|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 300/2023/HS-ST Ngày 26 - 12 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Thu.
Các Hội thẩm nhân dân.
Ông Lê Như Toản
Ông Trần Xuân Giới
- Thư ký phiên toà: Bà Phùng Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân TP Hạ Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tham gia phiên toà: Ông Trần Mạnh Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 263/2023/TLST - HS ngày 24 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 302/2023/QĐXXST - HS ngày 11 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Lê Văn C; sinh ngày 31 tháng 10 năm 1989, tại thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: thôn P, xã P, huyện C, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Đầu bếp; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T và bà Lê Thị H; vợ, con: chưa có; tiền sự: không có;
Tiền án: Bản án số 59/2013/HSST ngày 20/5/2013 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội xử phạt bị cáo 12 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Chưa chấp hành xong phần bồi thường dân sự trong bản án.
Nhân thân: Bản án số 18/2014/HSST ngày 24/02/2014 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội xử phạt bị cáo 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt với bản án số 59/2013, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 48 tháng tù. Ngày 28/4/206, chấp hành xong hình phạt tù. Đã chấp hành xong phần án phí của bản án này.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ từ ngày 09/9/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Q, có mặt.
- Bị hại: Chị Trương Thị T1, sinh năm 1988;
2
Nơi cư trú: tổ E, khu A, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Giáp Anh T2, sinh năm 1978; Nơi cư trú: tổ F, khu E, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
- Người làm chứng: Chị Trịnh Thị Phương C1. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Văn C là nhân viên quán cơm “Nhà Tôi” có địa chỉ tại tổ G, khu B, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh do chị Trương Thị T1 làm chủ. Ngày 03/9/2023, chị T1 đưa con về quê ở huyện Ý, tỉnh Nam Định chơi, nên dặn C và cháu Nguyễn Đình Q (cũng là nhân viên làm tại quán cơm của chị T1) chủ động công việc. Do không có tiền chi tiêu nên lợi dụng sơ hở lúc chị T1 đi vắng, C đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. C biết phòng ngủ của chị T1 không khóa cửa nên đi vào và thấy giấy đăng ký xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 18D1 – 219.88 để trên mặt bàn gần cửa ra vào, đồng thời chiếc xe này đang dựng ở ngoài sân trước cửa quán. C đã lấy giấy đăng ký xe cho vào túi quần bên phải. Khoảng 20 giờ cùng ngày, C lấy chìa khóa của xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, biển kiểm soát (BKS) 18D1 – 219.88 tại quầy thanh toán. C bảo với cháu Q ở nhà trông quán rồi điều khiển xe mô tô trên đến cửa hàng xe máy “Minh Tuấn” của anh Giáp Anh T2 – tại tổ F, khu E, phường C, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh bán chiếc xe cho anh T2 được số tiền 7.000.000 đồng. C đề nghị anh T2 giữ lại chiếc xe trong thời hạn 15 ngày để C mua lại. Anh T2 đồng ý và giữ lại số tiền 700.000 đồng để đặt cọc giữ xe. Anh T2 trả cho C số tiền 6.300.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, C đã chi tiêu cá nhân hết. Ngày 07/9/2023, chị Trương Thị T1 đã trình báo cơ quan Công an về việc C đã lấy trộm chiếc xe. Cùng ngày, C đến Công an thành phố H đầu thú và khai toàn bộ quá trình phạm tội của mình.
Tại Kết luận định giá tài sản số 171/KLĐGTS ngày 08/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản thành phố H, kết luận: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu sơn xanh, vàng, BKS 18D1 – 219.88, mua mới tháng 02/2014, tại thời điểm tháng 9 năm 2023 là 7.875.000 đồng.
Quá trình điều tra, anh Giáp Anh T2 đã tự nguyện giao nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, BKS 18D1 – 219.88 và bản chính giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 019425 đề tên chủ xe Trương Thị T1. Cơ quan điều tra đã trả lại những tài sản này cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Trương Thị T1.
Bản Cáo trạng số 270/CT-VKSHL ngày 23/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, đã truy tố bị cáo Lê Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
3
Tại phiên tòa, Đại diện viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
+Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/9/2023; không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo;
+ Về trách nhiệm dân sự: bị hại chị Trương Thị T1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì khác nên không đề nghị xem xét; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Giáp Anh T2 yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền 6.300.000 đồng có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
+ Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định.
Lời khai tại cơ quan điều tra và trong Đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị hại chị Trương Thị T1 trình bày: ngày 03/9/2023, chị có việc gia đình phải về quê tại huyện Ý, tỉnh Nam Định. Chị có nói với bị cáo Lê Văn C và cháu họ chị là Nguyễn Đình Q chủ động trông coi quán cơm “Nhà tôi” do chị làm chủ. Đến khoảng 22 giờ 40 phút cùng ngày, chị kiểm tra camera từ điện thoại của chị không thấy chiếc xe 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu sơn xanh, vàng, BKS 18D1 – 219.88 do chị sở hữu đâu, chị có nhắn tin hỏi cháu Q nhưng không liên lạc được. Khoảng 8 giờ ngày 04/9/2023, chị gọi lại cháu Q thì Q cho biết C đã lấy xe đi ra ngoài từ khoảng 20 giờ ngày 03/9/2023 và đến nay chưa về lại quán. Chị T1 về quê ra vào khoảng 14 giờ ngày 04/9/2023 thì phát hiện bị mất giấy đăng ký xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu sơn xanh, vàng, BKS 18D1 – 219.88. Cùng ngày, C đã chủ động liên lạc và thừa nhận đã lấy giấy tờ xe và chìa khóa, điều khiển xe mang đi cầm cố lấy tiền tiêu xài. Chị có yêu cầu C trả xe nhưng sau đó không liên lạc được với C nên chị đã trình báo cơ quan Công an. Hiện nay, chị T1 đã được trả lại chiếc xe, gia đình chị cũng không bị mất tài sản gì khác nên chị không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm và đề nghị áp dụng hình phạt cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Giáp Anh T2 có lời khai tại quá trình điều tra cơ bản phù hợp với lời khai của bị cáo về việc bị cáo Lê Văn C có bán cho anh 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu sơn xanh, vàng, BKS 18D1 – 219.88 với giá 7.000.000 đồng. Bị cáo đề nghị anh giữ lại xe 15 ngày để bị cáo mua lại nên anh đồng ý và trả cho bị cáo 6.300.000 đồng, giữ số tiền 700.000 đồng để đặt cọc. Khi mua, anh không biết đây là tài sản bị cáo trộm cắp mà có, bị cáo nói dối chiếc xe đứng tên vợ của bị cáo. Anh T2 đã tự nguyện giao nộp lại chiếc xe và giấy đăng ký của xe mô tô cho cơ quan điều tra để trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp. Đối với số tiền 6.300.000 đồng, bị cáo đã tại thời điểm mua bán xe, anh đề nghị bị cáo phải trả lại cho anh. Ngoài ra, anh không còn yêu cầu gì khác.
4
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn C khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. C khai không bàn bạc với ai về việc trộm cắp tài sản. Khi mang tài sản trộm cắp được đi bán cho anh T2, C nói dối đó là tài sản của chị T1 là vợ C. Anh T2 không biết đó là tài sản do C trộm cắp mà có. Anh T2 yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền 6.300.000 đồng, bị cáo đã nhận tại thời điểm bán xe, bị cáo đồng ý và không có ý kiến gì.
Bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, công nhận quyết định truy tố của Viện kiểm sát là đúng người, đúng tội.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có quan điểm tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt, bị cáo hứa quyết tâm sửa chữa, tu dưỡng bản thân làm một người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
Bị hại Trương Thị T1 vắng mặt tại phiên toà nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị T1 đã được nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác đối với bị cáo nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt là có căn cứ.
[2] Về hành vi phạm tội: lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, Biên bản khám nghiệm hiện trường, các Bản ảnh, các Biên bản nhận dạng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, công bố công khai tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ của vụ án, Hội đồng xét xử đủ căn cứ để xác định: khoảng 20 giờ ngày 03/9/2023, Lê Văn C đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu sơn xanh, vàng, BKS 18D1 – 219.88 trị giá 7.875.000 đồng (bằng chữ: bảy triệu tám trăm bảy mươi lăm nghìn đồng), tại quán cơm “Nhà tôi” thuộc tổ G, khu B, phường H, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh mang đi bán cho cửa hàng xe máy Minh T3 tại tổ F, khu E, phường C, thành phố H để lấy tiền chi tiêu cá nhân.
5
Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, cố ý thực hiện tội phạm, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như Đại diện Viện kiểm sát kết luận tại phiên tòa là có căn cứ.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người trưởng thành, nhưng do ham chơi, lười lao động nên không chịu tu dưỡng bản thân làm người công dân có ích cho xã hội mà sa vào con đường phạm tội. Do vậy, cần phải có mức hình phạt tương xứng mới có đủ tác dụng cải tạo, giáo dục và đấu tranh phòng ngừa chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bản án số 59/2013/HSST ngày 20/5/2013 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội xử phạt bị cáo 12 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo chưa chấp hành xong phần bồi thường dân sự trong bản án, chưa được xóa án tích nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự
Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và bị cáo đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bản án số 18/2014/HSST ngày 24/02/2014 của Tòa án nhân dân huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội xử phạt bị cáo 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, cho thấy bị cáo là người có nhân thân xấu.
[4] Về hình phạt chính: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo. Mức hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không xác định được bị cáo có tài sản riêng, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu sơn xanh, vàng, BKS 18D1 – 219.88 được cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu, chị Trương Thị T1 không có yêu cầu gì nên không xem xét.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Giáp Anh T2 yêu cầu bị cáo phải trả lại anh số tiền 6.300.000 đồng, anh đã thanh toán cho bị cáo tại thời điểm bán xe, xét anh T2 không biết chiếc xe là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên buộc bị cáo phải có nghĩa vụ trả lại anh T2 số tiền bị cáo đã nhận là có
6
căn cứ.
[7] Về xử lý tài sản, vật chứng trong vụ án: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, màu sơn xanh, vàng, BKS 18D1 – 219.88 được cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu nên không xem xét; 02 Giấy mua bán xe cơ quan điều tra thu thập là tài liệu liên quan đến tội phạm đã được lưu trong hồ sơ vụ án nên không đề cập xử lý.
[8] Xét đề nghị của Kiểm sát viên, chứng cứ buộc tội, khung hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và về mức hình phạt đối với bị cáo: Hội đồng xét xử thấy có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên chấp nhận.
[9] Các vấn đề khác liên quan đến vụ án: đối với anh Giáp Anh T2 mua xe mô tô của bị cáo có đầy đủ giấy tờ đăng ký xe, bị cáo không nói đó là tài sản do trộm cắp mà có nên không đề cập xử lý; Việc bị cáo khai nhận có hành vi mượn xe mô tô của các anh Nguyễn Thế A, Nguyễn Kim H1, Công an quận N và Công an quận H, thành phố Hà Nội đã tiếp nhận, giải quyết nguồn tin về tội phạm nên không đề cập xử lý.
[10] Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Lê Văn C 12 (mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 09/9/2023.
- Về trách nhiệm dân sự: căn cứ khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 408, Điều 584, 585, Điều 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015 buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Giáp A1 T2 số tiền 6.300.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải trả lãi đối với số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian thi hành án, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
7
Buộc bị cáo Lê Văn C phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 315.000₫ (ba trăm mười lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: căn cứ khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thu |
8
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Lê Như Toản – Trần Xuân Giới |
Lê Thị Thu |
Bản án số 300/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự sơ thẩm (tội trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 300/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: C trộm cắp tài sản
