Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TÂN UYÊN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 300/2023/HS-ST

Ngày 26-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Mỹ Trúc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Thảo;

Ông Nguyễn Thanh Cần.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Ái - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 328/2023/TLST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 303/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 80/2023/HSST-QĐ ngày 20/12/2023 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Hoàng C, sinh năm 1992 tại Bình Dương; nơi cư trú: Tổ F, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hoá: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc C1 và bà Nguyễn Thị L; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/6/2013 cho đến nay; có mặt.
  2. Lý Thanh N, sinh năm 1992 tại Bình Dương; nơi cư trú: Tổ C, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hoá: Lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Q và bà Nguyễn Thị Tuyết H; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/6/2013 cho đến nay; có mặt.
  3. Trần Duy P, sinh năm 1994 tại Bình Dương; nơi cư trú: Tổ F, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn L1 và bà Phạm Ngọc T; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 21/3/2017 bị Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 18 tháng, chấp hành xong ngày 30/8/2018; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/6/2013 cho đến nay; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Phạm Văn L2, sinh năm 1991; địa chỉ: Tổ C, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt
  2. Lý Thanh T1, sinh năm 1989; địa chỉ: khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Hoàng C, Trần Duy P, Lý Thanh NPhạm Văn L2 là quen biết nhau, đều là đối tượng nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là Methamphetamine.

Khoảng 16 giờ 15 phút ngày 12/5/2023, P đi bộ đến nhà C tại tổ F, khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương chơi. Đến 19 giờ 00 phút cùng ngày, N điều khiển xe mô tô biển số 61E1-083.98 chở L2 đến nhà C. Khi đến nhà C, N và L2 đi vào phòng ngủ của C chơi. Tại phòng ngủ, C, N, P ngồi nói chuyện với nhau, còn L2 năm chơi game trên điện thoại. Trong lúc nói chuyện, N hỏi C có biết chỗ nào bán ma túy mua về chơi, C đồng ý và sử dụng điện thoại hiệu NOKIA gắn sim số 0971.774.471 gọi cho đối tượng tên C2 (không rõ nhân thân) qua số điện thoại 0394.386.xxx (Là người bán ma túy cho C nhiều lần) hỏi mua ma túy với số tiền 300.000 đồng, C2 nghe máy và đồng ý. Sau khi gọi điện cho C2, C nói cho N biết, N liền dùng tài khoản ví momo chuyển số tiền 300.000 đồng cho C. Khi nhận được tiền, C sử dụng tài khoản ví momo chuyển 300.000 đồng cho C2. Sau khi chuyển tiền xong, C kêu P đi gặp C2 tại khu dân cư tự phát thuộc khu phố K, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương để lấy ma túy thì P đồng ý. Khi này, P sử dụng xe mô tô biển số 61E1-083.98 của N điều khiển đi đến địa điểm mà C đã chỉ dẫn. Khi đến điểm hẹn, P gặp C2 và nhận từ Cảnh một túi nilong miệng kéo dính có chứa chất tinh thể màu trắng, P nhận ma túy và điều khiển xe về nhà C, còn C2 đi đâu không rõ. Sau khi P lấy ma túy về thì C lấy từ phòng ngủ ra một bộ dụng cụ sử dụng ma túy đưa cho P, P lấy một ít ma túy trong phần ma túy đã mua từ đối tượng C2 bỏ vào bộ dụng cụ, số ma túy còn lại trong túi nilon miệng kéo dính P để trên nền gạch gần chỗ P, N và C đang ngồi. Sau đó, C, N, P thay phiên nhau sử dụng ma túy. Cùng thời điểm này, L2 nhìn thấy nên cùng sử dụng ma túy. C, N và P đồng ý để cho L2 cùng sử dụng ma túy. Khi P, N, C và L2 đang sử dụng ma túy thì Công an phường T phát hiện và bắt giữ.

Tại Bản kết luận giám định số 263/GĐPY ngày 18/5/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận: Mẫu tinh thể thu giữ từ Nguyễn Hoàng C, Lý Thanh N, Trần Duy P gửi đi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0899g loại Methamphetamine.

Cáo trạng số 03/CT-VKSTU ngày 22/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Nguyễn Hoàng C, Trần Duy P, Lý Thanh N về “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương bổ sung quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:
  • + Về trách nhiệm hình sự:
  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng C từ 07 (Bảy) năm đến 08 (Tám) năm tù về “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lý Thanh Nhân từ 07 (Bảy) năm đến 08 (Tám) năm tù về “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Duy P từ 07 (Bảy) năm đến 08 (Tám) năm tù về “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • + Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
  • - Một bì thư niêm phong ký hiệu 263/PC09 bên trong có chứa Methamphetamin là chất cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy
  • - Một bộ dụng cụ sử dụng ma túy nên cần tịch thu, tiêu hủy.
  • - Một điện thoại di động Redmi 9C màu đen, một điện thoại di động Iphone 6S màu trắng xám, một điện thoại di động phím bấm NOKIA model TA-1034 số IMEI1: 352885108237015 là phương tiện dùng chuyển tiền và liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước.
  • - Trả lại cho bị cáo Lý Thanh N một căn cước công dân tên Lý Thanh N.

Các bị cáo Nguyễn Hoàng C, Trần Duy PLý Thanh N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội danh, khung hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng, không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo cơ hội sửa chữa lỗi lầm để trở thành công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Quá trình điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không mâu thuẫn với lời khai của các bị cáo và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đại diện Viện kiểm sát và các bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nêu trên. Xét thấy, việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Về nội dung vụ án:

[3] Lời khai nhận tội của các bị cáo Nguyễn Hoàng C, Trần Duy PLý Thanh N tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận:

Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 12/5/2023, tại phòng ngủ của Nguyễn Hoàng C tại tổ F, khu phố K, phường T, thành phố T, các bị cáo Nguyễn Hoàng C, Lý Thanh N, Trần Duy P, Phạm Văn L2 (Tất cả đều nghiện ma túy) cùng sử dụng trái phép chất ma túy. N là người khởi xướng mua ma túy về sử dụng và chuyển số tiền 300.000 đồng từ tài khoản Momo của mình sang cho tài khoản ví Momo của C, C là người liên hệ với người bán ma túy và thanh toán tiền mua ma túy, P là người đi nhận ma túy. Sau khi nhận được ma túy về, C lấy từ phòng ngủ ra một bộ dụng cụ sử dụng ma túy đưa cho P, các bị cáo P, C và N lần lượt sử dụng ma túy tại phòng ngủ của C. Sau khi các bị cáo sử dụng xong, Phạm Văn L2 đến sử dụng ma túy và các bị cáo khác không có phản đối. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố các bị cáo Nguyễn Hoàng C, Lý Thanh N, Trần Duy P phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[2] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phạm Văn L2: Tại phiên tòa, các bị cáo C, N, P đều khai nhận L2 không khởi xướng, bàn bạc, góp tiền, góp sức vào việc mua ma túy. L2 tự sử dụng ma túy và các bị cáo đồng ý để cho L2 sử dụng. Do đó, hành vi của L2 là sử dụng trái phép chất ma túy đã bị xử phạt hành chính với số tiền 1.500.000 đồng.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương, làm ảnh hưởng đến phong trào đấu tranh phòng, chống tội phạm và bài trừ tệ nạn ma tuý tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi bị Nhà nước nghiêm cấm và có chế tài nghiêm khắc đối với hành vi này nhưng vì mục đích muốn thỏa mãn nhu cầu của bản thân, coi thường pháp luật nên đã cố ý thực hiện. Do đó, để có tác dụng giáo dục, răn đe các bị cáo ý thức tuân theo pháp luật, đồng thời, nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm chung trong xã hội, xét thấy, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét toàn diện về nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo.

[4] Về vai trò đồng phạm: Các bị cáo phạm tội đồng phạm giản đơn. Các bị cáo có vai trò đồng phạm ngang nhau.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thành thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[7] Mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa đối với các bị cáo về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

  • - Một bì thư niêm phong ký hiệu 263/PC09 bên trong có chứa Methamphetamin là chất cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hùy
  • - Một bộ dụng cụ sử dụng ma túy nên cần tịch thu, tiêu hủy.
  • - Một điện thoại di động Redmi 9C màu đen, một điện thoại di động Iphone 6S màu trắng xám, một điện thoại di động phím bấm NOKIA model TA-1034 số IMEI1: 352885108237015 là phương tiện dùng chuyển tiền và liên lạc mua ma túy nên cần tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước.
  • - Trả lại cho bị cáo Lý Thanh N một căn cước công dân tên Lý Thanh N.

[9] Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

Các bị cáo Nguyễn Hoàng C, Lý Thanh NTrần Duy P phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy";

  1. Về trách nhiệm hình sự:
    1. 1.1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự;

      Xử phạt bị cáo Lý Thanh N 07 (Bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 19/6/2023.

    2. 1.2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự;

      Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng C 07 (Bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 19/6/2023.

    3. 1.3. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự;

      Xử phạt bị cáo Trần Duy P 07 (Bảy) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 19/6/2023.

  2. 3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
    • - Tịch thu, tiêu hủy: Một bì thư niêm phong ký hiệu 263/PC09 bên trong có chứa Methamphetamin; Một bộ dụng cụ sử dụng ma túy.
    • - Tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước: Một điện thoại di động Redmi 9C màu đen, một điện thoại di động Iphone 6S màu trắng xám, một điện thoại di động phím bấm NOKIA model TA-1034 số IMEI1: 352885108237015.
    • - Trả lại cho bị cáo Lý Thanh N một căn cước công dân tên Lý Thanh N.
    • (Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương).
  3. 4. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

    Buộc các bị cáo Lý Thanh N, Nguyễn Hoàng CTrần Duy P, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  4. 5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nếu vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết công khai./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - PV06, Công an tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tp. Tân Uyên;
  • - Công an tp. Tân Uyên;
  • - Chi cục THADS tp. Tân Uyên;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VT, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Mỹ Trúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 300/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 300/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy Nguyễn Hoàng C
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger