái luật, nên áp giá bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất của ông Nguyễn Văn H vào ngày 25/12/2019 áp dụng đơn giá đất năm 2019 có 30.000 đồng/m² để tính tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp là không đúng. Bởi nếu làm đúng thì UBND huyện C sẽ phải bồi thường, hỗ trợ cho ông H theo chính sách giá năm 2020 và ngày 31/12/2019, UBND tỉnh Đ ban hành Quyết định số 49/2019/QĐ-UBND về việc ban hành bảng giá đất tỉnh Đồng Nai 5 năm, giai đoạn 2020-2024 (có hiệu lực thi hành vào ngày 01/01/2020), thì khu vực đất của ông H, vị trí 4 có giá là 110.000 đồng/m², chứ không còn là 30.000 đồng/m² theo giá năm 2019. Như vậy, với sai phạm này, UBND huyện C đã gây thiệt hại cho gia đình ông H đối với tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp là: (13.276,8 x 110.000 x 2) - (13.276,8 x 30.000 x 2) = 2.124.288.000 đồng.

Ngày 15/03/2022, UBND huyện C đã ban hành Quyết định bồi thường, hỗ trợ bổ sung số 105 khắc phục bổ sung số tiền 93.786.000 đồng, như vậy thiệt hại hiện tại của gia đình ông H đối với tiền hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp là 2.124.288.000 đồng - 93.786.000 đồng = 2.030.502.000 đồng.

Bồi thường không đúng vị trí đất: Thửa đất số 44, tờ bản đồ số 14 của gia đình ông Nguyễn Văn H thuộc vị trí 2, không phải vị trí 4 nhưng khi áp giá bồi thường lại xác định đất của gia đình ông H là vị trí 4 là không đúng. Việc xác định sai vị trí khi bồi thường đã gây thiệt hại cho gia đình ông H vì đất vị trí 2 cao hơn nhiều lần so với vị trí 4.

Hiện tại dự án thành phần đầu tư xây dựng đoạn P - D thuộc dự án đầu tư xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc - N phía Đông giai đoạn 2017-2020 đã hoàn thành thi công và đưa vào vận hành, nên việc hủy các Quyết định hành chính nêu trên không ảnh hưởng gì đến tiến độ của dự án, việc hủy các Quyết định hành chính nêu trên nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật và để UBND huyện C khắc phục các thiệt hại gây ra cho ông Nguyễn Văn H.

* Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện UBND huyện C; Chủ tịch UBND huyện C trình bày:

Thửa đất số 30, tờ bản đồ số 14, bản đồ địa chính xã S, diện tích 196,1m² đất nuôi trồng thủy sản (thuộc một phần thửa đất số 364, tờ bản đồ số 02(cũ). Nguồn gốc: Thửa đất số 364, tờ bản đồ số 02 diện tích 1.480m² được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số K447280 ngày 24/6/1997 cho ông Hoàng Văn Q1. Năm 2011 khi đo đạc lại bản đồ mới thì thửa 364, tờ bản đồ số 02 được tách thành thửa 29, 30 tờ bản đồ số 14. Trong đó, thửa số 29, tờ bản đồ số 14 do ông Hoàng Văn Q1 sử dụng, thửa số 30 tờ bản đồ số 14 do ông Nguyễn Văn H sử dụng có diện tích 425,5m² mục đích sử dụng: đất nuôi trồng thủy sản chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Thửa đất số 44, tờ bản đồ số 14, bản đồ địa chính xã S, diện tích 16.565,9m², gồm 600m² đất ở tại nông thôn, 15.965m² đất trồng cây lâu năm đã được UBND huyện C cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 15/7/2014 cho ông Nguyễn Văn H và bà Trương Thị Ánh T4.

Để thực hiện dự án đường C - D, ngày 25/12/2019 UBND huyện C ban hành Quyết định số 903, 904/QĐ-UBND về việc thu hồi đất để thực hiện dự án thành phần đầu tư xây dựng đoạn P - D thuộc dự án đầu tư xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc - N phía Đông giai đoạn 2017-2020, đoạn qua địa bàn xã S, huyện C. Trong đó thu hồi 196,1m² đất nuôi trồng thủy sản thuộc thửa số 30, tờ bản đồ số 14 và thu hồi 13.380,7m² gồm 300m² đất ở và 13.080,7m² đất trồng cây lâu năm thuộc thửa số 44, tờ bản đồ số 14 thuộc xã S của ông Nguyễn Văn H và bà Trương Thị Ánh T4.

Ông Nguyễn Văn H khiếu nại Quyết định số 1014/QĐ-UBND ngày 25/12/2019 của UBND huyện C, về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư do thu hồi đất để thực hiện dự án thành phần đầu tư xây dựng đoạn P - D thuộc dự án đầu tư xây dựng một số đoạn đường bộ Cao tốc trên tuyến Bắc - N phía Đông giai đoạn 2017-2020, đoạn qua địa bàn xã S, huyện C với nội dung sau:

  • Giá bồi thường đất thấp hơn giá thị trường. Yêu cầu bồi thường về đất 700 triệu đồng/sào.
  • Giá đền bù 975.000 đồng/cây chôm chôm, 2.100.000 đồng/cây sầu riêng là quá thấp. Yêu cầu bồi thường cây chôm chôm 2-3 triệu đồng/cây, bồi thường cây sầu riêng 3-5 triệu đồng/cây.
  • Đất cùng trên một đường nhưng tại huyện C áp giá đất thổ cư vị trí 4 nhưng huyện T áp giá vị trí 2. Yêu cầu bồi thường đất thổ cư vị trí 2 như huyện T.
  • Gia đình bị thu hồi trên 70% tổng số đất nhưng không được hưởng hỗ trợ bảo hiểm y tế. Yêu cầu hỗ trợ tiền bảo hiểm y tế cho mỗi nhân khẩu trong hộ.

Về nội dung khiếu nại: “Đất cùng trên một đường nhưng tại huyện C áp giá đất thổ cư vị trí 4 nhưng huyện T áp giá vị trí 2. Yêu cầu bồi thường đất thổ cư vị trí 2 như huyện T”

Căn cứ tại điểm d khoản 2 Điều 7 của Quy định ban hành kèm theo Quyết định 64/2014/QĐ-UBND ngày 22/12/2014 của UBND tỉnh Đ quy định:

Theo văn bản số 680/VPĐK ngày 25/5/2020 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh C xác nhận: diện tích đất ở tại thửa đất số 44, tờ bản đồ số 14 của ông Nguyễn Văn H tiếp giáp mặt tiền đường đất tính từ vị trí thửa đất đến đường L - Sông N có độ rộng hẹp nhất lớn hơn 3m, cách đường L- Sông Nhạn khoảng 265m đủ điều kiện để được bồi thường đất ở vị trí 2. Tuy nhiên, theo bảng chiết tính giá trị bồi thường của ông Nguyễn Văn H thì phần diện tích đất ở bị thu hồi được áp giá bồi thường là vị trí 4. Vì vậy, việc ông Nguyễn Văn H khiếu nại yêu cầu bồi thường đất thổ cư vị trí 2 là có cơ sở để xem xét giải quyết.

Về nội dung: “Giá bồi thường đất thấp hơn giá thị trường. Yêu cầu bồi thường về đất 700 triệu đồng/sào:”

Căn cứ khoản 1, khoản 2 Điều 74 Luật Đất đai 2013, quy định về Nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất: “Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường; Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất”.

Căn cứ khoản 3, điểm đ khoản 4 Điều 114 Luật Đất Đai 2013. UBND cấp tỉnh quyết định giá đất cụ thể để tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.

Ngày 05/12/2019, UBND tỉnh Đ ban hành quyết định số 3960/QĐ-UBND, về việc phê duyệt giá đất để tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án thành phần đầu tư xây dựng đoạn P - D thuộc dự án đầu tư xây dựng một số đoạn đường bộ Cao tốc trên tuyến Bắc - N phía Đông giai đoạn 2017-2020, đoạn qua địa bàn huyện C. Trong đó phê duyệt giá bồi thường đất ở vị trí 4 đoạn từ giáp ranh trụ sở UBND xã S đến giáp ranh huyện T là 871.000/m²; giá đất bồi thường đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản xã S vị trí 4 là 325.000đ/m².

Căn cứ vào các quy định trên, UBND huyện C ban hành quyết định phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ đất ở vị trí 4 với giá 871.000 đồng/m² và đất trồng cây lâu năm (đất nuôi trồng thủy sản) vị trí 4 với giá 325.000đ/m² là đúng quy định. Tuy nhiên, do có sự sai sót trong việc xác định vị trí đất ở nông thôn nên trường hợp ông Nguyễn Văn H sẽ được xem xét lại phần bồi thường giá đất ở nông thôn cho phù hợp với vị trí đất.

Việc ông Nguyễn Văn H yêu cầu bồi thường về đất 700 triệu đồng/sào là không có căn cứ.

Về nội dung: “Giá đền bù 975.000 đồng/cây chôm chôm, 2.100.000 đồng/cây sầu riêng là quá thấp. Yêu cầu bồi thường cây chôm chôm 2-3 triệu đồng/cây, bồi thường cây sầu riêng 3-5 triệu đồng/cây”.

Theo biên bản kiểm kê về đất đai, thống kê nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất ngày 22/10/2019 của Trung tâm Phát triển quỹ đất huyện C thể hiện trên đất có:

  • Cây chôm chôm thái: 85 cây loại A, 21 cây loại 2B và 05 cây loại C;
  • Cây sầu riêng thái: 23 cây loại A; 03 cây loại B, 03 cây loại C.

Căn cứ quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Quyết định số 11/2019/QĐ-UBND ngày 15/03/2019 của UBND tỉnh Đ quy định về giá bồi thường, hỗ trợ tài sản khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai thì giá bồi thường đối với cây chôm chôm thái là 975.000đ/cây; sầu riêng thái là 2.100.000 đồng/cây. Việc UBND huyện bồi thường, hỗ trợ cây trồng đối với cây chôm chôm thái là 975.000đ/cây; sầu riêng thái là 2.100.000 đồng/cây của hộ ông Nguyễn Văn H là đúng quy định.

Ông Nguyễn Văn H khiếu nại yêu cầu bồi thường cây chôm chôm 2-3 triệu đồng/cây, bồi thường cây sầu riêng 3-5 triệu đồng/cây là không có căn cứ.

Về nội dung: “Gia đình bị thu hồi trên 70% tổng số đất nhưng không được hưởng hỗ trợ bảo hiểm y tế. Yêu cầu hỗ trợ tiền bảo hiểm y tế cho mỗi nhân khẩu trong hộ”.

Ngày 25/02/2020, đại diện các cơ quan gồm: Thanh tra huyện, Phòng T huyện, Trung tâm P triên quỹ đất huyện, Phòng Kinh tế và Hạ tầng huyện... đã trực tiếp đến hộ gia đình ông Nguyễn Văn H để xác định lại nội dung khiếu nại. Qua làm việc, sau khi nghe các đơn vị giải thích ông Hòa đồng ý rút lại nội dung khiếu nại yêu cầu hỗ trợ tiền bảo hiểm y tế cho mỗi nhân khẩu trong hộ và không có ý kiến thắc mắc về sau. Vì vậy, UBND huyện không xem xét giải quyết đối với nội dung này.

Ngày 11/6/2020, Chủ tịch UBND huyện ban hành Quyết định số 425/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) của ông Nguyễn Văn H là đúng trình tự thủ tục quy định.

Không đồng ý Quyết định số 425/QĐ-UBND ngày 11/6/2020 của Chủ tịch UBND huyện C về việc giải quyết khiếu nại. Ông Nguyễn Văn H đã khiếu nại lần 2 đến Chủ tịch UBND tỉnh Đ.

Sau khi xem xét nội dung đơn khiếu nại lần 2 của ông Nguyễn Văn H. Ngày 04/02/2021, Chủ tịch UBND tỉnh Đ đã ban hành Quyết định số 466/QĐ-UBND về việc không công nhận nội dung đơn khiếu nại (lần 2) của ông Nguyễn Văn H.

Đồng thời, để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người có đất bị thu hồi, UBND huyện C đã phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ bổ sung cho ông Nguyễn Văn H, cụ thể:

  • Ngày 14/7/2020 UBND huyện C đã ban hành Quyết định số 246/QĐ-UBND về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất đối với ông H là 53.031.920 đồng;
  • Ngày 14/12/2021 UBND huyện C đã ban hành Quyết định số 3280/QĐ-UBND về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ bổ sung do thu hồi đất đối với ông H là 15.000.000 đồng;
  • Ngày 15/3/2022 UBND huyện C đã ban hành Quyết định số 105/QĐ-UBND về việc phê duyệt kinh phí bồi thường bổ sung đối với ông H là 68.208.000 đồng;
  • Ngày 27/4/2022 UBND huyện C đã ban hành Quyết định số 330/QĐ-UBND về việc phê duyệt kinh phí bồi thường bổ sung do thu hồi đất đối với ông H 144.300.000 đồng;

Từ những nội dung nêu trên, UBND huyện C không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H.

* Chủ tịch UBND tỉnh Đ, do người đại diện theo ủy quyền ông Huỳnh Văn L trình bày:

Ngày 11/7/2016, UBND tỉnh Đ ban hành Thông báo số 5858/TB UBND về việc thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng đường C - P, tại các xã S, X, N, Xuân B, huyện C và xã H, thị xã L, tỉnh Đồng Nai.

Ngày 15/10/2019, UBND huyện C ban hành Thông báo số 336/TB-UBND về việc thu hồi đất của ông Nguyễn Văn H để thực hiện dự án thành phần đầu tư xây dựng đoạn P - D thuộc dự án đầu tư xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc - N phía đông giai đoạn 2017-2020, đoạn qua địa bàn xã S, huyện C,

Ngày 25/12/2019, UBND huyện C ban hành Quyết định số 903/QĐ-UBND; Quyết định số 904/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của ông Nguyễn Văn H; Quyết định số 1014/QĐ-UBND về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho ông Nguyễn Văn H để thực hiện dự án thành phần đầu tư xây dựng đoạn P - D thuộc dự án đầu tư xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc trên tuyến Bắc - N phía đông giai đoạn 2017-2020, đoạn qua địa bàn xã S, huyện C. Căn cứ khoản 2 Điều 67 Luật Đất đai năm 2013 thì "Trường hợp người sử dụng đất trong khu vực thu hồi đất đồng ý để cơ quan nhà nước có thẩm quyền thu hồi đất trước thời hạn quy định tại Khoản 1 Điều này thì Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi đất mà không phải chờ đến hết thời hạn thông báo thu hồi đất".

Ngày 05/12/2019, Trung tâm Phát triển Quỹ đất huyện C đã niêm yết công khai phương án (dự thảo) về bồi thường hỗ trợ và tái định cư tại Trụ sở UBND xã S và Trụ sở nhà văn hóa ấp D, xã S.

Ngày 07/12/2019, tại Trụ sở Nhà văn hóa xã S, Trung tâm phát triển Quỹ đất huyện C phối hợp UBND xã S tổ chức họp dân trực tiếp, công khai phương án bồi thường dự thảo và nhận ý kiến đóng góp của người có đất bị thu hồi. Buổi họp dân có ông Nguyễn Văn H tham gia và không có ý kiến góp ý gì về thời gian thực hiện thông báo thu hồi đất theo khoản 1, Điều 67 Luật Đất đai năm 2013. Đa số người dân trong khu vực có đất bị thu hồi chỉ có ý kiến về giá đất bồi thường, cây trồng và đề nghị sớm chi trả tiền bồi thường.

Như vậy, việc ban hành thông báo thu hồi đất đối với dự án trên đã được UBND tỉnh Đ ban hành Thông báo thu hồi đất số 5858/TB-UBND ngày 11/7/2016. Mặt khác, tại buổi họp dân công khai phương án bồi thường (dự thảo) đa số hộ dân có đất bị thu hồi thuộc dự án thống nhất và đề nghị sớm chi trả tiền bồi thường. Do vậy, việc UBND huyện C ban hành Quyết định thu hồi đất đối với ông Nguyễn Văn H là đúng quy định.

Căn cứ khoản 1 Điều 67 Luật Đất đai năm 2013 về thông báo thu hồi đất và chấp hành quyết định thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; căn cứ Điều 17 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 14/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013; căn cứ Thông báo thu hồi đất số 5858/TB - UBND ngày 11/7/2016 của UBND tỉnh Đ; UBND huyện C đã ban hành Quyết định số 903/QĐ-UBND và Quyết định số 904/QĐ-UBND về việc thu hồi đất của ông Nguyễn Văn H để thực hiện dự án. Việc ông Nguyễn Văn H khiếu nại thời hạn thông báo thu hồi đất của UBND huyện C vi phạm theo khoản 1 Điều 67 Luật Đất đai là không có căn cứ. Các Quyết định giải quyết khiếu nại số 425/QĐ-UBND ngày 11/6/2020 của Chủ tịch UBND huyện C và Quyết định số 466/QĐ-UBND ngày 04/02/2021 của Chủ tịch UBND tỉnh Đ là đúng quy định của pháp luật.

Do vậy, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị Ánh T4 do người đại diện là ông Trần Văn T trình bày:

Bà T4 là vợ của ông Nguyễn Văn H, bà T4 thống nhất với lời trình bày của ông Nguyễn Văn H. Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H.

* Bà Nguyễn Thị Thu N, bà Nguyễn Thị Thu N1, bà Nguyễn Thị Thu Q thống nhất trình bày:

Các bà là con của ông Nguyễn Văn H và bà Trương Thị Ánh T4, các bà thống nhất quyền sử dụng đất, tài sản trên đất bị thu hồi và tiền bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất là tài sản riêng của cha mẹ các bà, các bà không có quyền lợi hoặc nghĩa vụ gì đối với các tài sản này. Các bà không có ý kiến trong vụ án này và bà N, bà N1 xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

* Tại Bản án hành chính sơ thẩm số: 69/2023/HC-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, quyết định:

  • Căn cứ Điều 30, Điều 32, khoản 1 Điều 157, Điều 158, Điều 193, Điều 194 của Luật Tố tụng hành chính;
  • Căn cứ các Điều 66, 67, 69 của Luật Đất đai năm 2013; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013; các Điều 19, 20, 21 Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ; tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; các Điều 14, 15 của Quyết định 10/2018/QĐ-UBND ngày 22/02/2018 của UBND tỉnh Đ quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai; Quyết định số 41/2019/QĐ-UBND ngày 16 tháng 10 năm 2019 quy định về trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi thu hồi đất; Quyết định số 09/2019/QĐ-UBND ngày 11/3/2019 sửa đổi một số phụ lục Đơn giá xây dựng nhà ở để bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ban hành kèm theo Quyết định số 57/2014/QĐ-UBND ngày 20/11/2014 của UBND tỉnh Đ và Quyết định số 11/2019/QĐ-UBND ngày 15/3/2019 quy định về giá bồi thường, hỗ trợ tài sản khi thu hồi đất của UBND tỉnh Đ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí;

Tuyên xử:

Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H về việc yêu cầu hủy các Quyết định hành chính của UBND huyện C gồm:

  • Quyết định số: 1014/QĐ-UBND ngày 25/12/2019 của UBND huyện C về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư do thu hồi đất đối với ông Nguyễn Văn H.
  • Quyết định số: 246/QĐ-UBND ngày 14/07/2020 của UBND huyện C về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất đối với ông Nguyễn Văn H.
  • Quyết định số: 3280/QĐ-UBND ngày 14/12/2021 của UBND huyện C về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ bổ sung do thu hồi đất đối với ông Nguyễn Văn H.
  • Quyết định số: 105/QĐ-UBND ngày 15/03/2022 của UBND huyện C về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ bổ sung do thu hồi đất đối với ông Nguyễn Văn H.
  • Quyết định số: 330/QĐ-UBND ngày 27/04/2022 của UBND huyện C về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ bổ sung do thu hồi đất đối với ông Nguyễn Văn H.

Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định

* Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 25/9/2023, người khởi kiện ông Nguyễn Văn H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

* Tại phiên tòa phúc thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao phát biểu quan điểm như sau:

Quá trình thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ đối với hộ ông H đã được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Việc Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H là có căn cứ. Đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xét xử sơ thẩm, phía người khởi kiện ông Nguyễn Văn H kháng cáo bản án sơ thẩm. Xét yêu cầu kháng cáo này thấy rằng:

[1] Ngày 07/7/2011, Bộ G ban hành Quyết định số 1495/QĐ-BGTVT về việc phê duyệt đầu tư xây dựng đường C - D thí điểm theo hình thức đấu tác công tư (PPP); ngày 26/10/2012 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1597/QĐ-TTg về việc ban hành cơ chế quản lý và thực hiện dự án đầu tư, xây dựng đường C - D thí điểm theo hình thức đấu tác công tư (PPP).

Ngày 10/6/2016, UBND huyện C xây dựng Kế hoạch số 145/KH-UBND, Kế hoạch Thu hồi đất, điều tra, khảo sát, kiểm đếm để thực hiện dự án đầu tư xây dựng đường C - D (đoạn qua địa bàn huyện C); Báo cáo số 106/BC-UBND ngày 10/6/2016 về việc lập hồ sơ đề nghị ban hành thông báo thu hồi đất để thực hiện dự án đường C - D (đoạn qua địa bàn huyện C); Tờ trình số 42/TTr-UBND ngày 10/6/2016 về việc đề nghị phê duyệt Kế hoạch thu hồi đất, điều tra, khảo sát, kiểm đếm và ban hành thông báo thu hồi đất để thực hiện dự án đường C - D (đoạn qua địa bàn huyện C).

Ngày 11/7/2016, UBND tỉnh Đ ban hành Thông báo số 5858/TB-UBND về việc thu hồi đất để thực hiện Dự án đầu tư, xây dựng đường C - D đoạn qua địa bàn các xã S, X, N, Xuân B, huyện C và xã H, thị xã L, tỉnh Đồng Nai.

Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án đã thực hiện xong công tác kiểm kê hiện trạng sử dụng đất theo kế hoạch.

Dự án xây dựng đường cao tốc P - D có thay đổi quy mô từ 4 làn xe lên 6 làn xe và được Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư tại Nghị quyết số 52/2017/QH14 ngày 22/11/2017 và được Chính phủ thông qua việc triển khai Dự án tại Nghị quyết số 20/NQ-CP ngày 28/3/2018; Thủ tướng Chính phủ phê duyệt khung chính sách về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư tại Văn bản số 881/TTg-CN ngày 12/7/2018; Bộ G phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi Dự án thành phần tại Quyết định 2229/QĐ-BGTVT ngày 17/10/2018.

Tại văn bản số 11331/UBND-KTN 02/10/2019, UBND tỉnh Đ xác định hủy bỏ Thông báo số 5858/TB-UBND ngày 11/7/2016 là do cần phải thực hiện thông báo thu hồi đối với phần diện tích 02 làn xe bổ sung mới về thẩm quyền ban hành Thông báo thu hồi đất. Theo Điều 4 Mục 1 Quy định và do có quy định về việc phối hợp thực hiện công tác bồi thường hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai ban hành kèm theo Quyết định số 09/2018/QĐ - UBND ngày 22/02/2018 của UBND tỉnh Đ thì thẩm quyền ban hành Thông báo thu hồi đất tại thời điểm này là của UBND huyện C. Như vậy, Văn bản trên không có nội dung hủy bỏ việc thu hồi đất. Do đó, việc người khởi kiện cho rằng với việc hủy bỏ Thông báo số 5858/TB-UBND thì toàn bộ diện tích bị thu hồi năm 2019 đều vi phạm thời hạn thu hồi là không phù hợp.

Như vậy, khi chưa được sự đồng ý bằng văn bản của ông H thì việc ngày 25/12/2019 UBND huyện C ban hành các Quyết định thu hồi đất bao gồm cả diện tích đất tăng thêm là chưa đảm bảo thời hạn 90 ngày theo quy định tại khoản 1 Điều 67 Luật đất đai năm 2013 đối với diện tích đất bị thu hồi.

Ngày 25/12/2019 UBND huyện C đã ban hành Quyết định số 903/QĐ-UBND; số 904/QĐ-UBND về việc thu hồi 13.576,8m² đất tại xã S, huyện C đối với ông Nguyễn Văn H.

Ngày 25/12/2019 UBND huyện C đã ban hành Quyết định số 1014/QĐ-UBND về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư do thu hồi đất đối với ông H là 6.394.983.772 đồng;

Ngày 14/7/2020 UBND huyện C đã ban hành Quyết định số 246/QĐ-UBND về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất đối với ông H là 53.031.920 đồng;

Ngày 14/12/2021 UBND huyện C đã ban hành Quyết định số 3280/QĐ-UBND về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ bổ sung do thu hồi đất đối với ông H là 15.000.000 đồng;

Ngày 15/3/2022 UBND huyện C đã ban hành Quyết định số 105/QĐ-UBND về việc phê duyệt kinh phí bồi thường bổ sung đối với ông H là 68.208.000 đồng;

Ngày 27/4/2022 UBND huyện C đã ban hành Quyết định số 330/QĐ-UBND về việc phê duyệt kinh phí bồi thường bổ sung do thu hồi đất đối với ông H 144.300.000 đồng;

[2] Đánh giá tính hợp pháp của các Quyết định hành chính bị khởi kiện:

Về trình tự, thủ tục, căn cứ pháp lý:

Trên cơ sở kết quả kiểm đếm, xác nhận nguồn gốc đất của UBND xã S, UBND huyện C đã ban hành các Quyết định số: 1014/QĐ-UBND ngày 25/12/2019 về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư do thu hồi đất; Quyết định số: 246/QĐ-UBND ngày 14/07/2020 về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất; Quyết định số: 3280/QĐ-UBND ngày 14/12/2021 về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ bổ sung do thu hồi đất; Quyết định số: 105/QĐ-UBND ngày 15/03/2022 về việc phê duyệt kinh phí bồi thường bổ sung; Quyết định số: 330/QĐ-UBND ngày 27/04/2022 về việc phê duyệt kinh phí bồi thường bổ sung của UBND huyện C đối với ông Nguyễn Văn H là đúng trình tự thủ tục theo Điều 69 của Luật Đất đai năm 2013 và Quyết định số 53/2014/QĐ-UBND ngày 22/12/2014 của UBND tỉnh Đ.

Về nội dung:

Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của ông H, bà T4 đều xác nhận biên bản kiểm đếm đã ghi nhận đầy đủ chủng loại, số lượng công trình kiến trúc, cây trồng trên đất bị thu hồi. Tính đến thời điểm xét xử, ông H được UBND huyện C tính toán bồi thường hỗ trợ do thu hồi đất theo các Quyết định hành chính gồm:

Ngày 25/12/2019, UBND huyện C đã ban hành Quyết định số 1014/QĐ-UBND về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư do thu hồi đất đối với ông H là 6.394.983.772 đồng; Cụ thể: Giá trị bồi thường, hỗ trợ về đất: 4.576.260.000 đồng; Giá trị bồi thường, hỗ trợ nhà ở, vật kiến trúc: 531.416.396 đồng; Giá trị bồi thường, hỗ trợ về cây trồng: 414.499.376 đồng; Giá trị về các chính sách hỗ trợ: 872.808.000 đồng.

Ngày 14/7/2020, UBND huyện C đã ban hành Quyết định số 246/QĐ-UBND về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất đối với ông H là 53.031.920 đồng;

Ngày 14/12/2021, UBND huyện C đã ban hành Quyết định số 3280/QĐ-UBND về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ bổ sung do thu hồi đất đối với ông H là 15.000.000 đồng;

Ngày 15/3/2022 UBND huyện C đã ban hành Quyết định số 105/QĐ-UBND về việc phê duyệt kinh phí bồi thường bổ sung đối với ông H là 68.208.000 đồng;

Ngày 27/4/2022 UBND huyện C đã ban hành Quyết định số 330/QĐ-UBND về việc phê duyệt kinh phí bồi thường bổ sung do thu hồi đất đối với ông H là 144.300.000 đồng;

Như vậy, tổng số tiền ông H đã nhận là 6.675.523.692 đồng là đúng quy định.

Về mức giá bồi thường về đất:

Ông H được bồi thường theo mức giá 763.000 đồng/m² đối với toàn bộ diện tích đất trồng cây lâu năm vị trí 2; bồi thường theo mức giá 2.591.000 đồng/m² đối với diện tích đất ở nông thôn vị trí 1 bị thu hồi là phù hợp với Quyết định số 3960/QĐ-UBND ngày 05/12/2019 của UBND tỉnh Đ về phê duyệt giá đất để tính giá đất khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án thành phần đầu tư xây dựng một số đoạn đường bộ Cao tốc trên tuyến Bắc Nam phía Đông giai đoạn 2017 - 2020, đoạn qua huyện C.

Về chính sách hỗ trợ:

Mức hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với ông H trực tiếp sản xuất nông nghiệp tại huyện C được hưởng là 02 lần giá đất nông nghiệp cùng loại trong bảng giá đất của UBND tỉnh Đ đối với toàn bộ diện tích đất nông nghiệp thu hồi phù hợp với quy định tại Điều 15 Quyết định số 10/2018/QĐ-UBND ngày 22/02/2018 của UBND tỉnh Đ quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

Từ những phân tích trên thấy rằng: Việc thu hồi đất, bồi thường và hỗ trợ đất đối với người có đất bị thu hồi đã được giải quyết theo đúng quy định của pháp luật. Việc Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H là có căn cứ.

[3] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[4] Về án phí: Ông Nguyễn Văn H là người cao tuổi nên thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 241 của Luật Tố tụng hành chính;

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn H.

Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số: 69/2023/HC-ST ngày 25 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Áp dụng các Điều 66, 67, 69 của Luật Đất đai năm 2013; Nghị định số: 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai năm 2013; các Điều 19, 20, 21 Nghị định số: 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí;

Tuyên xử:

  1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H về việc yêu cầu hủy các Quyết định hành chính của UBND huyện C gồm:
    • Quyết định số: 1014/QĐ-UBND ngày 25/12/2019 của UBND huyện C về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư do thu hồi đất đối với ông Nguyễn Văn H.
    • Quyết định số: 246/QĐ-UBND ngày 14/07/2020 của UBND huyện C về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất đối với ông Nguyễn Văn H.
    • Quyết định số: 3280/QĐ-UBND ngày 14/12/2021 của UBND huyện C về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ bổ sung do thu hồi đất đối với ông Nguyễn Văn H.
    • Quyết định số: 105/QĐ-UBND ngày 15/03/2022 của UBND huyện C về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ bổ sung do thu hồi đất đối với ông Nguyễn Văn H.
    • Quyết định số: 330/QĐ-UBND ngày 27/04/2022 của UBND huyện C về việc phê duyệt kinh phí bồi thường, hỗ trợ bổ sung do thu hồi đất đối với ông Nguyễn Văn H.
  2. Về án phí: Miễn án phí hành chính sơ thẩm, phúc thẩm cho ông Nguyễn Văn H.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • Tòa án nhân dân tối cao;
  • VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • TAND tỉnh Đồng Nai;
  • VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • Cục THADS tỉnh Đồng Nai;
  • NKK;
  • NBK;
  • NCQL&NVLQ;
  • Lưu: HS, VP, 18bTNB.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Công Mười

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 301/2024/HC-PT ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

  • Số bản án: 301/2024/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: kháng cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger